Hôm nay,  

Sự Lợi Hại Của Lòng Hận Thù

9/3/201400:00:00(View: 4509)

Trong cuộc đời, có những điều tốt và cần thiết cho việc này, nhưng lại không tốt hoặc có hại cho việc khác, hoặc tốt cho lúc này nhưng không còn tốt vào lúc khác. Chẳng hạn, khi quả trứng còn là trứng thì cái vỏ trứng là vật tối cần thiết và rất ích lợi để bảo vệ sinh mạng quả trứng; nhưng khi quả trứng đã hình thành được con gà bên trong thì cái vỏ trứng lại trở thành vật cản trở, con gà phải phá vỡ vỏ trứng để thoát ra mới sống được. Nếu không phá vỡ được vỏ trứng, con gà sẽ chết ngộp trong đó. Lúc đó, vỏ trứng không còn bảo vệ sự sống con gà như trước mà còn có thể giết chết con gà vừa mới thành hình bên trong. Sự thay đổi tương quan đó không phải do vỏ trứng đã thay đổi mà do ruột quả trứng thay đổi. Vỏ trứng vẫn là vỏ trứng, nhưng ruột quả trứng đã nở thành con gà.

Tương quan hay giá trị của một vật đối với đối với một vật khác có thể thay đổi khi cả hai hay ít nhất một trong hai thay đổi. Chẳng hạn khi ta đói, những chén cơm đầu tiên rất cần thiết để duy trì mạng sống cũng như sức khỏe của ta. Nhưng khi ta ăn đã no (tức chính ta thay đổi), những chén cơm còn lại (vẫn y hệt những chén cơm ta đã ăn) không còn cần thiết nữa. Nếu ta bị ai đó ép buộc phải ăn cho hết những chén cơm còn lại, thì chúng chẳng những không cần thiết, không ích lợi, mà còn có hại cho sức khỏe ta nữa. Như vậy, những chén cơm không hề thay đổi, nhưng sự cần thiết hay giá trị của chúng đối với ta đã thay đổi sau khi ta ăn no. Cũng tương tự như vậy trong lãnh vực kinh tế: các hàng hóa sẽ bị hạ giá nếu số cung cao hơn số cầu, và sẽ tăng giá khi số cầu lớn hơn số cung.

Trong cuộc đấu tranh xây dựng một thể chế tự do dân chủ cho Việt Nam, việc tiên quyết và cần thiết phải làm là làm sao lật đổ được chế độ độc tài, đảng trị, vừa gian trá vừa tham tàn đang hiện hành. Như vậy là có hai giai đoạn khác nhau: trước hết là lật đổ chế độ cộng sản, và sau đó là xây dựng lại đất nước. Nhưng cũng như vai trò của cái vỏ trứng vừa kể, có những điều tốt và có thể cần thiết cho việc lật đổ chế độ cộng sản, nhưng có thể không tốt thậm chí có hại cho việc xây dựng một đất nước tự do dân chủ. Chẳng hạn, lòng thù hận chế độ cộng sản cũng như lòng căm thù những con người phục vụ cho chế độ cộng sản là một động lực rất tốt thúc đẩy người dân đứng lên lật đổ chế độ bạo tàn hiện tại. Nhưng nó sẽ không còn cần thiết, cũng không còn ích lợi, mà còn có thể có hại cho việc xây dựng đất nước hậu cộng sản.

Mục đích của việc lật đổ chế độ cộng sản là để sau đó xây dựng một thể chế dân chủ pháp trị, hầu làm cho nhân dân được hạnh phúc và đất nước được cường thịnh, chứ không phải chỉ là để thỏa mãn sự căm ghét hay thù hận cái chế độ đã làm cho mình, gia đình mình và cả đất nước phải điêu linh khổ sở. Việc lật đổ chế độ cộng sản tuy rất cần thiết cho giai đoạn xây dựng đất nước, nhưng nó chỉ là phương tiện mang tính tạm thời. Nếu hy sinh xương máu và mọi thứ khác hầu lật cho được chế độ độc tài cộng sản để rồi chế độ hình thành sau đó lại là một chế độ độc tài khác thì sự hy sinh đó quả là uổng công vô ích.

