Hôm nay,  

Trượt Dốc Thời Gian 30 Tháng 4

09/05/201300:00:00(Xem: 12992)
Trong hồi ký anh N.

Cái nóng Sài Gòn Tháng Tư hắt vào vòm lá cháy khô vàng hực nắng. Không gian im gió như ẩn tàng những cơn giông sẽ bất chợp ụp xuống thành phố bất cứ lúc nào. Tôi chạy hốt hoảng trong dòng xe cộ, xuôi ngược, nhốn nháo. Không một chiếc xe ôm nào chờ chực ở góc đường. Tất cả phương tiện chuyên chở công cộng đều vắng bóng. Dường như họ ngầm bảo nhau biến mất khỏi thế giới loài người. Tim tôi xóc mạnh, chân bước tựa đang mơ. Cơn chiêm bao có vuốt sắc của con ác thú cào nhẹ thành bao tử. Khuôn mặt thành phố câm lặng một cách ngột ngạt tưởng chừng có thể bùng cơn bão lửa. Cái khát làm họng khô rang, những chỗ da non gặp mồ hôi ẩm làm tôi bắt đầu ngứa, hậu quả của ba ngày chưa tắm. Khi nhận được điện tín bố nhắn “Bà mất, về gấp”. Tôi biết bố báo tin ngầm gia đình sắp đi. Tôi năn nỉ, cạy cục mãi thượng cấp mới cho phép về Sài Gòn chịu tang. Thật ra, bà tôi mất lâu lắm rồi. Vừa trình diện bộ Tổng tư lệnh xong, được tin đêm nay di tản, tôi vội vã xoay cách, tìm về nhà. Suốt một tiếng đồng hồ không tìm được xe nào chịu cho quá giang, tôi chạy như lạc giữa thành phố bỏ hoang khi nền văn minh địa cầu sụp đổ. Tiếng gọi xe chìm vào hư không, mất hút vào bãi sậy ảo ảnh, xao xác gió nóng. Tôi lột chiếc đồng hồ trên tay cho cuộc trao đổi. Người thanh niên đồng ý chở tôi về nhà. Tôi sẽ được gặp bố, mẹ, các em. Phải đưa tất cả ra khơi đêm nay.

Trong hồi ức của tôi

Tôi không biết làm gì khi cả nhà đi đâu mất. Tôi được giao nhiệm vụ trông nhà. Bố bảo sẽ ra bến Bạch Đằng tìm đường. Tụt lên tụt xuống chiếc thang gỗ chán, tôi leo lên sân thượng ngồi ngắm bông. Chậu hoa Đại trổ vàng rực rỡ. Trời lơ đãng thả vài cụm mây ngoằn ngoèo dị dạng. Một chú ong mật bay vù vào mặt. Sợ ong chích, tôi chạy bay xuống lầu, ra đường đứng ngóng người. Từng đoàn xe nhà binh qua thành phố. Những người lính mặt hoang mang. Anh N về đến, cả nhà cùng ra bến Bạch Đằng với quần áo và tư trang cho một chuyến đi.

