Hôm nay,  

Pháp Và Những Giải Nobel

10/22/201400:00:00(View: 4634)

Nước Pháp năm nay không bết lắm về thể diện. Dân Pháp không thất vọng lắm. Giới ưu tú Pháp có thể cầm ly rượu và ưởng cao ngực. Trước đây hai tháng, giải thưởng Fields, một thứ Nobel của Toán học, cấp cho nhà toán học trẻ 35 tuổi, Artur Avila, gốc Ba-tây (Franco-Brésilien). Ông lấy Tiến sĩ Toán ở Rio de Janeiro, qua Paris học hậu tiến sĩ ở Collège de France, làm nghiên cứu, rồi Giám đốc nghiên cứu về Toán ở Đại học Jussieu. Bốn ngày sau, gìải thưởng Nobel Văn chương cấp cho tiểu thuyết gia Patrick Modiano, 69 tuổi. Giờ đây, giải Nobel Kinh tế về tay Giáo sư Kinh tề người Pháp, Ông Jean Tirole ở Toulouse.

Nobel năm nay, 2014, cấp cho 2 người Pháp, 2 nữ Pakistan và Ấn độ, 2 Nhựt bổn, 3 Huê kỳ, 1 Mỹ-Anh và 1 cặp vợ chồng người Na-uy. Mỗi giải là 873 000 euros, chia nhau cho giải tập thể. Giải thưởng sẽ chánh thức cấp phát ngày 10 tháng 12/2014 tại Stockholm. Rìêng Giải nobel Hòa bình, lễ cấp phát sẽ tổ chức tại Oslo, Thủ đô nước Na-uy.

Đặc thù tây (Exception française)

Trước giờ Pháp thường nhận Nobel Văn chương và Khoa học, ít khi được Nobel Kinh tế. Phải chăng vì vậy mà Alexis Tocqueville viết "Người Pháp không có cái đầu kinh tế mà có nhiều cái đầu chánh trị ".

Mà đúng thôi ! Từ mấy năm nay, kinh tề pháp tuột dốc. Mức phát triển ở 0, thất ngiệp gia tăng mỗi ngày, mà Chánh phủ thì lớn tiếng trấn an dân chúng với những lời giải thích lý do tại sao kinh tế không khá, đổ lỗi cho các Chánh phủ trước, hứa hẹn nữa,... Dân chúng bất mãn yêu cầu Ông Tổng thống Hollande từ chức.

Trước Ông Jean Tirole, Pháp có 2 người được giải Nobel Kinh tế là Ông Gérard Debreu, năm 1983 và Ông Maurice Allias, năm 1988. trong lúc đó Mỹ được 43 giải Nobel Kinh tế bằng số thắng giải quán quân bóng rổ.

Ngày 13 tháng 10/2014, Giáo sư Jean Tirole được Vìện Hàn lâm Thụy điển cấp Giải thưởng Nobel Kinh tế. Thật trớ trêu là trong lúc tình hình kinh tế nước Pháp đang suy trầm nghiêm trọng. Nước Pháp là " Con bịnh của Âu châu " ! Một kinh tế gia Pháp được Giải thưởng Nobel Kinh tế đúng vào lúc Pháp không thể tiến hành cải cách kinh tề, ổn định công nợ, phục hồi sức cạnh tranh và giảm số người thất nghiệp....Tình hình suy thoái của Pháp không khỏi làm cho những đối tác lo ngại. Khi công bố Giải Nobel Kinh tế cho một người Pháp trong tình hình như vậy, Viện Hàn lâm Khoa học Thụy điển có ý ngầm châm biếm hay khiêu khích để cho Pháp phải cố gắng tìm giải pháp chắm dứt tình trạng tồi tệ này?

Phật nhà không linh

Cho tới hôm 13/10 được tin Giải Nobel, Ông Jean Tirole là ai ? Có tới 99% dân Pháp không biết. Có thể cả đa số nhơn viên Chánh phủ Hollande cũng không biết. Họ hoàn toàn không biết gì về Ông Jean Tirole, 61 tuổi, tốt nghiệp Trường Bách Khoa (Polytechnique thường được gọi Trường X), tốt nghiệp kỷ sư Cầu Đường (Ecole des Ponts et Chaussées, Paris), Chủ tịch Trường Kinh tế Toulouse (Toulouse School of Economics – TSE) và Giáo sư giảng dạy tại một Trường nổi tiếng thế giới là MIT ở Boston, Huê kỳ. Người ta không biết ông vì ông khác hơn những nhà kinh tế khác. Ông không lên TV, Radio, báo chí, mà chỉ làm việc trong văn phòng, đặt những câu hỏi, những phương trình toán học để thảo luận với đồng nghiệp. Bản tánh ông rụt rè, quá khiêm tốn. Khi được tin Hàn Lâm Viện Thụy điển quyết định trao Giải thưởng cho ông, ông phản ứng cũng rất khiêm tốn: «Cảm ơn nhiều lắm. Tôi rất vinh hạnh. Sự chọn lựa này làm cho tôi hơi ngại. Là điều làm cho tôi xúc động mạnh. Tôi đã không dám nghĩ công trình nghìên cứu của tôi được thưởng».