Sau khi chế độ cộng sản đã bị lật đổ thì giai đoạn kế tiếp là xây dựng một thể chế tự do dân chủ pháp trị. Trong số những người dân sống dưới chế độ mới có những người cộng sản, những công an, những bộ đội, những cán bộ cộng sản đã từng phục vụ cho chế độ độc tài, trong đó có cả những người “tay đã nhúng chàm”, đã từng đàn áp người dân, đã từng gây tội ác đối với nhân dân. Nhiều người đang là đối tượng sự thù hận của chúng ta hiện nay. Chính quyền của chế độ tự do dân chủ mới phải có một cách xử lý thật khôn khéo để thỏa mãn được sự đòi buộc của công lý là kẻ gây tội ác phải đền tội, mà không biến những người này trở thành những kẻ thù của chế độ mới, gây mất đoàn kết quốc gia, đồng thời cũng phải bảo đảm được những cựu đảng viên cộng sản không làm gì hại cho chế độ mới. Sự dung hòa giữa những đòi buộc trái ngược nhau ấy không phải dễ. Tùy từng trường hợp cá biệt mà sự khôn ngoan sẽ giúp ta phải xử trí cách nào, không nên tiên thiên chủ trương một phương cách cố định nào. Tuy nhiên, đa số trường hợp cho thấy sự tha thứ đạt được nhiều kết quả tốt đẹp hơn sự trả thù. Chúng ta không thể bắt chước cộng sản là tạo nên những trại tù mang danh “trại cải tạo” để bỏ tù và hành hạ dã man những người đã phục vụ chế độ cũ.

Trong lịch sử thế giới đã có nhiều trường hợp những người lãnh đạo chính quyền đã xử sự rất khéo đối với những kẻ có tội.

- Nhiều vị vua nước ta sau khi đại thắng giặc Tàu xâm lược đã trả tự do cho các tù binh Tàu để họ về nước sinh sống, chỉ trừ Lý Thường Kiệt là không nhân nhượng như thế.

- Tại Hoa Kỳ, sau khi chiến thắng trong cuộc nội chiến Nam Bắc (1861–1865), Tổng thống Abraham Lincohn cũng tha tội cho các binh sĩ thuộc Liên minh miền Nam đã từng chống lại Liên minh miền Bắc và cuộc giải phóng nô lệ của ông. Nhờ vậy, tình đoàn kết quốc gia không bị sứt mẻ.

- Nhiều kẻ đáng tội chết nhưng được tha thứ nên đã “đái công chuộc tội” hay đền ơn kẻ đã tha thứ cho mình [1].

Do đó, trong chế độ dân chủ hậu cộng sản, đối với những người đã phục vụ chế độ độc tài cộng sản, thiết tưởng nên cho họ cơ hội “đái công chuộc tội”, biến họ thành những người tích cực cộng tác với chế độ mới trong việc xây dựng đất nước. Dù họ đã phạm nhiều tội ác, nhưng xét cho cùng, họ cũng chỉ là nạn nhân của chế độ cộng sản và của bộ máy tha hóa của chế độ. Hãy tự hỏi: Nếu chính ta ở trong trường hợp và hoàn cảnh của họ, ta sẽ hành xử khác họ hay giống họ?

Còn trong giai đoạn phải lật đổ chế độ cộng sản, tại hải ngoại, chúng ta cần xây dựng các cộng đồng Người Việt Quốc gia vững mạnh. Để làm tốt công việc này, chúng ta cần làm chủ những tình cảm hận thù để chúng chỉ có lợi chứ không gây hại.

Hận thù, căm ghét, giận hờn, bực bội là hình thái tình cảm, thường rất có lợi cho việc đập phá, nhưng hầu như không thích hợp cho việc xây dựng. Việc đập phá nhiều khi rất cần thiết để chuẩn bị hay dọn đường cho việc xây dựng. Do đó, nó cần được lý trí sáng suốt soi dẫn để hướng nhu cầu đập phá ấy vào những đối tượng cần đập phá. Đối tượng cần đập phá nhất hiện nay là chế độ độc tài CSVN... Chúng ta đừng để cho những tình cảm tiêu cực ấy hướng về những đối tượng khác, nhất là đừng bao giờ hướng về những người đang thật sự đấu tranh chống cộng để xây dựng một thể chế tự do dân chủ chỉ vì những hiểu lầm hay do đố kị hoặc tư thù.

