Hôm nay,  

Ngày Lễ Cha Xứ Người

15/06/201300:00:00(Xem: 8658)
Hằng năm, hầu hết trên toàn thế giới, con cái thường làm lễ mừng cha mẹ là những người đã sinh và nuôi dưỡng mình khôn lớn. Người Việt chúng ta nói riêng xưa nay không có ngày lễ mừng cha hay mẹ riêng biệt mà chỉ lấy ngày Đại Lễ Vu Lan, được tổ chức rất trọng thể vào ngày 7 tháng 7 âm lịch để tưởng nhớ đến đấng sinh thành. Nhân ngày Đại Lễ này, con cái thường đi Chùa Lễ Phật cầu an hay cúng vái, tưởng nhớ đến cha mẹ, nếu đã khuất núi.

Tuy nhiên, sau tháng tư đen 1975, hàng triệu người Việt rời bỏ quê hương đi tìm Tự Do, lưu lạc khắp năm châu và định cư tại nhiều quốc gia khác nhau như Anh, Pháp, Áo, Mỹ, Úc, Thuỵ Sĩ, Đức… Nhập gia thì tùy tục cho nên với giòng thời gian chúng ta từ từ hội nhập vào đời sống, xã hội của quốc gia tạm dung, cũng theo phong tục người bản xứ tổ chức những ngày lễ giống như họ.

Trước hết là Ngày Lễ Mẹ, hay theo người Việt mình được gọi với cái tên âu yếm, dễ thương hơn là Ngày Hiền Mẫu, được tổ chức vào tháng 5.

Sau đó là Ngày Lễ Cha (còn được gọi là Ngày Hiền Phụ), nhằm vinh danh người cha mà theo truyền thống Á Châu mình ví như là rường cột của gia đình (ghi chú thêm của người viết: Quan niệm này đối với người Việt Nam chỉ có giá trị tương đối vì sau 30.4.1975, khi mà người cha bị Cộng Sản bắt đưa đi "học tập cải tạo" thì người mẹ một mình đã phải tảo tần nuôi đàn con dại, thăm nuôi chồng cho đến ngày người chồng may mắn được về đoàn tụ cùng gia đình, vợ con!).

Trong khi khắp nơi trên toàn thế giới tổ chức Ngày Lễ Mẹ đồng loạt vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng năm thì ngược lại, ngày Lễ Cha tùy theo địa phương được tổ chức, ít ra cũng có ba ngày khác nhau, vào ngày Lễ Thăng Thiên, ngày chủ nhật thứ hai của tháng sáu và ngày chủ nhật thứ ba của tháng bảy. Trong khuôn khổ bài này, người viết xin được giới thiệu khái quát với quí độc giả Ngày Lễ Cha tại vài quốc gia mà người viết sưu tầm được từ Internet.

Hiện tại chỉ có vài quốc gia Âu Châu còn duy trì và tổ chức ngày Lễ Cha, như:

- Đức:
Ngày Lễ Cha tại Đức được tổ chức vào ngày Lễ Thăng Thiên (Ascension), ngày thứ năm thứ hai trước Lễ Ba Ngôi (Whitsun / Pentecost) và còn được dân Đức đặt tên là ngày lễ đàn ông. Ngay vào thời trung cỗ (middle ages) người ta đã tổ chức những buổi diễn hành, để khánh hạ người Cha DIO. Hình thức tổ chức mừng Ngày Lễ Cha như hiện nay đã có từ cuối thế kỷ thứ 19 và vẫn còn được giới đàn ông Đức ưa thích, duy trì cho đến bây giờ.

Đặc biệt là tại vùng Bắc Đức, được tiêu biểu qua những buổi liên hoan (Party) dành cho người đàn ông. Họ đi bộ, có người ngồi trên xe ngựa, đi xe đạp, xe đẩy (wheel barrows) hay trắc tơ (tractors) nối đuôi nhau kéo ra cánh đồng xanh vui chơi, ăn nhậu và sau đó trở về nhà nhưng ai nấy đều say túy toé. Lắm người uống quá nhiều nên mãi đến sáng hôm sau mới mò về nhà được. Với thời gian, nhất là giới trẻ, nhiều bà cũng tham dự Ngày Lễ Cha chung vui với chồng, kết quả của nền văn minh hiện đại “nam nữ bình quyền”.

Vì tiêu thụ khá nhiều rượu bia và càng ngày càng có nhiều người đàn ông (ngay cả những người chưa có con!) tham dự nên theo thống kê thường xảy ra lộn xộn, người ta hay đánh nhau trong Ngày Lễ Cha cho nên vì vậy ngày lễ này bị tai tiếng nhiều, được mang thêm cái tên là “ngày lễ uống say và đánh lộn”, buồn cười là đàn bà lại đánh nhau trong ngày lễ đàn ông, ngoài tai nạn lưu thông do quí ông say rượu gây ra đã làm cho cảnh sát và các cơ quan cứu cấp làm việc tới tấp trong dịp này.
tinh_cha_con
Người lính VNCH với tình phụ tử.
- Hòa Lan:
Ngày Lễ Cha được du nhập vào Hoà Lan kể từ năm 1936. Tại đây, những người cha tụ họp lại tổ chức những buổi tiệc dành riêng cho đàn ông có ca nhạc và nhảy múa.

- Áo:
Khác với Đức, ngày Lễ Cha tại nước Áo được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng sáu và đặc biệt thường được tổ chức giữa những người có đức tin nên mang tính cách tôn giáo nhiều hơn. Tương tự như Ngày Lễ Mẹ, đây là dịp mà con cái người Áo đi mua bông, mua quà nho nhỏ để tặng Cha. Lần đầu tiên ngày Lễ Cha được tổ chức vào năm 1956 tại Áo.


