Hôm nay,  

Có Vàng Còn Phải Có Tâm

02/03/201300:00:00(Xem: 8326)
Chuyện vàng vọt, khi vàng vọt giá

Chúng ta đang ở giữa giai đoạn điều chỉnh giá vàng. Sau khi từ 1.500 Mỹ kim một troy ounce vào giữa năm 2011 bỗng vọt lên 1.800 đô la trong có vài tháng rồi tuột. Bây giờ giá vàng đang xập xình bên ngưỡng cửa ngàn sáu. Rồi sẽ lên hay xuống, ra sao? Nếu biết được, người viết đã mua máy bay riêng để đi nghỉ mát từ năm kia!

Trong khi chờ ngày xán lạn huy hoàng đó, xin hãy cứ đào vàng trong cái kho vô tận... là tin tức!

Ngày 16 Tháng Giêng vừa qua, Ngân hàng Liên bang Bundesbank của Đức thông báo là sẽ tuần tự hồi hương từng phần số vàng dự trữ mà Đức đã tạm ký thác (từ 60 năm nay) tại Ngân hàng Trung ương của Pháp và Ngân hàng Dự trữ Liên bang của Mỹ ở New York.

Cụ thể là từ nay đến cuối năm 2020, Đức sẽ trữ tại Frankfurt am Main phân nửa lượng vàng của mình (từ tỷ lệ 31% hiện nay). Lượng vàng gửi tại London thì không thay đổ, giữ nguyên tỷ 15% của tổng số dự trữ. Nhưng vàng gửi tại New York từ mức 45% sẽ còn là 37%, và số vàng gửi tại Paris từ mức 11% hiện nay thì sẽ đem về hết. Cũng lạ vì Pháp và Đức là hai lang giềng cột trụ của kiến trúc Âu Châu. Trừ dân trong nghề, ít ai chú ý đến cái tin lạ ấy.

Nếu chú ý thì ta thấy là từ Tháng 10 năm ngoái, ngân hàng trung ương Đức có giải thích rằng suốt thời Chiến tranh lạnh, Đức ký thác một phần dự trữ vàng của mình cho các đồng minh Mỹ, Anh, Pháp tại New York, London và Paris. Lượng vàng ấy còn có công dụng là vật thế chấp tại chỗ khi Đức cần Mỹ kim, đồng Bảng của Anh hay Phật lăng Pháp trong luồng giao dịch kinh tế.

Vài tuần sau, khi thấy dư luận xôn xao về chuyện chọn mặt gửi vàng, giới chức Bundesbank giải thích thêm rằng trong sáu chục năm, họ hoàn toàn tin cậy và không nghi ngờ gì về uy tín và sự an toàn của Ngân hàng Dự trữ New York. Niềm tin đá vàng giữa các đồng minh!

Tức là ai ơi, xin đừng sợ.

Diễn giải cho êm đềm, việc Đức tái phối trí lại 300 tấn vàng tại New York hay 374 tấn từ Paris về Frankfurt chẳng có ý nghĩa chính trị gì hết. Nhưng còn ý nghĩa kinh tế? Hoa Kỳ cứ tăng chi bừa phứa và mắc nợ lung tung nên có khi nào lại học thói... ngân hàng Việt Nam mà vọc tay vào kho vàng của thân chủ hay chăng? Nghi lắm!

Các nhà báo đa sự - không đa sự thì ai đi làm báo – bèn phỏng đoán lung tung, rằng có kho mà chẳng có vàng, hoặc vàng đã đổi tuổi, từ già bỗng thành trẻ, hay bốc hơi tới nơi nảo nơi nao... Nên Bundersbank phải ra sức trấn an, cứ như văn chương Hà Nội. Rằng "chuyện không có gì mà ầm ĩ"!

Bây giờ, hãy tạm rời thị trường vàng mà bước vào thế giới trinh thám gián điệp, ở gần hơn.

Tháng Tám năm 2011, Tổng thống Hugo Chavez là người hùng của nước hung Venezuela đã quyết định chuyển về nước 99 tấn vàng ký thác trong ngân hàng trung ương Anh quốc. Mà không chỉ bỏ Bank of England, Bộ Tài Chánh và Ngân hàng Trung ương của Venezuela còn lập kế hoạch đưa vàng của mình từ các nước Tây phương, kể cả Hoa Kỳ, về thủ đô Caracas.

Hoặc ký thác cho các nước đồng chí như Trung Quốc hay Liên bang Nga.


