Hôm nay,  

Chính Sách Đối Ngoại Rơi Rụng

7/2/201300:00:00(View: 7448)
...cũng là cách chính quyền Obama lái dư luận ra khỏi các vụ xì-căng-đan nhức đầu...

Năm 2008, một chuyên viên tổ chức cộng đồng của một vùng ngoại ô phiá nam thành phố Chicago ra tranh cử tổng thống. Ông hứa hẹn đủ điều, từ đại đoàn kết dân tộc đến hoà đồng màu da, từ ổn định kinh tế đến cải tổ tài chánh, từ chấm dứt đe dọa khủng bố đến cải thiện bang giao với tất cả các nước trên thế giới, bạn và nhất là thù nghịch, v.v... Ngày ông được đảng của ông đề cử làm ứng viên tranh cử tổng thống, ông tuyên bố đó là ngày thủy triều ngừng dâng trong khi địa cầu sẽ hàn gắn mọi vết thương. Không nên tìm hiểu thế nghiã là gì, cứ việc tin theo thôi.

Với một người chưa làm một việc gì lớn lao hơn là tổ chức cộng đồng, tức là giúp dân một khu phố xin sửa đường, gắn đèn đường, lắp hệ thống cống rãnh, tu bổ sơn quét chung cư, xin phiếu thực phẩm hay medicaid cho những ông già bà lão trong khu phố, đây quả là những hứa hẹn còn lớn hơn đội đá vá trời.

Trước những câu chất vấn của thiên hạ, ông đã thao thao bất tận có câu trả lời đầy đủ, không thiếu sót trong bất cứ vấn đề gì.

Một câu hỏi khúc mắc nhất mà ông vẫn trả lời được, đó là vấn đề đối ngoại. Được hỏi ông có kinh nghiệm đối ngoại như thế nào mà ông nghĩ ông có thể lãnh đạo đại cường đối đầu với cả thế giới, bạn cũng như thù, ông trả lời rất rõ ràng là ông là công dân của... thế giới.

Một cách cụ thể hơn, ông khoe ông là người có máu quốc tế, ông bố ruột là người Kenya từ Phi Châu, ông bố ghẻ là người Nam Dương từ Á Châu, bà mẹ là Mỹ trắng gốc Ái Nhĩ Lan, nhưng cũng là chuyên gia tư vấn quốc tế, đi làm việc khắp xứ này xứ kia. Quan trọng hơn nữa, ông đã sống ở Nam Dương tới bốn năm, từ năm 6 tuổi đến năm 10 tuổi. Đến thời sinh viên, ông có đi thăm Pakistan mấy ngày. Cái lý luận này đúng ra chỉ có một mình ông có thể tin được thôi, nhưng thực tế đã có cả triệu người ngẩn ngơ tin, cũng như ngơ ngẩn tin tất cả những lời hứa hẹn của ông mặc dù có nhiều điều họ chẳng hiểu rõ nghiã là gì.

Trong vấn đề chống khủng bố, ông chê cựu TT Bush là không biết cách. Ông sẽ có cách ôn hoà, tôn trọng văn minh, văn hoá và tôn giáo Ả Rập, và cả khối này sẽ xếp hàng sau lưng ông, khủng bố chấm dứt trên toàn cầu.

Lâu lắm thế giới mới thấy được một người có khả năng ăn nói với một sức thuyết phục có một không hai như vậy. Cả thế giới cấp tiến, “yêu chuộng hòa bình” phủ phục xuống hoan hô. Hơn một nửa dân Mỹ bị hớp hồn, và ông chính khách này đắc cử tổng thống. Chẳng bao lâu sau, ông nhận lãnh luôn giải Nobel Hòa Bình, chỉ vì tài mồm mép.