- Thụy Sĩ:
Khá phức tạp khi đề cập đến ngày Lễ Cha tại Thụy Sĩ vì ngày lễ này không mang nhiều ý nghĩa quan trọng đối với dân Thụy Sĩ và nếu có thì cũng tổ chức vào ngày Lễ Thăng Thiên, giống như Đức. Đặc biệt, những buổi tiệc vui hay sinh hoạt như tổ chức du ngoạn nhân ngày Lễ Cha thường được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ hai hay thứ ba của tháng sáu.

- Lục Xâm Bảo:
Nước Lục Xâm Bảo tổ chức ngày Lễ Cha vào ngày chủ nhật đầu tiên của tháng mười. Con cái thương hay mua bông và quà để tặng người Cha.

- Thái lan:
Người Thái gọi ngày Lễ Cha là “Wan Phor” và là ngày Quốc Lễ, dân chúng được nghỉ làm vì đó cũng là ngày sinh nhật của Vua Bhumibol Adulyadej, mồng năm tháng 12. Trong ngày Lễ này Thái vinh danh những người Cha gương mẫu của toàn nước Thái.

Trong năm 2004 có đến 327 người Cha được vinh danh. Nếu ngày 5.12 là ngày chủ nhật thì Thái, không liên quan gì đến ngày sinh nhật Vua, sẽ dời ngày Lễ này sang ngày thứ hai kế tiếp.

- Nam Hàn:
Tại Nam Hàn, ngày Lễ Cha còn được gọi là ngày trẻ con (childrens day) và cũng là ngày Quốc Lễ, nhằm tạo điều kiện và cơ hội cho người cha đùa chơi với con cái tại những công viên (parks) hay có thì giờ để chung vui với con cái.

- Thổ nhĩ Kỳ:
Tại Thổ, ngày Lễ Cha được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ ba của tháng sáu. Và cũng giống như nước Áo, không phải là ngày thuần túy cho đàn ông, tổ chức tương tự ngày Lễ Mẹ.

- Mỹ:
Tại Mỹ, ngày Lễ Cha tương đối được trọng vọng, không thua gì ngày Lễ Mẹ và được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ ba của tháng Sáu, năm 2013 nhằm ngày 16 tháng Sáu. Trọng điểm của ngày lễ này là người cha mà biểu tượng chính cho ngày Lễ Cha tại Mỹ là Cà Vạt, xe hơi (càng chạy nhanh càng tốt) và những hoạt độ thể thao như đánh Golf hay đi câu cá.

Lần đầu tiên, vào năm 1909, Bà B. Dodd nảy ra ý kiến tổ chức Fathers Day để vinh danh Cha của bà, ông William Smart, là một cựu chiến binh trong cuộc nội chiến vào những năm 1861-1865. Mẹ của bà ta bị chết sau khi sanh xong đứa con thứ sáu và ông Smart đã một mình nuôi đứa con vừa lọt lòng cũng như lo chăm sóc cho năm đứa con dại khác tại một nông trại thuộc miền Đông tiểu bang Washington. Vì thế bà B. Dodd muốn vinh danh người cha đã có nghị lực nuôi dưỡng sáu người con.

Ngày Lễ Cha đầu tiên được tổ chức vào ngày 19.06.1910 tại Spokon/Washington.

Cùng thời điểm nhiều thành phố khác trên nước Mỹ cũng tổ chức ngày lễ vinh danh những người cha. Ngày lễ thành công đến độ Tổng Thống Calvin Coolidge lên tiếng hổ trợ và đề nghị chọn một ngày Lễ Cha chung cho từng tiểu bang nước Mỹ.

Với thời gian, hầu hết mọi giới người Mỹ đều chấp nhận ngày lễ này nên vào năm 1974, Tổng thống Richard Nixon đã tuyên bố chính thức chấp nhận ngày Lễ Cha làm ngày Quốc Lễ và chọn ngày chủ nhật thứ ba của tháng sáu làm Ngày Lễ Cha của Mỹ. Tại Mỹ, con cái mua bông hoa, làm thơ, mua quà tặng cho người Cha.

Riêng trong năm 1997 đã có hơn 90 triệu thiệp mừng được bán nhân ngày lễ này. Giống như ở Đức, vì được xem như là ngày lễ dành riêng cho đàn ông nên ở Mỹ, người cha cũng thường hay ngồi xe ngựa diễn hành để vui mừng ngày lễ cho chính mình, ngoài những buổi du ngoạn chung giữa cha con và đây chính là kỷ niệm mà hầu hết “những người đàn ông Mỹ” sau này khi lớn lên họ không khi nào quên được.

Người viết tóm lược nguồn gốc Ngày Lễ Cha xứ người để giới thiệu cùng độc giả và hy vọng qua đó người Việt tỵ nạn cộng sản, nếu đang định cư tại một trong những quốc gia kê trên biết thêm (nếu chưa) được chút ít phong tục tập quán người bản xứ hầu từ đó có thể dễ dàng hội nhập hơn.

Vì tính cách tổng quát của bài viết chắc chắn còn nhiều thiếu sót, mong quý độc giả thông cảm và bổ túc thêm.

- Lê hoàng Thanh

- (Viết xong 2007, hiệu đính nhân ngày Fathers Day 16.6.2013 = Le jour de père=Vatertag)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.