Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Vực Thẳm Tài Chính

11/12/201200:00:00(Xem: 9553)
...Dân Chủ đòi tăng thuế và Cộng Hòa đòi cắt chi tiêu...

Từ sau ngày bầu cử đến giờ, truyền thông, từ báo chí đến các đài truyền hình, đều làm rầm rộ câu chuyện mà họ gọi là “fiscal cliff”, mà kẻ viết này tạm dịch là “vực thẳm tài chính”. Câu chuyện này như thế nào?

Trước hết, hãy nói về nguyên tắc tổng quát.

Dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập, tổng thống chỉ được tiêu xài tiền mà quốc hội cho phép. Từ trước đến giờ, chi tiêu của Nhà Nước hầu như luôn luôn lớn hơn thu nhập (hầu hết là từ thuế đủ loại), do đó, Nhà Nước luôn mắc nợ thiên hạ, căn bản là qua việc bán công khố phiếu –tức là giấy nợ của Nhà Nước- cho các nhà đầu tư, có thể là cá nhân, công ty đầu tư, cũng có thể là chính phủ các nước khác. Hiện nay, Trung Cộng và các nước Ả Rập nắm giữ cả ngàn tỷ công khố phiếu Mỹ, là món hàng đầu tư chắc ăn nhất vì được bảo đảm bởi chính phủ Mỹ, tức là bởi cả nền kinh tế Mỹ.

Những khi cần thiết thì hành pháp xin lập pháp cho phép mượn tiền hay in công khố phiếu bán cho các nhà đầu tư. Để tránh thủ tục rườm rà rắc rối mỗi lần xin tiền lắt nhắt, thì lập pháp thường chấp nhận một mức đỉnh cao nhất mà Nhà Nước có thể đi vay. Khi đụng mức đỉnh thì hành pháp mới phải xin nâng mức đỉnh lên.

Nếu không nâng mức đỉnh thì tổng thống không vay thêm được nữa và Nhà Nước xập tiệm, tức là các chi tiêu như lương công chức và quân nhân, tiền già mỗi tháng, tiền hoàn trả medicare, medicaid, chi phí duy trì quân lực, và cả triệu thứ khác sẽ bị ngưng ngay. Quan trọng không kém là trong các chi tiêu của Nhà Nước, có cả tỷ tiền lãi phải trả cho các chủ nợ đang giữ công khố phiếu. Nếu không đi vay thêm để trả tiền lãi đó thì mức khả tín tín dụng của Nhà Nước sẽ bị giảm, các công ty thẩm định tín dụng sẽ giảm xếp hạng của công khố phiếu Mỹ. Sự giảm hạng đó sẽ đưa đến hậu quả tức thời là lãi suất công khố phiếu sẽ phải tăng nếu muốn tiếp tục bán được. Có nghiã là tiền lãi trên cả chục ngàn tỷ công nợ sẽ tăng, thâm thủng ngân sách tăng nữa và Nhà Nước lại thiếu tiền trầm trọng hơn. Một vòng xoáy càng ngày càng nguy hiểm vì càng lớn. Đã vậy, tăng lãi suất công khố phiếu sẽ kéo theo việc tăng lãi suất trên tất cả mọi loại vay mượn của tư nhân như lãi suất trên thẻ tín dụng, trên tiền vay mua nhà, mua xe, làm kinh doanh. Một tình trạng không thể chấp nhận được vì sẽ đưa đến sút giảm chi tiêu của quần chúng và suy trầm kinh tế.

Tất cả các tổng thống trong lịch sử cận đại đều liên tục xin lập pháp nâng mức nợ đỉnh này. TT Reagan xin nâng 18 lần, TT Clinton tám lần và TT Bush bẩy lần. Tất cả đều được thông qua không khó lắm. Hầu hết các lần xin nâng mức nợ của các tổng thống này đều thuộc loại nhỏ, vài trăm tỷ một lần. TT Obama cho đến giờ đã xin ba lần, nhưng lần nào cùng một hay hai ngàn tỷ.

Bây giờ, trở về thực tế hiện tại. Trở về 2009, năm đầu của TT Obama.