Chuyện trinh thám gián điệp là phải hộ tống vàng qua các quan ải thiếu thân thiện của bọn Đế quốc Tây phương. Chuyện đại thế chính trị là liệu ta có trở lại thời Chiến tranh lạnh hay chăng? "Dù sao mặc lòng" - lại một chữ nghĩa kiểu Hà Nội – sau quyết định của Hugo Chavez là vàng vọt giá lên đỉnh là 1.900 đô la vào Tháng Chín 2011!

Nghĩa là chưa thấy chiến tranh lạnh đâu cả thì dường như đã có trận chiến âm thầm trên mặt trận hối đoái: nếu xứ nào cũng hạ lãi suất, in tiền và phá giá đồng bạc cho rẻ để kích thích kinh tế qua gia tăng xuất cảng và hạn chế nhập cảng, thì cái mặt hàng phổ biến nhất, gọi là đồng tiền, có còn giá trị gì không? Câu hỏi đó mới dẫn đến câu hỏi kế tiếp: mặt hàng kia, là đồng vàng, sẽ ra sao?

Đồng tiền có giá trị đích thực nhất chính là đồng tiền vàng. Dự trữ vàng mới là bản vị đáng tin nhất cho giá trị của đồng tiền giấy. Khi thấy sợ vì nạn in tiền thả giàn, nhà nhà đều hết tin vào bàn tay vô hình của thị trường mà ghim vàng cho chặt. Venezuela, Đức, Hoà Lan, hay Cộng hoà Azerbaijan tại Trung Á đều lặng lẽ chuyển vàng về nước. Một đại gia đại bá như Trung Quốc cũng sẽ thông báo là tích thêm vàng trong kho dự trữ ngoại tệ trị giá hơn 3.300 tỷ đô la hiện nay.

Nếu Bắc Kinh xì ra rằng họ có vài ba hay ba bốn ngàn tấn vàng dự trữ thì chợ vàng của chúng ta sẽ ra sao? Đấy là chuyện vàng vọt của những năm tháng tới.

Nhìn trong trường kỳ, chúng ta đều thấy một trào lưu chung, là từ mấy chục năm nay các nước đang phát triển đã thủ vai con ong cái kiến: thắt lưng buộc bụng để nín thở qua sông cho con cái đời sau sẽ có một tương lai sáng láng hơn quá khứ lầm than của họ. Cụ thể là gia tăng sản xuất và lập kho dự trữ ngoại tệ rất dày để phòng xa những ngày thất bát. Từ năm 1995 đến 2011, tỷ trọng dự trữ của các nước "nghèo" trong kho ngoại tệ toàn cầu đã tăng vọt và lớn hơn dự trữ của các nước công nghiệp hoá giàu có.

Khi các nước giàu có lại học thói con ve mà tiêu xài không thèm tính thì những con kiến đó mới thấy sự bi quan của mình là chí lý.

Nhưng khi các nước đều thi đua phá giá và tăng chi để kích cầu - Obama chẳng phát minh ra cái gì hết – thì các nước nghèo đều chột dạ. Kho ngoại tệ của họ bị mất giá oan uổng nên vàng ròng mới là giải pháp an toàn hơn, còn hơn đồng Ếch xanh hay thùng dầu đen khó trữ mà dễ cháy!

Sự chuyển động âm thầm chậm rãi ấy cũng góp phần giải thích hiện tượng vàng lên giá, tăng 1.600 đồng trong 11 năm, từ 250 đô la đã lên tới 1850.

Trông người lại ngẫm đến ta. Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam hiện chỉ có vỏn vẹn hai chục tỷ đô la, đủ cho hai tháng rưỡi nhập cảng. Nghĩa là mỏng teng! Khoan nói đến chuyện đại gia chuyển bạc ra ngoài, nhiều lắm, mà nói đến cảnh ngộ nhà nước rắp tâm đào vàng... của dân. Hãy theo dõi chuyện trong nước mà xem.

Nhưng, như nàng Châu Long đã dạy trong vở chèo cổ Lưu Bình Dương Lễ, "có vàng còn phải có tâm!" Tâm không có thì vàng cũng hết.