Ông Jean Tirole trước giờ không muốn việc làm của ông liên hệ tới phe phái chánh trị ở Pháp dù Tả hay Hữu vì trong những buổi thảo luận hăn say về kinh tế, chánh trị, người ta tranh nhau trên tinh thần phe cánh theo ý thức hệ hơn là biết trọng giá trị kiến thức, quan tâm mỵ dân hơn là sự thật trong sáng. Gìáo sư Tirole không Tả, không Hữu. Ông thực tiển và hành động. Ông theo dõi hướng đi và cách vận hành của kinh tế thị trường, tại sao thỉnh thoảng nó lại bị khựng và làm thế nào nó sẽ vận hành tốt hơn. Theo ông, liên hệ tới chánh trị sẽ làm mất đi tinh thần độc lập của khoa học khi phải suy nghĩ và phán xét.

Người Pháp không có mấy người bìết ông trong lúc đó ông đã nổi tiếng trong giới kinh tế gia thế giới. Cho tới nay, Ông Jean Tirole đã nhận được 37 Giải thưởng cho công trình nghiên cứu của ông, không kể Giải Nobel mà ông chờ sẽ lảnh vào ngày 10 tháng 12 tới đây.

Trường Kinh tế Toulouse do Ông Jean Tirole thành lập năm 2007. Ông muốn nó sẽ trở thành một trong 10 trường kinh tế nổi tiếng nhứt thế giới. Đây là một mẫu trường toàn cầu hóa, một thứ trường không biên giới.

Trong 2000 sinh viên, có 700 sinh viên ngoại quốc của 80 quốc gia khác nhau. Và trong số 12 Gìảng sư ( Maitre de Conférence) có 11 người là ngoại quốc: Mỹ, Ba-tây, Tàu, Nhựt, Đại hàn (Nam Hàn), Ai-cặp, Tân- tây-lan, …

Ông Jean Tirole đau buồn mà nhìn thấy nước Pháp, về mặt kinh tế, quá thờ ơ với khối nhân lực, tức không biết hay không cần khai thác cái vốn sẳn có đó. Phần khá lớn những người trẻ học xong đi ra ngoại quốc tìm việc làm. Cách nay vài tuần, Quỉ Tiền tệ Thế giới thiết lập một danh sách 25 nhà kinh tế dưới 45 tuổi, tài ba của thế giới ngày nay, trong đó có 7 người Pháp, mà 6 người hiện làm việc ở Mỹ. Lý do đi, theo Giáo sư Tirole, để được đối đải xứng đáng và điều kiện làm việc tốt.


Theo ký giả kinh tế Pierre-Antoine Delhommais ( Tuần báo Le Point, 16/10/2014), Giáo sư Jean Tirole là nhà kinh tế người Pháp, làm việc tại Pháp, nổi tiếng khắp thế giới, mà Chánh giới Pháp không thèm biết tới.

Đúng là Phật nhà không linh !

Chữ nghĩa thánh hiền

Từ Giải Nobel đầu tiên năm 1901 cấp phát cho Sully Prudhmme, Pháp vẫn chiếm ngôi vị quán quân về Nobel Văn chương. Với nhà văn Patrick Modiano, Pháp giựt được tất cả 15 Nobel Văn chương trong số 111 giải đã cấp phát cho tới nay. Tỷ lệ 13, 5%. Mỹ được 12 Nobel Văn chương, Anh, 10, Đức và Thụy điển, mỗi nước được 8 giải.

Trong số 111 Nobel Văn chương, có 16 nhà văn viết tìếng pháp. Trong 15 người Pháp được Nobel Văn chương, có nhà văn Frédéric Mistral (Nobel năm 1904) viết bằng tiếng Oc (Langue d Oc ở Miền nam Pháp), Samuel Beckett viết vừa tiếng pháp vừa tiếng anh.

Nhà văn Nobel viết tiếng anh vẫn đông hơn người viết tiếng pháp. thế là tiếng Anh lại qua mặt tiếng Pháp. Năm 1964, Jean-Paul Sartre, Triết gia «Buồn nôn», đã dứt khoát từ khước Giải Nobel cấp phát cho ông vì ông cho rằng «không có ai xứng đáng được vinh hạnh hóa lúc còn sanh tiền cả».

Nhưng dấu sao đi nữa, 15 giải Nobel Văn chương cũng đủ khẳng định Pháp đã thật sự đóng góp phần quan trọng của mình vào nền văn học thế giới.

Ông Patrick Modiano có hơn 30 tác phẩm vưa tiểu thuyết, vừa truyện phim. Trước khi được Giải Nobel, ông đã nhận được Giải thưởng của Hàn Lâm viện Văn chương Pháp.

