Hôm nay,  

Ba Ngày Ở New York

02/05/201400:00:00(Xem: 4102)
Rời khỏi Philadelphia vào sáng sớm ngày Thứ Hai 28 tháng Tư bằng xe bus Greyhound, tôi đã tới khu trung tâm New York vào hồi 9.30 sáng. Và tiếp theo là đi xe điện ngầm (subway) để tới nhà Dick Hughes ở phía bắc thành phố. Như Dick đã cho biết trước qua email, tôi được bố trí đến ở căn hộ của Sherry là người bạn đời của anh. Căn hộ này chỉ cách xa nhà của Dick có vài trăm mét mà thôi. Căn hộ đang bỏ trống vì lúc này Sherry phải về giúp lo chăm sóc bà mẹ già yếu ở Pennsylvania. Sherry vốn là một cô giáo nay mới nghỉ hưu, nên căn hộ thật là gọn gàng lớp lang thứ tự và sạch sẽ thóang mát với đủ tiện nghi về phòng ngủ, phòng khách, nhà bếp, nhà vệ sinh… Như thế, thì kể ra đã là quá tươm tất cho một gã vốn xưa nay được tiếng là hay đi “Lang Thang Bụi Đời” như tôi.

Dick là một trong số các bạn người Mỹ thân thiết nhất của tôi từ trên 40 năm nay, vì chúng tôi cùng họat động sát cánh với nhau trong Chương trình Giúp đỡ các Trẻ em Đánh giày chuyên sống lang thang nơi các hè phố (mà bà con thường gọi là Trẻ Bụi Đời – Dust of Life) tại Việt nam hồi những năm 1968 trở đi cho đến khi bị đóng cửa sau năm 1975. Chương trình này trong tiếng Mỹ, thì có tên gọi là “Shoeshine Boys Foundation” (SBF).

Vào năm 1990, khi hai anh em chúng tôi là anh Đỗ Ngọc Long và tôi – cùng ở trong Ban Quản Trị SBF- bị công an cộng sản bắt giam và bị gán cho tội làm”gián điệp”, thì Dick Hughes đã tận tình vận động khắp nơi để giải cứu cho chúng tôi. Chiến dịch giải cứu này đã thành công và cả hai người chúng tôi “Long và Liêm” được trả tự do và hiện cùng gia đình định cư tại Mỹ. Chuyện này báo chí Mỹ cũng như báo Việt ngữ tại hải ngọai đều đã đăng tải đày đủ chi tiết vào hồi đó, tức là từ 1990 đến 1996 lúc tôi bị bắt giữ và lúc tôi ra tù. Vì thế, tôi nghĩ cũng chẳng cần dài dòng viết lại thêm ở đây nữa.

Mà điều tôi muốn ghi ra ở đây chính là cái tình bạn thân thương gắn bó giữa Dick và tôi, thì đã kéo dài đến trên 45 năm nay rồi. Đến nỗi mà trong nhà các con tôi phải nói rằng: “Thật là ít có mối tình nào mà lại thân thiết keo sơn bền chặt như tình anh em giữa chú Dick và bố đấy”. Vì thế, mà từ trên 14 năm nay, tôi thường hay đến New York để gặp gỡ chuyện trò trao đổi tâm sự với Dick. Năm 2014 này, tôi dành ra 3 ngày để đến ở với Dick và nhân tiện cũng thăm viếng một vài người bạn khác nữa tại New York.

Và trong bài viết này, tôi sẽ tường thuật ngắn gọn về mấy ngày sinh họat tại New York với Dick Hughes và về cuộc gặp gỡ với chị Dinah Pokempner là một chuyên gia cố vấn của tổ chức Human Rights Watch có trụ sở chính đặt tại Empire State Building ở khu trung tâm thành phố New York (HRW = Theo Dõi Nhân Quyền).

I – Chuyện trò tâm sự với Dick.