Theo các nhà tâm lý học, do không được thỏa mãn, những tình cảm bị dồn nén (repressed) sẽ chuyển di (transfer) sang một đối tượng khác. Khi cơn giận của ta không trút được lên đầu chính kẻ đã làm ta giận, thì ta có nhu cầu trút cơn giận đó lên đầu những người những người thân thuộc hay bạn bè của kẻ ấy, có khi trút cả lên người thân hay cấp dưới của chính ta, mặc dù những người này hoàn toàn vô tội. Đó là trường hợp “giận cá chém thớt”, một hiện tượng chuyển di theo tâm lý học. Nhiều người quá tức giận mà không có ai ở đó để trút giận thì la hét và đấm bùm bụp vào tường hay vào một vật nào đó. Hay như cậu bé Trần Quốc Toản xưa, khi nghe lén các bô lão nói về sự tàn ác của quân Nguyên, bèn trút sự tức giận vào trái cam đang cầm trong tay. Đó là một hình thức giải tỏa cơn giận hay lòng hận thù. Điều này rất tự nhiên.

Nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Aziz Nesin đã mô tả một cách dí dỏm hiện tượng chuyển di tâm lý này qua câu chuyện “Tại sao mèo chạy cụp đuôi?” [2]. Ông kể một vị bộ trưởng bị báo chí công kích thậm tệ nhưng không biết làm sao trả thù, ông bèn trút giận lên ông phụ tá, nhờ đó ông nguôi giận. Ông phụ tá bị la mắng bất công, tức lộn ruột, nhưng không thể la mắng ngược lại, đành trút giận cho đỡ tức lên viên chánh văn phòng. Ông này bèn trút giận lên viên thanh tra. Viên thanh tra lại trút giận lên ông trưởng phòng. Trưởng phòng bèn trút giận lên phó phòng, Phó phòng lại trút lên trưởng ban, trưởng ban trút lên anh phụ trách lục sự; anh này đổ giận lên anh tạp vụ là người thấp nhất trong cơ quan. Anh tạp vụ tức quá không biết giải quyết cơn giận vào đâu. Khi lên xe điện để về nhà, anh bèn gây sự với người bán vé. Người bán vé đành ôm cơn giận về nhà trút lên đầu người vợ đang vui vẻ làm bếp để đón chồng về. Người chồng sau khi vô cớ quát mắng bà vợ một trận thì cảm thấy dễ chịu bèn vui vẻ ngồi xuống ăn cơm. Kể tới đây, tác giả viết tiếp: “Chị vợ tủi thân, tức tưởi khóc. Còn con mèo thì cứ vô tư quẩn quanh dưới chân chị. Bực mình, chị quất hai cái thật mạnh vào lưng chú mèo. Bị đau quá, chú mèo kêu to một tiếng thảm thiết rồi phốc ra đường, cụp đuôi chạy.” Cơn giận được giải tỏa, chị bèn “ép sát người vào chồng. Tình yêu ngọt ngào nhất đến sau những giọt nước mắt. Hai vợ chồng đều đã bình tâm lại…” Đấy, chuyển di tình cảm là chuyện thường tình và cũng là nhu cầu tự nhiên nơi con người, nhất là những người để tình cảm lấn lướt lý trí.

Hiện nay, những người tị nạn cộng sản tại hải ngoại mặc dù đã bỏ nước ra đi có khi cả ba bốn chục năm, nhưng những thảm cảnh do cộng sản gây ra cho mình, cho gia đình mình quá lớn, khiến mỗi lần có dịp nhớ lại, những thảm cảnh đó như sống lại trước mắt, trở nên hiện thực như vừa mới xảy ra. Nhất là khi nghe tin tức về việc công an CSVN đàn áp các nhà đấu tranh dân chủ hoặc cướp đất dân oan, hoặc đánh chết dân vì những chuyện không đâu, thì nỗi đau kia lại trở nên rất mới, và lòng căm thù cộng sản lại trỗi dậy mãnh liệt. Nhưng ở hải ngoại, không có cộng sản ở ngay trước mặt để đánh đập, sỉ vả cho hả giận. Nhiều khi phải trút giận qua những bài viết trên mạng, qua những phát biểu trên các diễn đàn. Những người đọc những bài viết ấy, hay nghe những phát biểu kia cũng sinh tức giận cộng sản. Tất cả những tức giận ấy đều có nhu cầu được giải tỏa. Giải tỏa theo những cách kể trên rất có lợi cho việc đấu tranh. Tuy nhiên, nếu không có điều kiện để giải tỏa thì nó sẽ chuyển di cách nào đó, vào một đối tượng nào đó.