Về đời tư, Ông Patrick Modiano lúc trẻ bất hạnh và cô đơn. Cha mẹ không sống chung nên ông và em trai sống chung với nhau nhưng đều xa cả cha lẫn mẹ. Một cơn bạo bịnh đã cướp mất đi người em trai lúc mười tuổi. Suốt thời gian dài, ông được gởi ở trọ đi học và nội trú. Sau Tú Tài, ông ghi tên vào Trường Trung học Henri IV ở Paris V để học Dự Bị (Hypokhane - Dự Bị Văn chương) thi tuyển vào Trưòng Cao Đẳng Su phạm đường Ulm nơi đào tạo những nhơn tài văn hóa và chánh trị của nước Pháp. Nhưng ông lại bỏ dở. Sau cùng, ông ghi tên ban Triết ở Sorbonne nhưng ông cũng chẳng màng tới một buổi học nào cả.

Một hôm, mẹ của ông đi xa trở về, cần tiền nên nhờ ông tới can thiệp với cha trong lúc cha của ông có vợ khác. Bà dì ghẻ biết được tìm cách tố cáo với cảnh sát và ông bị bắt. Cha của ông chẳng những không can thiệp mà còn chửi ông là thứ « du đảng ». Từ đó, ông không gặp lại người cha nữa.

Thời gian ông ghi tên học Triết ở Sorbonne cũng là lúc ông la cà các quán cà-phê khu La-tinh nơi tụ tập nhà văn, nhà báo của Paris.

Tháng 5/68, do tả phái xách động, sinh viên xuống đường rầm rộ biến thành một phong trào làm tê liệt nước Pháp suốt hơn cả tháng và xóa bỏ những giá trị luân lý đạo đức truyền thống của Pháp. Ông Patrick Modiano có mặt trong phong trào biểu tình.

Và cũng năm này, ông hoàn thành quyển tiểu thuyết đầu tay. Bản thảo được nhà văn Raymond Queneau duyệt qua giúp ông. Ông Queneau hết lòng nâng đở ông với nhà xuất bản có tiếng như Galimard và hướng dẩn ông trong việc sáng tác.

Sau vài quyển đầu tay thành công, từ đó, ông hăn say viết và sống vững vàng với nghê cầm bút.

Năm 1972, ông viết quyển tiểu thuyết thứ ba «Những Đại lộ vòng đai» (Les Boulevards de ceinture) được Giải thưởng của Hàn Lâm viện Văn chương Pháp. Từ nay, ông chiếm địa vị ở chiếu trên của giới nhà văn Pháp.

Truyện của ông là những hoài niệm về quá khứ, những giấc mơ hạnh phúc không có được, sự thiếu vắng người cha.

Năm 1970 ông kết hôn với cô Dominique Zehrfuss, con gái Kiến trúc sư danh tiếng Bernard Zehrfuss, tác giả cơ sở mới CNIT tại La Défense, một Paris nhỏ. Đám cưới của ông có hai nhà văn Raymond Queneau và François Mauriac (Nobel, Bộ Trưởng Văn Hóa) làm nhơn chứng.

Ông Patrick Modiano giải thích tại sao ông chọn viết tiểu thuyết: «Trong những năm 1960, những người thuộc thế hệ ông muốn viết nhưng không thích tiểu thuyết, hay văn chương. Phần lớn, họ muốn làm đệ tử của Barthes hay Foucault hay Althusser. Riêng ông, ông đã có một cái nhìn về tiểu thuyết, do đó ông đứng một bên các lý thuyết. Ông vẫn xem các vị đó là bực thầy nhưng ông không dám chạy theo tư tưởng của họ.

Điều ông thích khi viết văn là ước mơ. Nhưng ước mơ trước khi viết vì khi viết thì ước mơ không còn nữa. Nhiều khi ông tự hỏi, các nhà văn khác họ viết như thế nào? Như Flaubert đã viết đi, viết lại, cuối cùng bản thảo đầu tiên không còn gì cả trong quyển sách ra đời? Nghĩ tới điều đó làm ông sợ hãi …

Thật cảm động khi có được độc giả. Thật kỳ diệu, chúng ta có cảm tưởng như giao cảm với nhau. Ở mỗi quyển sách đều có cảm giác này. Khi quyển sách nằm trong tay độc giả thì nó không còn của người viết mà là của người đọc».

Patrick Modiano sống tuổi thơ vô cùng bất hạnh. Cha mẹ chia ly, ông sống trong thiếu thốn mọi thứ, vật chất và nhứt là tình thương gia đình. Việc học lên cao, ông bỏ dở mặc dầu ông có thể thành công. Ông không trở thành «du đảng» như cha của ông mắng ông mà trở thành nhà văn ở độ tuổi đôi mươi. Nhờ vừa đam mê văn chương, vừa phải mưu sinh.

Ông Patrick Modiano là biểu tượng của tuổi trẻ có ước mơ. Tuổi trẻ không có ước mơ thì chỉ là “cụ già tóc xanh”!

Muốn đất nước thoát nhục, tuổi trẻ phải “Dám muốn, dám biết và dám làm”! Tức “Ước mơ và Hành động.”!

Nguyễn Thị Cỏ May

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.