Mấy ngày tôi ở đây, thì lại gặp lúc Dick thật bận rộn với chuyện khai thuế với đủ mọi lọai giấy tờ, biên nhận lủng củng làm mất thì giờ, rồi còn phải lo uống thuốc để mà đi soi ruột nữa. Biết tôi phải chịu mổ để cắt một phần ruột già (colon surgery) hồi 5 tháng trước, mà nay đã bình phục ổn định lại khá rồi, Dick thật vui mừng cho tôi. Dick hỏi chi tiết về chuyện hậu giải phẫu đó ra sao (post-surgery), tôi trả lời là sau khi mổ, tôi bị rối lọan tiêu hóa, đi cầu hay bị ỉa tháo chảy (diarrhea), bị virus tấn công làm bải hỏai thân thể, lại còn bị trúng thực đến nôn mửa nữa v.v… Tình trạng rối lọan này kéo dài phải mất đến trên 3 tháng thì mới giảm bớt và thật là may mắn, đến nay chuyện tiêu hóa gần như đã trở lại bình thường rồi. Vì thế mà các con tôi mới chịu để cho tôi đi xa nhà chuyến này dự trù kéo dài đến 2 tháng trời đấy.

Chúng tôi miên man nói đủ mọi thứ chuyện với nhau, nhất là trao đổi tin tức về các người bạn cùng quen biết và cả về một số bạn đã ra đi từ giã cõi đời trong mấy năm gần đây. Dick nói thật tiếc thương anh bạn Tôn Thất Mạnh Tường, anh ấy mất ở Montréal Canada đã trên 10 năm. Dù là người phải dùng một cặp nạng mà di chuyển, anh Tường là người rất hăng hái tích cực trong nhiều công việc có ích lợi cho nhân quần xã hội. Đặc biệt, anh giúp rất nhiều trong việc vận động cứu thóat anh và anh Long ra khỏi tù ở Việt nam đấy. Năm 2013 vừa qua, thì chúng ta lại mất đi các bạn John Spragens ở Oregon, rồi Roger Rumpf chồng của Jackie Chagnon ở Missouri. Tôi nói đã mấy lần đến thăm Jackie và Roger tại nông trại của họ ở Missouri gần với Kansas City. Và có lẽ giờ này, thì Jackie đã nghỉ hưu không còn làm việc ở bên Lào nữa, v.v…

Tiếp đến là trao đổi tin tức về sinh họat gia đình của nhau. Dick cho biết cháu Tara năm nay đã 29 tuổi và đã có bạn trai cùng chung sống trong một trang trại rộng đến trên 10 acres ở vùng phía bắc tiểu bang New York. Còn tôi cho Dick biết là bà xã và các con các cháu vẫn mạnh khỏe bình thường và đều ở tại California. Đặc biệt, cháu ngọai của tôi đã có con, nên vợ chồng tôi đã lên chức “Ông Cố, Bà Cố” rồi. Và tôi thì năm nay 2014 thì vào đúng tuổi 80 rồi đấy. Dick vui cười lên tiếng chúc mừng cho cả gia đình chúng tôi. Anh nói: “Từ ngày đến thăm gia đình anh chị tại California vào năm 1996 khi anh mới được trả tự do, cho đến nay tôi chưa bao giờ có dịp trở lại bên đó nữa…”

Tôi kể cho Dick nghe chuyện này có thật mà rất tức cười xảy ra vào giữa năm 2013 mới đây tại Saigon. Đó là có một ông cũng có trùng một tên và họ với tôi là Đoàn Thanh Liêm cư ngụ tại San Jose California. Ông vừa xuống máy bay tại phi trường Tân Sơn Nhất, thì bị công an giữ lại đem vào một phòng để xét hỏi. Họ đưa cho ông ta coi một số hình ảnh và rất nhiều các bài báo do “Đòan Thanh Liêm viết đăng ở hải ngọai” và hạch sách rằng:”Ông là một thành phần phản động chuyên viết bài chống phá nhà nước cách mạng, chúng tôi không thể cho phép ông về thăm bà con ở Việt nam được…” Ông ta cương quyết phản đối, nói rắng:“ Đích thật tên tôi là Đòan Thanh Liêm, nhưng tôi không phải là người có hình ảnh và bài viết mà các ông đưa ra ở đây. Đó là một sự trùng tên, trùng họ và trùng cả chữ đệm nữa. Mà tôi cũng chẳng hề quen biết, cũng chưa bao giờ gặp gỡ với cái ông ấy nữa. Đây này, tôi mới có 60 tuổi, còn cái ông có hình ảnh ở đây là một ông già tóc bạc trắng cỡ xấp xỉ 80 tuổi rồi. Làm sao mà lại bảo tôi là cùng một người như ông ấy được cơ chứ?” Và rút cuộc, công an đã phải để yên cho ông “Đòan Thanh Liêm” này vào Saigon.

