Hôm nay,  

Kinh Tế và Chính Trị Indonesia

10/31/201300:00:00(View: 9349)
...trong dài hạn thì quốc gia 240 triệu dân này có nhiều ưu thế hơn Việt Nam...

Đúng 15 năm trước, do vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á vào các năm 1997-1998, chế độ độc tài của Tổng thống Suharto tại Indonesia bị sụp đổ sau 31 năm gọi là ổn định. Trong năm năm sau, xứ này đã trải qua nhiều sóng gió cho đến khi xây dựng được nền móng dân chủ và Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono hai lần đắc cử vào các năm 2004 rồi 2009. Vì không thể làm tổng thống quá hai nhiệm kỳ, năm tới, ông ta sẽ mãn nhiệm và người dân bầu lại hai cơ chế Lập pháp và Hành pháp để tiếp tục lãnh đạo một quốc gia đông dân nhất và có nhiều vấn đề nhất trong Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á. Diễn đàn Kinh tế kỳ này sẽ tìm hiểu về những vấn đề ấy qua sự phân tích của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa, tư vấn kinh tế của đài Á Châu Tự Do.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, trong kho tài liệu cũ về bối cảnh từ hơn 15 năm trước, chúng tôi thấy nhiều dữ kiện về Cộng hoà Indonesia tại Đông Nam Á và vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á dẫn tới khủng hoảng chính trị khiến chế độ độc tài Suharto sụp đổ. Ngày nay, xứ này đã có nền móng ổn định trong nền dân chủ, và qua năm tới sẽ có hai cuộc bầu cử Quốc hội rồi Tổng thống để giải quyết nhiều vấn đề sâu xa lâu dài hơn. Xin đề nghị với ông là kỳ này ta sẽ tìm hiểu về Indonesia và những bài toán cải cách của họ để suy ngẫm về trường hợp Việt Nam.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cho rằng đây là một việc thiết thực để mở tầm nhìn qua xứ khác. Trong 10 nước của Hiệp hội ASEAN tại Đông Nam Á, Indonesia là quốc gia có nhiều vấn đề nhất, về mọi mặt kinh tế, xã hội, sắc tộc và chính trị. Kinh nghiệm của họ sẽ có ích cho chúng ta.

- Vì là thuộc địa cũ của Âu Châu, Indonesia có nhiều đặc tính bất thường của một quốc gia. Trên đại thể thì ngày xưa, ta gọi xứ này là Nam Dương Quần đảo vì lãnh thổ là một quần đảo gồm 17 ngàn 508 hòn đảo nằm giữa ba mảng kiến tạo địa chất Âu-Á, Úc, và Thái Bình Dương nên có nhiều núi lửa và thường bị động đất cùng sóng thần. Lãnh thổ xứ này nằm ngang hơn 5.000 cây số theo hướng Đông Tây và là nơi sinh sống của 240 triệu người, trong đó có 400 sắc dân nói hơn 700 thổ ngữ hay phương ngữ và có nhiều nhóm võ trang nổi lên đòi quyền tự trị.

- Cho nên việc hội nhập thành một cộng đồng quốc gia cũng là vấn đề. Biểu hiện dễ hiểu của bài toán này là việc phân quyền cho các sắc dân hay các đảo, hoặc tập trung quyền lực vào trung ương ở đảo lớn nhất là Java? Thứ ba, Indonesia có nhiều tài nguyên, nhất là khoáng sản cho công nghiệp, nhưng làm sao khai thác trên một vùng địa dư phân tán và chia sẻ quyền lợi đồng đều cho nơi sản xuất và cho trung ương để còn chu cấp cư dân ở nơi khác? Sau cùng, xứ này cũng có nhiều người theo đạo Hồi nhất thế giới và từng bị khủng bố Hồi giáo tấn công nhiều lần. Nếu nhân danh yêu cầu an ninh mà giữ ách độc tài để kiểm soát tất cả thì làm sao phát triển một xứ nằm giữa ngã tư quốc tế phải thường xuyên trao đổi với thế giới bên ngoài?