Trong hồi ký chị H

Tôi ngồi thu mình trong góc nhỏ chiến hạm. Cả nhà tôi cùng co lại. Đêm thẳm sâu mùi muối pha nhớt. Tín hiệu im lặng tuyệt đối được truyền ra. Dường như ai cũng nín thở. Tàu chưa được lịnh nhổ neo. Tôi ước ao một cơn mưa đổ xuống làm tan đi thứ không khí đặc quánh này. Cơn sợ nhen nhúm lúc càng lớn. Có cái gì căng cứng phía dưới bụng, tôi nhận ra bọng đái mình đầy ứ. Từ chiều tới giờ, lê la theo gia đình tìm đường, tôi chưa đi tiểu. Bạn anh N, anh Kh, dẫn tôi qua cổng gác. Những người lính Hải Quân đang ôm súng giơ tay chào. Họ hỏi “Dẫn bồ theo hả”. Anh Kh. nhỏ nhẹ phân trần “H đừng sợ, bạn anh đùa thôi”. Anh dịu dàng nắm tay tôi, cái nắm ân cần như hai năm sau lúc anh tỏ tình. Cuối cùng bạn anh nói “Lên HQ2 đi, ở đó nhiều tướng, chắc an ninh hơn”. Chúng tôi leo lên tàu rất vất vả vì chen lấn, ai cũng sợ bị bỏ lại. Tôi líu ríu theo anh, bước dài, bước ngắn, bước mộng du. Anh N chộp vai tôi, đưa đến trước chiếc cầu bắc vào chiến hạm HQ2 la to: “H leo lên đi, vất cái túi đang mang xuống biển, cả dép nữa cho dễ leo”. Biển hun hút vực thẳm. Một người bị trượt ngã, rớt xuống nước nhanh như cánh diều đứt dây. Không ai buồn cứu. Bên tai tôi ồn ã tiếng la, réo gọi, nấc nghẹn, tuyệt vọng, hãi hùng. Tôi không kịp thấy bàn tay nào vươn lên từ mặt nước sánh đen. Những cặp mắt bàng hoàng không kịp nói điều gì hơn sự im lặng. Con người chỉ còn thuần loài thú hai chân săn tìm sự sống. Bản năng sinh tồn gầm lên tiếng rống dũng mãnh một con sư tử. Sóng thao thiết vỗ. Đêm vẫn xanh rất xanh. Bỗng có tiếng nổ lớn kinh hoàng. Sau này người ta kể đó là chiếc tàu có chở nhà văn Chu Tử bị trúng đạn pháo kích và ông đã thiệt mạng trong chuyến đi này. Lại có lịnh nhắc nhở mọi người phải giữ im lặng và bất động tuyệt đối. Tôi thấy ươn ướt giữa hai đùi. Không giữ được nữa rồi. Nước tiểu lênh láng chảy xuống sàn tàu. Lần đầu tiên tôi đái dầm như đứa trẻ lên ba. Chưa bao giờ tôi thấy dễ chịu hơn lúc này. Cái cảm giác thư thái và thích thú, chỉ mình biết, mình hay. Dòng nước vàng óng, loại nước thải ấy được tự do chảy, hệt như mỗi lần tắm, tôi thả trôi, mặc nó luồn lách giữa hai chân. Như ngày nào tôi còn hồn nhiên tắm, hồn nhiên đái, không e dè, mắc cỡ cho đến ngày kia tôi phát giác mình bị nhìn trộm lúc tắm. Cái lỗ nhỏ ở góc phòng tắm mà gã thanh niên ở trọ khoan, đã cướp mất tuổi thơ trong sáng của tôi. Từ đó tôi không còn hồn nhiên đái khi tắm nữa.

Tôi giật mình tỉnh giấc, mở mắt để kịp thấy bóng người thanh niên. Hắn rút tay ra khỏi chỗ kín của tôi và lẩn vào bóng đêm nhanh như một con beo. Tôi nhận ra mình vừa bị rờ trộm. Sao trên trời lấp lánh sáng. Gió đồng loã thổi đen tâm hồn tôi lem luốc. Người con trai đã đánh thức tôi, đánh thức đợt cồn dục vọng ngoằn ngoèo gợn sóng, dồn lên rồi gấp khúc. Cảm giác tưng tức bên dưới còn râm ran. Tựa như lần tôi bị gã con trai nào đó ấn cái vật nóng hổi vào phía sau mông trong một rạp chiếu bóng quá đông người đến nỗi không còn chỗ ngồi, tôi phải đứng mà xem. Tôi trở mình nằm sấp, dấu cái vật tam giác nhô cao ấy xuống sàn tàu. Đêm nở những cánh uất kim hương đen rực rỡ. Đèn của đệ thất hạm đội xa xa đủ màu nhấp nháy như hội hoa đăng. Đêm nay là đêm thứ ba gia đình tôi ngủ trên boong tàu trong sự gặp gỡ hoà bình sâu xa của trời và nước. Và tôi của tớ hớ, tênh hênh không chiếu trải, không mền che đậy điệm, hoa đào phơi phới Tháng Tư. Một chú ong vừa ghé ngang tính toan nếm mật. Chúng tôi chiếm một góc gần ổ máy tàu và được mọi người đặt cho cái tên rất thân tình “Gia đình bác Tám”. L., người lính hải quân lúng túng đem khoe tôi tập thơ chép tay rất học trò. C., xum xoe bên mẹ tôi, trao tặng người mấy con cá nướng thơm phức mà mắt cứ nhìn chằm chằm vào ngực tôi. Đ., thản nhiên rủ tôi đi dạo trên boong, bỏ mặc những mắt nhìn phía sau. Sau ba đêm bình yên, người ta đã quên nỗi kinh hoàng. Sự sống mở toang cánh cửa. Thượng đế và tín ngưỡng không còn bị lạm dụng bởi sự nài nỉ, van xin hay nhắc nhở tới nữa. Con người trở về sinh hoạt bình thường, ăn, ngủ, thở và thèm khát những thứ bị thiếu thốn. Thực phẩm và nước uống thì không thiếu vì đây là một chiến hạm có dự trữ lương thực cho mấy tháng, mà tàu vì có nhiều vị tướng nên số người được phép lên tàu rất giới hạn. Những người lính Hải Quân theo tàu lênh đênh trên biển một thời gian dài, chưa kịp về thăm gia đình, giờ lại tiếp tục cuộc hải hành bỏ nước ra đi. Họ cô đơn, thèm khát mái ấm gia đình, muốn kể lể chia sẻ nỗi hoang mang, tâm tư bất ổn, thèm trò chuyện về một ước mơ chưa đạt. Họ tìm đến tôi như một chỗ tựa khoảnh khắc, ấm lặng để khoả lấp khoảng trống thời gian vô vị trên tàu. Nghĩ đến sự bất hạnh của họ, “lòng tôi chợt từ bi bất ngờ”. Tôi mặc nhiên tha thứ cho hành động của thanh niên nọ. Tối mai tôi sẽ nói với anh N cho tôi xuống hầm tàu ngủ gần anh. Dù tha thứ nhưng tôi vẫn không muốn việc “rờ trộm” này tái diễn.