…” Và đến khi ông ta về lại Mỹ, thì kể lại cho bà con bạn hữu về chuyện này, trong số mấy người được nghe câu chuyện đó, thì có một người lại quen biết với tôi và thuật lại cho tôi cái sự việc thật là funny đó…” Nghe vâỵ, Dick cười ngặt nghẽo và nói: “Anh bạn của tôi được nhà nước Việt nam chiếu cố theo dõi hết mực tận tình đến như thế đó!”

Đại khái trong 3 ngày sống bên nhau, Dick và tôi chuyện trò tíu tít vui nhộn hết sức vô tư hồn nhiên như ngày nào. Vào chiều ngày 30, Dick dẫn tôi đến tiệm Phở Bằng ở khu Queens để gặp và cùng ăn tối với anh bạn Nguyễn Thế San xưa kia cùng cộng tác với SBF ở Saigon. Anh San vẫn còn làm việc với Sở Bưu Điện ở gần nhà. Mở đầu, tôi nhắc lại lời cảm ơn anh San vì đã giúp cho đứa cháu con người bạn bên California có chỗ ở để đi học tại New York mấy năm trước. Nay cháu đã ra trường, lập gia đình và đi dậy học ở Arizona. Và anh San lại cho biết vẫn nhận được thư từ và điện thọai của người cháu gái đó.

Cả ba chúng tôi Dick, San và tôi lại có dịp gợi lại những kỷ niệm vui buồn về sinh họat của SBF hồi trước năm 1975 tại Việt nam. Ngòai trời mưa tầm tã, nhưng bọn chúng tôi lại cảm thâý thật ấm cúng với cái tình bạn, tình anh em trong Đại Gia Đình Bụi Đời giữa cái thời còn trai trẻ cách nay đã đến trên 40 năm rồi đó.

II – Gặp lại chị Dinah Pokempner của tổ chức nhân quyền Human Rights Watch (HRW).

Sáng ngày Thứ Ba 29 tháng Tư, đúng như Dianh đã hẹn qua email, tôi đã đến một quán bán café trên đường số 32 góc với Đại lộ số 5 để cùng ăn sáng và chuyện trò trao đổi với chị bạn là người đã làm việc với HRW đã trên 20 năm nay. Cùng đi với Dinah còn có cả anh bạn trẻ Henry Peck là người mới gia nhập HRW được mấy tháng nay và hiện là một trong các người phụ tá cho Dinah là General Counsel của HRW.

Dinah Pokempner là một luật sư năm nay mới có ngòai 50 tuổi. Chị là người đặc trách hồ sơ về tôi tại HRW kể từ ngày tôi bị bắt giữ vào năm 1990 ở Việt nam. Do đó mà Dinah biết rất rõ về vụ án “Tuyên truyền chông Chủ nghĩa Xã hội” với án phạt 12 năm tù giam của tôi do Tòa án Saigon xử vaò ngày 14/5/1992.

Khi đến New York vào năm 2000, tôi đã gặp Dinah và ngay trong buổi gặp mặt lần đầu tiên này, Dinah đã tỏ ra thân thiện và quý mến tôi như là một người bạn đã từng quen biết lâu năm. Và sau đó, mỗi lần đến New York thì tôi đều đến gặp chị tại trụ sở trong tòa nhà chọc trời nổi tiếng Empire State Building với chuyện kiểm sóat an ninh còn nghiêm ngặt hơn cả lối kiểm sóat ở các phi trường trên đất Mỹ. Có khi tôi còn ở lại để cùng ăn trưa ngay tại văn phòng làm việc với Dinah nữa.

Lần này, Dinah giới thiệu Henry xuất thân là một nhà báo và mới gia nhập HRW với nhiệm vụ phụ giúp Dinah trong lãnh vực truyền thông báo chí. Sau những trao đổi tin tức thông thường, tôi cho Dinah và Henry biết về sinh họat của tôi với tổ chức Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam có trụ sở chính tại California (VN Human Rights Network). Và tôi cũng tham gia sinh họat với Amnesty International USA từ cấp cơ sở (at the grassroot level) với Nhóm ở thành phố Irvine California - tới Đại hội cấp Miền của 9 tiểu bang Miền Tây Hoa Kỳ (Western Regional) - cho đến Đại Hội Thường Niên (Annual General Meeting = AGM) cấp tòan quốc của Amnesty USA – mà AGM năm 2014 này vừa mới được tổ chức tại Chicago vào đầu tháng Tư.