Vũ Hoàng: Ông vừa tóm lược vài nét khái quát thì đã thấy nhiều bài toán nan giải gấp bội nếu so với Việt Nam. Vậy mà Indonesia vẫn là cường quốc trụ cột đã lập ra Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á là ASEAN và hình như giàu hơn Việt Nam nếu tính theo lợi tức một đầu người. Trước khi tìm hiểu về chuyện hiện tại và tương lai, theo ông nghĩ thì đâu là lý do chính yếu?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Quả thật là lợi tức đồng niên một đầu người của Indonesia là gần ba nghìn rưởi so với chưa đầy hai nghìn của Việt Nam. Nhiều nhà kinh tế thì cho là xứ này đã sớm trọng dụng các chuyên gia kinh tế tốt nghiệp tại Hoa Kỳ từ nửa thế kỷ về trước nên có nâng cao trình độ quản lý vĩ mô. Tôi trộm nghĩ khác, là sau Thế chiến II lãnh đạo của họ đều khôn ngoan hơn lãnh đạo của Việt Nam trong nỗ lực giành độc lập và tránh cho đất nước khỏi bị chiến tranh!

- Có vài chi tiết cần nhắc lại. Khi Nhật đầu hàng Hoa Kỳ ngày 15 Tháng Tám năm 1945 thì ông Soekarno đang có mặt tại Sàigòn lập tức về Jakarta tuyên bố độc lập vào ngày 17. Họ không bị đảng Cộng sản đảo chính chế độ mới để làm cách mạng vô sản hoặc còn mời thực dân Hà Lan trở về để mượn tay sát hại đối lập. Từ đó ta còn để ý thấy là khi ách độc tài Soekarno lung lay thì ông ta dựa vào đảng Cộng sản Indonesia và còn liên kết với Bắc Kinh để tồn tại nên quân đội tiến hành một vụ phản đảo chánh vào cuối năm 1965. Họ mở ra cuộc tàn sát đảng viên Cộng sản lẫn Hoa kiều khiến nửa triệu người mất mạng, đó là "Vụ Jakarta" khét tiếng.

- Từ đó, chế độ độc tài Suharto mới thành hình, dựa trên quân đội và đảng Golkar. Nhưng khi Suharto bị lật đổ thì họ không có vụ tàn sát nhau để trả thù và dù có bị ra toà về nhiều tội danh khi tại chức, ông Suharto vẫn được dưỡng bệnh và khi tạ thế thì được quân đội chôn cất trọng thể, với sự hiện diện của vị Tổng thống được dân bầu lên, vốn là một tướng lãnh cũ của quân đội. Tôi cho là cách họ cư xử với nhau có giải toả được nhiều mâu thuẫn và là một yếu tố cần thiết cho dân chủ sau này.


Vũ Hoàng: Chúng ta trở lại chuyện ngày nay của Indonesia. Thưa ông, đâu là bài toán nan giải nhất của xứ này trong thời gian tới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Indonesia trải qua một giai đoạn giao thời với ba Tổng thống trong mấy năm trước khi có Hiến pháp mới và bầu cử hẳn hoi kể từ năm 2004. Khi chế độ tập quyền tại Jakarta bị bung thì nguy cơ phân hóa bùng nổ. Thí dụ như việc Đông Timor tuyên bố độc lập hoặc nhiều nhóm dân quân võ trang đòi quyền tự trị và có thể cản trở việc giao lưu buôn bán giữa các đảo và các eo biển. Vì vậy, xứ này áp dụng nguyên tắc tản quyền để tái phân tài nguyên cho địa phương và các đảo thưa thớt dân cư ở vòng ngoài thay vì tập trung vào đảo Java.

- Trung ương tản quyền cho địa phương về nhiều mặt, từ chi thu ngân sách, thuế vụ đến đất đai hay phê duyệt dự án đầu tư và chỉ giữ thẩm quyền về an ninh, quân sự và tư pháp. Nhờ vậy mà họ đẩy lui rủi ro phân hóa và nội chiến trên một nền tảng chính trị dân chủ hơn. Rồi kinh tế phục hồi khi thế giới lại bị nạn Tổng suy trầm vào các năm 2008-2009.

- Ta không quên là xứ này vượt sóng gió chính trị đó khi bị khủng bố tấn công tại Bali vào Tháng 10 năm 2001 rồi đánh bom tự sát tại thủ đô Jakarta vào Tháng Bảy năm 2009, ở giữa là vụ động đất biến ra sóng thần ngày Giáng sinh 2004. Tuy nhiên, từ năm 2011, xứ này đưa ra một Kế hoạch Kinh tế Tổng thể thi hành trong 15 năm tới với tham vọng cải cách và chuyển hướng còn lớn lao hơn việc tản quyền của mươi năm qua.