Hiện nay, ai cũng biết rằng cộng sản đã đưa người của chúng ra hải ngoại này rất nhiều, nhưng chúng không dám xuất đầu lộ diện. Trong quá khứ, những khi có ai trong bọn chúng xuất đầu lộ diện thì đều bị người Việt tị nạn phản ứng rất mạnh, tẩy chay, không làm ăn gì được. Chẳng hạn mới đây Đài Việt Star 28.4 ở San Jose chỉ vì một mục phát hình có lợi cho cộng sản mà bị cộng đồng người Việt tại đó tẩy chay đến nỗi phải tạm ngưng hoạt động [3]. Biết rằng có nhiều tên cộng sản nằm vùng ở hải ngoại, tại ngay địa bàn mình ở, nhưng không xác định được chúng là ai, nhiều khi chúng ta đâm ra nghi ngờ người này người kia và trút giận lên họ chỉ vì một số sự kiện khả nghi nào đó. Một khi đã nghi ngờ rồi, thì ta thấy mọi động thái, lời nói hay việc làm của người ấy đều chứng tỏ điều mình nghi ngờ là đúng để rồi càng ngày càng xác tín hơn.

Sách “Cổ học tinh hoa” có thuật chuyện “Mất búa” của Liệt Tử như sau: “Có người đánh mất cái búa, ngờ cho đứa con nhà láng giềng lấy trộm. Anh ta trông dáng nó đi, rõ ra đứa ăn trộm búa, nhìn vẻ mặt nó, rõ ra đứa ăn trộm búa, thấy nó cất nhắc, hành động không một tí gì là không rõ ra một đứa ăn trộm búa cả. Được một lúc, người ấy bới trong hố, lại thấy cái búa. Thì hôm sau, trông đứa con nhà láng giềng ngôn ngữ, cử chỉ không một tí gì giống đứa ăn trộm búa nữa. [4]

Và những nạn nhân của sự nghi ngờ này, dù đúng hay oan, đều trở thành đối tượng để mọi người trút cơn giận vào. Tình trạng nghi ngờ cách oan ức như thế xảy ra không ít trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Cụ thể và điển hình nhất là trường hợp Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Những người bình tâm và khách quan thì thấy ông đúng là một người chống cộng đích thực, mạnh mẽ và hữu hiệu hơn ai hết. Nhưng rất nhiều người nghi ngờ ông là cộng sản nằm vùng, được CSVN đưa ra hải ngoại để phá hoại và gây chia rẽ cộng đồng người Việt hải ngoại. Từ đó sinh ra nghi ngờ những thi phẩm mà ông nói rằng chính ông sáng tác trong thời gian ở tù. Họ cho rằng ông ăn cắp những bài thơ ấy của nhà cách mạng Lý Đông A, v.v... Ông Nguyễn Chí Thiện đã phải hết sức khổ tâm vì nỗi “oan như Thị Kính” này. Trong số những người nghi ngờ hoặc quả quyết ông Nguyễn Chí Thiện là cộng sản, tôi nghĩ rất nhiều người là những người yêu nước và chống cộng đích thực.

Một danh nhân nào đó nói: “Thiện chí cộng với ngu dốt thành phá hoại”. Ngay cả lòng yêu nước nếu không được lý trí sáng suốt hướng dẫn, vẫn có thể gây nên những thiệt hại cho đất nước, huống chi sự thù hận. Vì thế, sự thù hận cộng sản có thể là một con dao hai lưỡi, nó có lợi mặt này mà cũng có thể có hại ở mặt khác. Do đó, chúng ta cần đặt lòng thù hận cộng sản dưới sự chỉ đạo của lý trí, để nó chỉ làm lợi cho cuộc đấu tranh chống cộng và xây dựng dân chủ, chứ đừng để nó gây hại.

Houston, ngày 01/9/2014.

Nguyễn Chính Kết

[1] Xem truyện “Tuyệt Anh Hội” http://maxreading.com/sach-hay/dien-hay-tich-la/tuyet-anh-hoi-2231.html; hay truyện “Quân Ăn Trộm Ngựa” (http://www.dongcong.net/TrangTimHieu/MauBanhVun/14.htm truyện 141)

[2] Xem: Aziz Nesin, “Tại sao mèo chạy cụp đuôi?” (http://us.24h.com.vn/cuoi-24h/tai-sao-meo-chay-cup-duoi-c70a253732.html).

[3] Xem Việt Vùng Vịnh, “Đài Việt Star 28.4 ngưng hoạt động từ tối hôm qua 25/8/2014” (http://vietvungvinh.com/2013/index.php?option=com_content&view=article&id=4951:2014-08-27-04-23-13&catid=55:vietnam-hai-ngoai&Itemid=76).

[4] Xem truyện “Mất búa” (http://baonamdinh.vn/channel/5107/201307/chuyen-xua-ke-lai-mat-bua-2258669).

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.