Giờ này đây, bước qua ngưỡng cửa nhiệm kỳ hai, tự nhiên cơn mưa thác lũ đổ xuống. Hết xì-căng-đan này đến khủng hoảng khác. Cơn mưa này chưa tạnh, cơn bão khác đổ đến. Từ khủng hoảng ngoài nước tuốt đâu Benghazi, đến xì-căng-đan trong nước qua các vụ sở thuế và theo dõi nhà báo, theo dõi điện đàm và emails. Rồi từ trong nước lại quay ngược ra ngoài nước với khủng hoảng ngoại giao, hay nói cho đúng hơn, thất bại ngoại giao với Trung Cộng và Nga, và cả với các đồng minh Âu Châu luôn.

Những thất bại này phải được đặt trong bối cảnh một chính sách ngoại giao tả tơi rơi rụng của chính quyền Obama trong suốt hơn bốn năm qua.

Anh chuyên gia CIA-NSA Edward Snowden xì tin NSA theo dõi cả triệu người dân Mỹ qua các điện đàm, và internet, emails, gây chấn động chính trường Mỹ. Người khen kẻ chửi, ai cũng có ý kiến về việc làm của anh này. Chính quyền Obama truy tố anh này về tội gián điệp và lùng bắt. Nhưng anh này khôn ngoan, đã cao bay xa chạy trước khi xì tin mật cho các báo Washington Post của Mỹ và The Giardian của Anh.

Hành động của anh này như đã bàn trên cột báo này, chỉ là loại tiêu biểu cho mấy anh cấp tiến cực đoan lập dị, muốn chơi nổi mà bất cần biết hậu quả, hậu quả cho cả nước cũng như hậu quả cho cá nhân mình. Như cái anh Julian Assange xì cả trăm ngàn mẫu tin emails cho thiên hạ và báo chí coi chơi qua Wikileaks, gây tai tiếng không ít cho chính quyền Mỹ về phương diện quốc phòng và ngoại giao. Bây giờ trốn trong một phòng của toà đại sứ Ecuador tại Anh từ cả năm nay, không thấy cách nào có thể ra ngoài được trong không biết bao nhiêu năm nữa. Gọi là ở tù không có ngày ra.

Bây giờ đến phiên anh Snowden này, cho đến giờ vẫn trốn chạy, chưa biết tương lai như thế nào.

Cái tội của anh Snowden này nặng hơn anh Assange nhiều. Anh Assange dù sao thì cũng chỉ là xì ra những thư từ qua lại của các viên chức thấp hay trung cấp, và sự kiện bị lộ phần lớn chỉ gây bối rối cho chính phủ Mỹ, chẳng hạn như tin các viên chức ngoại giao Mỹ nói xấu về các lãnh tụ đồng minh. Trong khi anh Snowden này mang bốn cái laptop đầy ắp tin mật về hệ thống tình báo, theo dõi thiên hạ của NSA. Theo dõi dân Mỹ, theo dõi khủng bố, nhưng cũng theo dõi cả Nga, Trung Cộng, và theo dõi luôn các đồng minh.

Điều làm chính quyền Obama lo xót vó là không biết trong mấy cái laptop anh này ôm đi có những tin bí mật gì, quan trọng đến mức nào. Chính quyền Obama với sự hậu thuẫn của truyền thông phe ta khua chiêng gõ trống rầm rộ về chuyện anh Snowden chạy lăng xăng, đi đến đâu bị chính quyền Mỹ rình ràng truy đuổi đến đó.

Điều ít người để ý là đây cũng là cách chính quyền Obama lái dư luận ra khỏi các vụ xì-căng-đan nhức đầu. Mở báo hàng ngày ra đọc, các mẫu tít chạy ngang cả mặt báo đều là tin chính quyền Mỹ rượt đuổi anh Snowden, chỉ trích Trung Cộng và Nga bất hợp tác, không còn tin sốt dẻo về Benghazi, về IRS, về Foxnews bị theo dõi, hay về NSA nữa.