Trong hồi ức của tôi

Từ sáng đến giờ, ngoài việc xếp hàng ăn điểm tâm ra tôi không biết làm gì. Vào thư viện đảo Wake đọc sách chán, lại ra biển ngắm dã tràng. Tôi đếm từng đợt sóng loang vào bờ cát. Thấy mình bé bỏng biết mấy giữa mênh mang nước xanh. Hàng dương không ngừng xào xạc tấu điệu biển cả... Xa xa là một ngôi nhà biệt lập sừng sững đứng nghiêng ở triền đồi cuối đảo. Tôi nghe kể, nơi đó giam giữ những người phạm tội. Tôi xem nó như điềm dữ, hay cơn ác mộng của mỗi đêm giấc ngủ đến chập chờn. Anh N. nói anh X. bị nhốt trong căn nhà ấy. Anh X. đã nổi loạn, đập phá, gây gổ, đánh nhau với ban quản đốc trại. Anh X. và anh Th., anh Kh. đều yêu chị H. của tôi. Nhiều lần nhìn ra hướng ấy, tôi cố hình dung, phía sau cánh cửa ghê khiếp kia là những thiên sứ bị đọa ngồi ngóng đám con gái có đôi chân thuôn dài như đuôi cá. Có đêm tôi mơ, chị H. xõa tóc hát bài ca trùng dương mê hoặc anh Th., anh X. và những chàng trai khác. Tôi nhớ ngày chị H. ngồi đàn piano trong thư viện đảo, anh Th. đến làm quen và trò chuyện. Ngày hôm sau anh nhờ tôi trao một bức thư cho chị H. Tôi núp trong bụi cây nhìn anh Th. hớn hở giấu trái táo sau lưng trân trọng trao tặng chị H. Mai cả nhà lên phi cơ đi Mỹ rồi, chị H ra bãi tiễn anh Th. bằng bài Biển Nhớ. Anh Th nói anh sẽ không bao giờ quên. Anh kể lể, thằng X. gây, đánh lộn với anh, nó bảo nó yêu em, anh nói, anh cũng yêu em và anh không biết phải làm sao. Rồi nó bị biệt giam ngoài căn nhà đó. Tôi không biết làm gì cho hết ngày lại lang thang trên đảo. Một cặp tình nhân núp trong bụi che ngang tấm khăn tắm có lẽ đang âu yếm nhau. Khuôn mặt người đàn ông da trắng thấp thoáng bên tờ bạc đô người con gái nhét vội dưới đống áo quần. Sáng qua trên đường đến nhà ăn, một ông Mỹ đã hỏi tôi “How much”. Tôi đưa mắt nhìn chị H. Chị tức tưởi “Họ xem tất cả những người con gái Việt Nam như điếm.” Ngày lên đường, tôi đi tìm bố nuôi Tony. Ông là một người Phi làm công trên đảo Wake. Sáu tháng ở đây, sáu tháng về Phi. Ông coi tôi như con và chỉ thêm tôi chút Anh văn. Ông thương trẻ con và hay phân phát kẹo bánh cho chúng. Bố Tony xúc động, trao tôi bức thư và một tờ giấy 20 đô. Ông bảo sẽ nhớ tôi lắm, qua Mỹ đừng quên ông, tiền ông cho, mua gì thì mua, nhưng thư, đến Mỹ hãy mở. Tôi cảm động nhìn ông rưng rưng. Khuôn mặt đen rám nắng của ông sáng lên ánh thân tình. Hôm sau không nén nổi tò mò, khi lên phi cơ tôi mở thư và nhờ anh N đọc giùm. Anh cười hăng hắc chảy cả nước mắt. Anh nói với cả nhà, lão Phi nói thương thầm và đòi cưới con bé T. làm vợ. Tôi chưng hửng, trời, em xem ông ta như bố. Anh N. chua chát. Khờ quá, đó là con đường tắt, nhanh nhất cho ông ta trở thành công dân Mỹ. Thôi con T. cứ lấy 20 đô ăn quà cho sướng, còn chuyện lão già thì quên đi. Tôi bùi ngùi, nhớ dòng nước mắt rơm rớm lúc chia tay và tình cảm thân thương của người cha già cho con gái. Mũi tên thời gian sẽ bắn đi, lòng tôi có vướng lại chút gì cho ông bố nuôi quá nhiệt tình này không? Mai tôi đi rồi, cả nhà đi rồi. Từ giã đảo, từ giã những ngày dài bình yên.