Vũ Hoàng: Trong kỳ trước, ông nói đến yêu cầu cải cách và chuyển hướng kinh tế và chính trị của Trung Quốc và Việt Nam. Phải chăng Indonesia cũng gặp hoàn cảnh đó và đâu là trọng tâm của Kế hoạch Kinh tế Tổng thể này của họ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng mọi kế hoạch kinh tế đều phải có nội dung hay giới hạn chính trị vì hai lãnh vực đó tất nhiên là song hành và tác động vào nhau.

- Lãnh đạo Indonesia ý thức được nhược điểm kinh tế trong tình thế chính trị là một nước chủ yếu xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên khai thác từ nhiều địa phương phân tán. Họ muốn cải cách cơ chế kinh tế để trở thành một trung tâm biến chế hàng công nghiệp, nhất là khi Trung Quốc mất dần vị trí là hãng xưởng ráp chế số một của thế giới. Họ muốn tự hiện đại hóa trên cơ sở mạnh hơn. Muốn như vậy, họ phải thứ nhất, điều chỉnh lại chính sách tản quyền đã áp dụng hơn chục năm nay; thứ hai, xây dựng hạ tầng vận chuyển hàng hóa giữa các đảo và giữa quốc gia với thế giới bên ngoài; để, thứ ba, khai thác được tài nguyên khoáng sản với giá trị đóng góp cao hơn thay vì chỉ bán xổi với giá thấp.

- Điều kiện cần thiết cho kế hoạch kinh tế mang tính chất chiến lược này là phải có sự hợp tác về đầu tư giữa tư nhân trong nước với chính quyền và giới đầu tư quốc tế. Suy như vậy thì ta thấy rằng nguyên tắc dân chủ là yếu tố cần thiết, nhưng thật ra vẫn chưa ắt đủ, mà đi vào vận hành thì còn có nhiều bài toán cụ thể sẽ đặt ra. Lý do là khi tản quyền cho các địa phương thì dễ gây ra nạn trùng lập, như nhiều địa phương đều muốn làm cùng một loại dự án, nên gây lãng phí, và nguyên tắc chia chác quyền lợi cũng dễ đưa đến tham nhũng ở địa phương.

- Trong cuộc bầu cử lưỡng viện Quốc hội vào Tháng Tư năm tới, rồi bầu cử Tổng thống vào Tháng Sáu ngay sau đó, những vấn đề nói trên sẽ trở thành đề mục thảo luận hay tranh cãi. Nhưng dù họ chưa thể khắc phục được các trở ngại, thì lãnh đạo của Indonesia đã nhìn ra vấn đề.

Vũ Hoàng: Thưa ông, chuyện ấy dẫn ta trở về trường hợp Việt Nam và kỳ họp hiện nay của Quốc hội hoặc Trung Quốc với kỳ họp tháng tới của Ban Chấp hành Trung ương. Ông kết luận như thế nào về hoàn cảnh của mấy nước Á Châu này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cho là mọi nhà cầm quyền đều muốn rộng tay hành động nhưng chế độ độc tài mới thật sự bó tay lãnh đạo, đó là hoàn cảnh của Trung Quốc và Việt Nam. Thứ hai, nhiều người cứ sợ dân chủ sẽ gây bất ổn nên không phát triển được quốc gia. Xứ Indonesia lại không sợ điều ấy mà vẫn cố gắng thiết lập nền móng dân chủ trong những điều kiện khó khăn nhất do cả thiên nhiên lẫn con người gây ra. So sánh nội dung thảo luận hay tranh luận của họ với những gì đang xảy ra tại Hà Nội thì mình không lạc quan về tương lai của Việt Nam.

- Trong ngắn hạn thì Indonesia còn gặp nhiều khó khăn, như tài nguyên khoáng sản có thể sụt giá trước khi họ xây dựng được nền móng công nghiệp chế biến vững mạnh hơn. Nhưng trong dài hạn thì quốc gia 240 triệu dân này có nhiều ưu thế hơn Việt Nam, với khả năng tiêu thụ nội địa cao hơn, có trình độ tay nghề và năng suất khá hơn và nhất là lãnh đạo của họ có biết sợ dân. Khi Trung Quốc thoái trào trong những năm tới, thì giới đầu tư quốc tế như Mỹ, Nhật, Âu Châu hay Nam Hàn, Đài Loan sẽ nhìn vào Indonesia hay Việt Nam? Câu hỏi đó là điều đáng suy nghĩ!

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.