Thật ra, chuyện anh Snowden có bị bắt, dẫn độ về Mỹ chẳng quan trọng lắm. Cùng lắm thì anh này sẽ đi bóc lịch một thời gian dài. Nhưng những bí mật an ninh quốc gia đã bị bật mí hết rồi. Theo tin báo chí, anh Snowden trốn ở Hồng Kông cả tuần lễ, rồi được chính quyền Hồng Kông với sự chỉ đạo của Bắc Bình, cho ra khỏi nước. Chạy qua Nga, anh này đã bị tam giữ ở cảng quá cảnh tại phi trường Moscow. Cho đến khi bản tin này được viết thì chưa ai thấy tương lai anh này sẽ ra sao. Trong quá khứ, đã có nhiều trường hợp tỵ nạn chính trị bị kẹt ở phi trường, trong đó nổi tiếng nhất là anh Mehran Nasseri, tỵ nạn từ Iran, đã kẹt ở phi trường Charles de Gaulle của Paris trong 18 năm từ 1988 đến 2006, sống như một tên ăn mày vô gia cư tại phi trường, không ai thèm dòm ngó tới, lết qua lết lại với vài ba thùng quần áo nhơ nhớp đựng trong thùng cạc-tông để trên xe kéo hành lý tại phi trường, tối ngủ trên mấy cái ghế chờ tàu bay.

TT Putin cũng như CT Tập Cận Bình chỉ cần tin mật thôi, còn anh Snowden thì họ chẳng coi ra gì.

Tất cả các chuyên gia về các vấn đề an ninh tình báo đều hiểu trong thời gian anh Snowden ở Hồng Kông và Moscow, anh đã phải trả giá khá đắt: cho các cơ quan tình báo Trung Cộng và Nga xem qua hay sang lại mấy trăm hay mấy ngàn tài liệu trong các laptop của anh, cũng như chia xẻ tin tức về cách Mỹ thâm nhập các hệ thống điện toán thế giới. Bí mật đã bật mí hết rồi, bây giờ có bắt lại được anh này, cho đi tù thì bò cũng đã chạy khỏi chuồng từ lâu rồi, bắt anh chăn bò cũng chẳng ích gì. Sao phải làm to chuyện thế nếu không phải là muốn đánh trống khỏa lấp những xì-căng-đan khác?


Thái độ của Trung Cộng và Nga trong vụ này đã mang chúng ta trở lại thời chiến tranh lạnh của mấy chục năm trước. Sau khi chế độ cộng sản xụp đổ khắp nơi, bang giao giữa Mỹ và các đại cường cộng sản đã được cải thiện rất nhiều. Cho đến khi TT Obama nhậm chức.

Tân ngoại trưởng Hillary Clinton lần đầu tiên gặp ngoại trưởng Nga đã tặng cho cái hộp ghi chữ “reset”, kiểu như là “bắt đầu lại”, sau khi quan hệ Mỹ-Nga bị xấu đi vì cuộc chiến xâm lăng Georgia tháng sáu 2008 của Putin, để bước vào kỷ nguyên hợp tác mới, thân thiện hơn.

Nhưng kỷ nguyên mới đó cuối cùng đã chạy về kỷ nguyên của chiến tranh lạnh. Hai ông Obama và Putin hầu như không nói chuyện với nhau. Trong hai năm qua, sau khi Putin đắc cử tổng thống lần thứ ba từ tháng Năm 2012, Obama vẫn chưa đi Nga và Putin vẫn chưa đi Mỹ. Theo truyền thông, Putin đã mạc nhiên trở thành lãnh tụ của một thứ tân “liên minh” chống Mỹ trên thế giới.

Trung Cộng thì ngày càng trở nên kiêu căng trong vấn đề biển đông, công khai chiếm hết đảo này đến đảo kia, bắt tàu và ngư dân các nước trong vùng, coi các vụ chiến hạm Mỹ phô trương lực lượng, “viếng thăm xã giao” các nước đông nam á như pha, kiểu rung cây nhát khỉ, chẳng làm các ông Hồ Cẩm Đào hay Tập Cận Bình mất ngủ nửa phút nào.