Trong hồi ký anh N

Con đường lên Processing Center không dài nhưng mỗi lần có việc phải lên đó tôi thấy mình như bước vào một thế giới khác. Ở đó tôi có thể xem Tivi, nói chuyện với những người sẽ phỏng vấn và bảo trợ mình. Tất cả tượng trưng cho người của thế giới bên ngoài trại. Một gia đình luật sư đã nhận bảo trợ gia đình tôi. Hai tuần nữa, chúng tôi sẽ được về Los Angeles, sẽ thực sự đứt đuôi nòng nọc rùng mình biến hóa, thành một người khác, nói một ngôn ngữ khác. Việt Nam sẽ thuộc về quá khứ. Giấc mơ về một nơi nắng ấm Cali thành sự thực. Đoá hướng dương mọc hoang ven dốc đường ngạo nghễ khoe đài vàng lụa nõn. Lũ kiến đánh hơi ngọt thi nhau rồng rắn kéo đến làm thịt cái nhụy đầy ắp những hạt chín tròn nảy nở. Ừ nảy nở như cặp mông của Q. người con gái bò lạc, B. bắt về được đêm qua. “Tiên sư nó, làm cả lều không ngủ được”. B. thì thầm vào tai tôi: “Nó hành nghề ở Vũng Tàu, qua đây thiếu chịu không nổi, cho không. Tao làm trước, tụi bay xếp hàng phiên sau”.

Đêm Tháng Tám Pendleton, sương muối dày đặc nhìn không rõ mặt nhau, lâu lâu tiếng sói tru dài vào không gian như điệu kèn u uất. Q. tới chiếc ghế bố thằng B. cắm cọc, căng vải trải giường bít bùng chung quanh từ hồi chiều. Con nhỏ thật thiện nghệ, chắc nó làm việc này mỗi đêm. Bố mẹ tôi kinh ngạc khi đi ăn cơm về thấy sừng sững nổi bật trong lều một căn phòng di động kín đáo, trắng toát. Tôi trằn trọc, Kh. đổi thế nằm. Có lẽ những thằng bạn cũng như tôi đang thao thức theo cơn động tình trên ghế bố thằng B.. Hình như mọi người đều chờ một tiếng động khác lạ hơn tiếng ngáy đơn điệu mỗi đêm của thằng B. Thứ tiếng động nhịp nhàng, đều đặn hay rin rít của ghế bố nhún gật vào mặt đất trải sỏi, thứ âm thanh vừa ú ớ, vừa rền rĩ. Dù khác lạ thế nào chăng nữa, nó cũng sẽ tấu lên giữa khuya một hợp âm những nhịp sống nhân bản du dương trong cuộc sống con người đầy rỗng lặng.

Tôi sắp bước qua dấu khắc thay đổi đời mình. Thật không biết thu vén, chuẩn bị gì cho cuộc hành trình sắp tới. Không biết bỏ lại và mang theo những gì. Nỗi buồn chán tuổi trẻ, sự chán ngán chiến tranh, mớ kiến thức từ chương từ thuở còn đi học, lý tưởng, đạo đức, thành kiến, hay những cơn mơ hoang tưởng?

Trịnh Thanh Thủy

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.