Nghĩa tình hay quyền bính gì cũng chỉ là chuyện vàng vọt!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Câu hỏi đang đặt ra ở Biển Đông là Trung Quốc có âm mưu gì khi bất ngờ gia tăng đe dọa và phủ nhận quyền chủ quyền của các nước có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai và Brunei, vào lúc cả thế giới lo phòng, chống dịch nạn Vũ Hán, xuất phát từ Trung Quốc từ đầu năm 2020 (Coronavirus disease 2019 (COVID-19). Để trả lời cho thắc mắc này, cũng như liệu tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông có đưa đên nguy cơ chiến tranh hay không, xin mời bạn đọc theo dõi nội dung Cuộc phỏng vấn của tôi với Giáo sư ngoại hạng (Professor Emeritus), Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng, người từng giảng dậy nhiều năm về Quan hệ Quốc tế tại Đại học George Mason, gần Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Giáo sư Hùng là Học giả cao cấp bất thường trú của Trung tâm nghiên cứu Chiến lươc và quan hệ Quốc tế ở Washington, D.C. (Center for Strategic and International Studies, CSIS). Ngoài ra ông còn là Học giả vãng lai hai niên khóa 2015-2016 tại viện nghiên cứu nổi tiếng ISEAS-Yusof Is
Sau khi ông George Floyd bị chết dưới bạo lực cảnh sát, một phong trào biểu tình chống kỳ thị người da đen đã bùng nổ và lan rộng khắp nước Mỹ và trên thế giới. Phong trào có sự tham gia của mọi tầng lớp, của nhiều sắc tộc khác nhau, trong đó có người Việt Nam. Sự kiện này đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong tập thể người Việt, do cách nhìn trái chiều về vấn đề kỳ thị chủng tộc đối với người da đen và phong trào Black Lives Matter. Đặc biệt là giữa thế hệ trẻ và thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng. Là một tổ chức đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền Việt Nam, với chủ trương Đấu tranh bất bạo động, đảng Việt Tân đã từng lên tiếng ủng hộ các phong trào biểu tình của người dân như ở Hong Kong. Chúng tôi có cuộc phỏng vấn với ông Hoàng Tứ Duy, Phát ngôn nhân Đảng Việt Tân, về nhận xét của ông đối với phong trào Black Lives Matter và sự tham gia của giới trẻ Việt Nam trong các cuộc xuống đường đòi công lý cho người Mỹ da đen.
Trong khi tham vọng kiểm soát của chế độ toàn trị vẫn như cũ, có một số khác biệt giữa những nỗ lực của Mao và Tập Cận Bình. “Tư tưởng của Tập Cận Bình là một thay thế nhạt màu cho Sách Đỏ của Mao. Tập Cận Bình đã không thể đưa ra một ý thức hệ mạch lạc để truyền cảm hứng cho sự cuồng tín trong những người theo ông, khác một chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc chung chung. Mặt khác, Tập có các công cụ công nghệ khả dụng mà đơn giản là không áp dụng cho những nhà độc tài trong thế kỷ 20. Hệ thống tín dụng xã hội kết hợp tất cả các phương pháp của thông minh nhân tạo, dữ liệu quy mô, cảm biến lan tỏa và đặt các phương tiện này vào trong tay nhà nước Trung Quốc. Cả Stalin và Mao đều không thể kiểm soát trực tiếp các phong trào hàng ngày, lời nói và giao dịch của từng đối tượng theo cách mà đảng Trung Quốc về mặt lý thuyết có thể làm ngày nay.
Một dự luật đã được đưa ra Quốc Hội Nhân Dân của Đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại Bắc Kinh, và đúng một tuần lễ sau, dự luật này đã được nhanh chóng thông qua vả trở thành Đạo Luật An Ninh Quốc Gia (ĐLANQG) về Hồng Kông vào ngày 29 tháng 5. Khi đưa ra Quốc Hội Nhân Dân để bàn thảo và thông qua, dự luật này gồm 7 điểm chính, trong đó ba điểm quan trọng nhất để đối phó và triệt hạ quyền tự chủ cùa Hồng Kông là điều số 2, số 4, và số 6. Theo đó, Bắc Kinh sẽ ngăn chặn tất cả các nguồn yểm trợ từ bên ngoài vào Hồng Kông; sẽ sử dụng được các lực lượng đàn áp từ Bắc Kinh để dập tắt các cuộc biểu tình, những người tham dự biểu tình có thể quy tội phản quốc, ly khai; và từ đó Bắc Kinh sẽ khai triển ra những đạo luật khác để thực hiện các mưu đồ trên.