Qua vụ anh Snowden, quan hệ giữa Mỹ và Trung Cộng và Nga đã tuột xuống thêm vài bực. Trung Cộng chỉ thị cho Hồng Kông không được trao anh Snowden lại cho Mỹ mặc dù Hồng Kông có ký hiệp ước dẫn độ tội phạm với Mỹ. Chính quyền Hồng Kông lấy cớ thiếu chi tiết, yêu cầu chính quyền Obama cung cấp thêm dữ kiện để Hồng Kông cứu xét đơn xin dẫn độ.

Ở đây, có một chi tiết đáng chú ý: tên của anh được chính quyền Mỹ qua các văn thư bộ Tư Pháp trao đổi với Hồng Kông ghi là Edward James Snowden, trong khi tên theo thông hành của anh do bộ Ngoại Giao phát hành lại là Edward Joseph Snowden, khiến Hồng Kông có cớ pháp lý đòi hỏi xác minh lại. Mỹ chưa kịp trả lời là Hồng Kông đã mau mắn cho anh này lên máy bay đi Nga mất rồi, biện minh là Hồng Kông chưa có lý do pháp lý nào giữ anh này lại được vì anh này chính thức chưa hề bị yêu cầu dẫn độ. Ngoài ra, bộ Tư Pháp trong văn thư yêu cần dẫn độ cũng đã không nêu được rõ lý do tại sao trường hợp anh Snowden lại rơi vào phạm vi hiệp ước dẫn độ. Luật sư Alan Dershowitz, một chính khách thiên tả, thân thiện với TT Obama đã viết báo, lên tiếng lắc đầu ngao ngán cho sự bất tài tột cùng của bộ Tư Pháp và bộ Ngoại Giao Mỹ.

Điều miả mai đáng nói là cả Trung Cộng lẫn Nga đều nhân chuyện này đã lên mặt vỗ ngực cho mình là những chính quyền tôn trọng luật pháp và tự do ngôn luận nhất để có dịp dạy bảo Mỹ truy đuổi anh Snowden mà chẳng có căn bản pháp lý vững chắc gì. Như với Hồng Kông thì cung cấp giấy tờ sai sót khiến chính quyền Hồng Kông chưa đủ yếu tố bắt anh Snowden để anh này có dịp chạy thoát. Hay như đối với Nga thì Mỹ không hiểu là anh Snowden trốn trong trạm quá cảnh (transit) tại phi trường Moscow, có nghiã là anh ta không có chiếu khán vào đất Nga, chưa chính thức vào đất Nga, nên chính quyền Nga không thể bắt anh được.

Trên căn bản thì cả hai thái độ đều là lý ngay nhưng tình gian rõ ràng. Nhưng lại khiến chính quyền Obama á khẩu, chẳng biết làm gì.

Tình trạng bang giao với Trung Cộng và Nga xuống dốc thê thảm, nhưng quan hệ với các nước khác cũng chẳng có gì đáng khoe.

Quan hệ với các đồng minh trở nên khó khăn khi anh Snowden lộ tin Mỹ đã theo dõi cả dân lẫn chính quyền các nước đồng minh, từ Anh đến Đức, Pháp, Ý, v.v... Các chính quyền đồng minh tế nhị không nói gì nhiều, nhưng báo chí và dư luận dân chúng bất mãn ra mặt. TT Obama qua Bá Linh dự tính đọc diễn văn trước cả trăm ngàn người như hồi năm 2008, rốt cuộc chẳng có một người dân nào, mà chỉ có quan khách, nhà báo, và cảnh sát, tổng cộng đâu 4.500 người hiện diện trong một quảng trường trước đây đã chứa nửa triệu người. Trước đây, các TT Kennedy và Reagan qua Bá Linh đều được hơn một triệu người đón chào.