Tiếp theo, tôi lấy laptop mở mấy bài tôi mới viết cho hai người xem. Đặc biệt, khi tôi mở bài “How I became a political prisoner in Vietnam in the 1990s”, thì Dinah rất chú ý đến bản văn “Năm Điểm” của tôi viết đầu năm 1990 – mà vì đó mà tôi bị xử án 12 năm tù giam với tội danh “Tuyên truyền chống Chủ nghĩa Xã hội” chiếu theo điều 79 Bộ Luật Hình Sự. Dinah giải thích thêm cho Henry rằng; “Luật sư Liêm là một chuyên gia về Luật Hiến Pháp, nên ông mới viết ra một bản văn súc tích mà có cơ sở pháp lý vững chắc như thế này. HRW đánh giá cao về sự đóng góp chuyên môn pháp lý này – nhất là vì đó mà tác giả bị bản án 12 năm tù giam đấy…” Henry bèn hỏi xem tôi có thể gửi cho anh các bài viết này qua email được không. Tôi trả lời tôi sẵn sàng gửi các bài đó theo yêu cầu của bất kỳ ai – mà cụ thể thì đã có một số bài được phổ biến cả trên Google.com nữa rồi.

Sau chừng 45 phút, thì Dinah kiếu từ để đi tham dự một phiên họp khác và để Henry ở lại nói chuyện thêm với tôi. Henry cho biết có cả 2 quốc tịch Anh và Mỹ vì do mẹ là người Anh và cha là người Mỹ. Vì thế mà anh học chương trình tiểu học và trung học ở Anh và lại học đại học ở Mỹ.

Có sự trùng hợp là Henry cũng có học tiếng La tinh mấy năm ở bậc trung học giống như tôi, nên chúng tôi lại có dịp trao đổi về việc học tiếng La tinh, thật là ngộ nghĩnh. Tôi nói hồi trẻ cỡ 14 – 15 tuổi, tôi rất thích cuốn “De Bello Gallico” do Tướng César viết mô tả chi tiết về các trận đánh nhằm chinh phục xứ Gaul là nước Pháp bây giờ (Gaullic Wars). Rồi tôi cũng cho Henry biết là nhờ biết La ngữ mà tôi dễ đi sâu vào lãnh vực triết học và luật pháp. Và chính ông Cicero là nhân vật tôi ngưỡng mộ nên mới chọn theo học môn Triết học của Luật pháp đấy. Henry gật đầu tỏ ý thông cảm.

Sau đó, thì Henry xin phép trở lại HRW để tiếp tục công việc mà anh cho là phù hợp với lý tưởng của mình. Và tôi thì đến thăm lại Thư Viện Trung Tâm của New York trên đại lộ số 5 và đường 42. Bữa đó sao mà có đông khách đến tham quan với bao nhiêu phái đòan từ các nơi xa đến xem cuộc Triển lãm Holocaust do chế độ Phát Xít Hitler phát động để giết hại đến trên 5 triệu người Do Thái hồi Đệ Nhị Thế Chiến 1939 – 45.

Và cuối cùng tôi đến khách sạn Carter gần khu Times Square để gặp cháu Hồng Ân là ái nữ của ông bà Trần Đình Trường – người vẫn dành cho các phái đòan tham dự Ngày Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế vào tháng Sáu mỗi năm ở New York được cư ngụ miễn phí tại khách sạn. Tôi nhờ cháu Hồng Ân chuyển bức thư tôi viết để thăm mẹ cháu là Bà Trần Đình Trường nhũ danh Nguyễn Thị Sang.

Vì trời u ám có dấu hiệu chuyển mưa, nên tôi phải cấp tốc dùng xe điện ngầm để trở về nơi cư ngụ tại khu Inwood phía bắc Manhattan. Cơn mưa kéo dài suốt buổi chiều ngày 29 qua suốt ngày 30 đã làm cho tôi phải bỏ bớt đi một số cuộc thăm viếng khác nữa.

Dầu vậy qua các chuyện trao đổi thân tình với hai người bạn quý là Dick Hughes và Dinah Pokempner trong mấy ngày qua ở New York, tôi cũng đã thật hài lòng với chuyến viếng thăm ngắn ngủi năm nay tại thành phố có danh tiếng bậc nhất của nước Mỹ cũng như của thế giới ngày nay nữa vậy. /

New York, ngày mồng Một tháng Năm 2014

Đoàn Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.