Đảng Cộng Sản Việt Nam có truyền thống bán nước từ Hồ Chí Minh cho đến ngày nay. Người bán nước số một là Nguyễn Phú Trọng, bán nước một cách tinh vi, từ những bí mật nầy đến những bí mật khác để lừa bịp nhân dân. Đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, xem như thời kỳ Bắc thuộc lần thứ năm. Tuổi tác đã cao, sức khỏe yếu kém mà muốn ôm cái ghế quyền lực suốt đời. Thủ hạ Nguyễn Hồng Diên thăm dò dư luận bằng những lời lẽ nâng bi quá đáng, làm phản tác dụng, gây phẩn nộ trong quần chúng. Tóm lại, Nguyễn Phú Trọng và đảng của ông đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, đó là tội đồ của dân tộc.
Khi còn trẻ, đôi lúc, tôi cũng (thoáng) có ý định sẽ trở thành một người cầm bút. Ở một xứ sở mà phần lớn người ta đều cầm cuốc, cầm búa, cầm kìm hay cầm súng… mà định cầm viết thì quả là một chuyện khá viển vông – nếu không muốn nói là hơi xa xỉ. Lúc không còn trẻ (nữa) tôi mới ngộ ra rằng: bút viết nó chọn người, chứ không phải là ngược lại – trừ khi mình cứ cầm đại thì không kể. Tôi không được (hay bị) lựa và cũng không có máu liều – như phần lớn quí vị trong Hội Nhà Văn Việt Nam Đương Đại – nên chuyện viết lách kể như … trớt quớt!
Nuôi dưỡng nền dân chủ giống như kẻ trồng cây: khi còn là hạt giống phải chống đỡ quạ tha gà mổ; cây còn non trẻ cần ngăn ngừa sâu bọ; đến lúc trưởng thành già nua phải chặt bớt những cành lớn không thì một cơn bão lớn sẽ làm đổ ngã thân cây. Việt Nam chưa có dân chủ nên tranh đấu đòi dân chủ. Nền dân chủ non trẻ tại Phi Luật Tân bị đe dọa trở lại độc tài. Dân chủ ở Mỹ trưởng thành lâu đời nay lại nảy sinh ra dấu hiệu già nua thoái hóa thành một hình dạng gì chưa nhận biết được.
Xét về cao độ thì Sơn Núi (Nguyễn Đức Sơn) ở thấp hơn nhiều bạn đồng nghiệp của mình – như Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự… – xa lắc. Những nhân vật này đều có thời là biên tập viên của tạp chí Lang Biang, tờ báo (đã bị đóng cửa) này lấy tên theo vùng cao nguyên lâm Viên mà họ đang sinh sống. Đỉnh Lâm Viên, ở Đà Lạt, cao hơn hai ngàn mét lận. Từ đây, muốn leo lên trời (để đái, hay làm gì tùy thích) còn tiện hơn nhiều. Ngoài lợi thế nhỏ nhặt này ra, những cư dân ở miền sơn cước gặp phải toàn là những điều (vô cùng) bất tiện. Họ xa cách (mịt mù) với thế giới văn minh, ở những đô thị miền xuôi. Tôm cá hì hục chở lên đến được đến cao nguyên (thường) đã bị ươn, và thông tin khi nhận được thì (ôi thôi) hoàn toàn đã cũ.
Giữa mùa đại dịch COVID-19, tại những buổi tường trình mỗi ngày, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Phó Tổng thống Mike Pence không ngớt tiên đoán sự lớn mạnh vượt bực của kinh tế quốc gia Hoa Kỳ sau khi tình hình dịch tễ lắng đọng. Hai ông nhấn mạnh rằng kinh tế Mỹ hậu-COVID-19 sẽ tìm lại thế quân bằng sau những chao đảo khiếp hãi khiến cả 40 triệu nhân công thất nghiệp trong vòng vỏn vẹn ba tháng trời. Đầu tháng Sáu, hy vọng bắt đầu le lói khi guồng máy kinh tế rục rịch mở cửa lại, ai nấy trông đợi ánh sáng tỏa lớn cuối đường hầm.Tuy nhiên, mặc dù người ta có quyền hy vọng vào sự thịnh vượng chung, nhưng sự thật là đối với các thành phần ít may mắn hơn trong xã hội (vâng, phần đông trong đó là những sắc dân da màu thiểu số), khó khăn kinh tế gần như là một điều chắc chắn. Ai cũng tưởng sau khi COVID-19 giáng một đòn chí tử lên kinh tế Hoa Kỳ, thì khoảng cách chênh lệch giữa hai thành phần giàu-nghèo sẽ phần nào thu hẹp, nhưng oái oăm thay, mọi bằng chứng cho thấy sự khác biệt ấy
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.