Những lãnh tụ độc tài tép riu của Iran, Venezuela, Bắc Hàn, Libya, Syria, chẳng ai nói chuyện gì với TT Obama, ngoại trừ TT Venezuela, Hugo Chavez đã gặp trong buổi họp thượng đỉnh châu Mỹ La Tinh. Nhân dịp này, trước hàng chục ống kính của ký giả, ông Chavez đã thân tặng TT Obama một cuốn sách sỉ vả đế quốc Mỹ đã “hút máu” dân Nam Mỹ như thế nào trong suốt mấy chục năm qua. TT Obama cười gượng nhận cuốn sách. Anh Chavez chưa giải quyết xong lại nhẩy ra anh Correa, tân tổng thống Ecuador, người đã đắc cử chỉ nhờ sỉ vả đế quốc Mỹ, đã cho anh Assange tỵ nạn trong tòa đại sứ Ecuador tại Luân Đôn, và bây giờ đang cứu xét đơn xin tỵ nạn của anh Snowden. TT Correa này còn đề nghị “viện trợ” cho Mỹ hơn 20 triệu đô để mở lớp dạy về tự do ngôn luận và nhân quyền cho dân Mỹ. Không nghe ông Correa nói gì về hàng trăm triệu đô viện trợ của Mỹ từ bao nhiêu năm qua. Cọp giấy Mỹ ai muốn vuốt râu mà chẳng được.

Iran tiếp tục thách đố Mỹ, gửi quân tiếp viện cho Syria, tiếp tục phát triển kỹ năng nguyên tử, không có chút gì thay đổi. Bắc Hàn với ông Hoàng Đế con, vồ lấy Mỹ làm đối tượng bung xung để củng cố quyền bính nội bộ.

Tại Libya, trước áp lực mạnh của các đồng minh Anh và nhất là Pháp, Mỹ đành nhận vai trò lãnh đạo từ phiá sau, tham gia bỏ bom tiêu diệt chế độ Khaddafi, nhân danh “nhân đạo”, cứu nhân độ thế dân Libya. Nhưng cái lý do nhân đạo cao cả đó đã bị cất vào nhà kho khi phải đối đầu với Syria. TT Assad giết gần một trăm ngàn dân trong cả năm trời, dùng cả vũ khí hoá học. Nhưng TT Obama ngó lơ, giải thích với báo chí “vấn đề này khó lắm”.

Mà khó thật. Phe nổi loạn chống TT độc tài khát máu Assad lại chính là đồng minh của Al Qaeda. Gửi thủy quân lục chiến qua thì tuyệt đối không có trong kế hoạch của ông tổng thống có giải Nobel Hòa Bình. Cho máy bay thả bom thì cũng chẳng đi đến đâu. Viện trợ súng đạn thì ai bảo đảm súng đạn này mai mốt sẽ không được Al Qaeda dùng để giết dân Mỹ? Chưa kể TT Putin đã công khai lên tiếng hậu thuẫn và gửi vũ khí, hỏa tiễn cho Assad. Không làm gì thì không được. Giống như Trịnh Công Sơn rên rỉ sau khi nếm mùi nối vòng tay lớn: tiến thoái lưỡng nan.

Trong thế giới Ả Rập và Hồi giáo, theo thăm dò của cơ quan Zorby, tỷ lệ hậu thuẫn của TT Obama cuối năm 2011 tại Maroc là 12%, tại Ai Cập là 5%, tại Jordan là 10%, tại UAE là 12%. Các tỷ lệ này nói chung, chưa bằng một nửa tỷ lệ hậu thuẫn của TT Bush. Tất cả những nước này đều là đồng minh lâu ngày của Mỹ, đã từng nhận cả trăm triệu viện trợ kinh tế cũng như quân sự. Bao nhiêu lời ca tụng văn minh Ả Rập và xin lỗi Hồi Giáo, và bao nhiêu trăm triệu đô cuối cùng cũng chỉ là công cốc. Cả cái tên đệm Hussein cũng chẳng giúp được gì hơn.

Chuyện lạ mới nhất. TT Obama viếng thăm Nam Phi đã được hàng trăm dân da đen biểu tình chống đối. Hình ảnh thần tượng của dân da đen Phi Châu nay còn được bao nhiêu?

Hình như cái kinh nghiệm sống bốn năm tại Indonesia khi sáu tuổi cũng đã không giúp triển khai tài ngoại giao gì nhiều. (30-06-13)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.