Tháng Hai 2009, vài ngày sau khi tuyên thệ nhậm chức, TT Obama ký luật tăng mức nợ đỉnh từ khoảng 11.000 tỷ lên 12.100 tỷ (được quốc hội do Dân Chủ kiểm soát biểu quyết trong những tháng cuối cùng của TT Bush), vài tháng sau, quốc hội cho tăng mức đỉnh lên 12.400 tỷ. Sau một năm dưới trào Obama, tháng Chạp 2009, chính quyền cho biết mức công nợ đã leo lên đến mức đỉnh và cần phải tăng thêm ngay. Phe bảo thủ Cộng Hòa chống đối khi thấy mức công nợ tăng quá nhanh, trong khi phần lớn nhu cầu chi tiêu cho các biện pháp chống khủng bố quốc nội đã được an bài xong từ thời TT Bush rồi, cũng như cuộc chiến tại Iraq đang xuống thang.

Phần lớn chi tiêu mới của TT Obama là cho

a) gói kích cầu –stimulus- gồm các trợ cấp an sinh (tiền thất nghiệp, phiếu thực phẩm, hay những quà cáp linh tinh như điện thoại miễn phí cho dân lợi tức thấp chẳng hạn),

b) chi tiêu để duy trì một số lớn cơ quan công quyền liên bang để tránh sa thải công chức theo yêu sách của nghiệp đoàn công chức rất mạnh,

c) tiền cho các dự án địa phương, coi như quà cáp cho các dân biểu, nghị sĩ Dân Chủ, gọi là “porks”, là những món quà ra mắt lấy lòng họ của tân tổng thống, và

d) tiền cứu nguy các hãng sản xuất xe.

Với đảng Dân Chủ nắm đa số tuyệt đối tại cả hai viện, mức công nợ đỉnh được nâng lên tới 14.300 tỷ, gần 2.000 tỷ, hơn xa tất cả những lần tăng trước, và hơn gấp ba lần trung bình hàng năm của TT Bush.

Để xoa dịu chống đối, TT Obama cho thành lập một ủy ban đặc nhiệm lưỡng đảng gồm gần hai chục chuyên gia dưới sự đồng chủ tọa của hai chính khách lão thành, Bowles (Dân Chủ, cựu phụ tá của TT Clinton) và Simpson (Cộng Hòa, cựu thượng nghị sĩ), có trách nhiệm khuyến cáo các biện pháp nhằm cân bằng ngân sách cho chính quyền Obama. Ủy Ban làm việc vài tháng rồi ra bản thảo khuyến cáo TT Obama cần cắt giảm chi tiêu mạnh, cải tổ luật thuế để loại bỏ các kẽ hở và các loại khấu trừ, và giảm thuế trên tiền lời của các công ty. Có vẻ rất gần chủ trương của Cộng Hòa, nên có bất đồng ngay trong nội bộ ủy ban, rốt cuộc không có báo cáo chính thức. TT Obama cám ơn ủy ban rồi cất bản thảo vào nhà kho.

Cuối năm 2010, một năm sau khi mức nợ đỉnh được tăng lên gần 2.000 tỷ, Bộ Trưởng Tài Chánh thông báo mức nợ đỉnh lại cần phải được khẩn cấp tăng thêm nữa.

Tình hình chính trị lúc này đã thay đổi. Với bầu cử tháng Mười Một 2010, Cộng Hoà chiếm đa số kiểm soát Hạ Viện và nhất quyết chỉ chấp nhận tăng mức nợ với điều kiện giảm chi tiêu cùng mức. Hai đảng bắt đầu cuộc tranh cãi, trong khi Bộ Tài Chánh thông báo có xào nấu lại sổ sách thì cũng chỉ kéo dài chi tiêu được đến tháng Năm 2011.

Dù biết vậy, nhưng hai bên vẫn cãi nhau cho đến tháng Tám năm 2011. Theo như thỏa thuận, mức công nợ được tăng lên 2.400 tỷ như TT Obama yêu cầu, đi cùng với một chương trình giảm 1.200 tỷ chi tiêu trong 10 năm thỏa thuận ngay khi đó. Một kế hoạch giảm chi tiêu thêm 1.200 tỷ nữa cũng trong 10 năm sẽ phải được quốc hội thỏa thuận trước 23 tháng Mười Một 2011. Nếu không có được sự thỏa thuận thứ hai đó, thì một loạt biện pháp sẽ tự động có hiệu lực ngay bắt đầu từ tháng Giêng năm 2013:

- luật giảm thuế của TT Bush sẽ mãn hạn, tất cả tỷ lệ thuế lợi tức sẽ tăng về lại lên mức cao của thời TT Clinton, cho tất cả mọi người, bất kể giàu nghèo, và thu nhập thuế sẽ tăng hơn 1.000 tỷ;

- thuế hưu trí (payroll tax for social security) sẽ tăng về lại mức cũ như thuế lợi tức (thuế này đều bắt buộc cho tất cả mọi người đang đi làm có lương, kể cả những người lợi tức thấp được miễn thuế lợi tức);

- chi tiêu của Nhà Nước, kể cả trợ cấp an sinh (social security, medicare, medicaid) và chi phí quốc phòng sẽ tự động bị cắt giảm 1.200 tỷ trong 10 năm.

Thời hạn 23/11/2011 đến rồi đi, chẳng có thoả thuận gì hết. Hai bên phải thỏa thuận được những biện pháp cắt chi tiêu mới trước cuối năm 2012, còn không thì những biện pháp mạnh nêu trên sẽ tự động có hiệu lực kể từ 2 tháng Giêng 2013.

Những biện pháp trên sẽ khiến thiên hạ vừa phải đóng thuế cao hơn (mỗi gia đình sẽ phải đóng thêm trung bình từ 2.000 đô đến 4.000 đô thuế một năm, và Nhà Nước có quyền khấu trừ trong phiếu lương ngay từ tháng Giêng 2013), vừa bị cắt trợ cấp, chẳng những thiệt thòi cho tất cả mà quan trọng hơn nữa, sẽ đưa đến suy xụp kinh tế nặng, đến độ Chủ Tịch hệ thống ngân hàng dự trữ liên bang Ben Bernanke đã phải gọi là “vực thẳm tài chính” (fiscal cliff).


Nói trắng ra, cả hai phe và cả nước sẽ bị thiệt hại nặng nếu không có thỏa hiệp trước cuối năm. Tại sao lại có loại điều kiện lạ lùng như vậy? Tình trạng này cũng gần giống như cuộc chạy đua vũ trang nguyên tử giữa Nga và Mỹ hồi xưa: cố tình đưa ra những hậu quả nguy hiểm như vậy để cả hai bên đều bắt buộc phải tương nhượng và thỏa thuận với nhau, nếu không cả hai bên đều chết. Sự thật, đây chỉ là giải pháp “câu giờ”, đẩy quyết định qua sau cuộc bầu cử tháng Mười Một 2012, vì cả hai bên đi đến bế tắc, đành phải chờ cuộc bầu cử quyết định thắng bại rồi tính sau.

Các công ty thẩm định tài chính thấy rõ bế tắc đó, và quyết định hạ điểm tín dụng của Mỹ.

Kết quả, cuộc bầu cử vừa qua đưa đến tình trạng vẫn như cũ, chẳng thay đổi cán cân chính trị hai bên, tức là vẫn bế tắc. Và bây giờ hai bên còn chưa tới một tháng để thoát ra ngõ bí. Tình hình có vẻ không mấy khả quan.

TT Obama đưa đề nghị mới nhất cho 10 năm tới, gồm có:

- tăng thu nhập thuế thêm 1.600 tỷ; dựa trên tăng thuế những người có lợi tức cao hơn 200.000 đô một năm (250.000 cho một cặp vợ chồng), và tăng thuế công ty, cũng như cắt bớt các loại khấu trừ, và tăng thuế lợi nhuận đầu tư và thuế thừa kế;

- cắt chi tiêu 600 tỷ, nhưng lại tăng chi tiêu kích cầu stimulus 200 tỷ (50 tỷ một năm trong bốn năm tới);

- triển hạn trợ cấp thất nghiệp, tức là tiếp tục chi tiêu trả tiền thất nghiệp;

- sang năm sẽ bàn về cắt chi tiêu thêm nữa, không có hứa hẹn gì rõ ràng;

- cho tổng thống quyền quyết định mức công nợ tối đa, không cần phải xin phép quốc hội nữa.

Tóm lại, tăng thuế 1.600 tỷ, cắt chi tiêu khoảng hai ba trăm tỷ gì đó không rõ ràng lắm, sau đó, sang năm bàn tiếp, đồng thời cho tổng thống quyền ấn định mức công nợ thả giàn (kiểu như ta xin thẻ tín dụng không giới hạn vậy). Các lãnh tụ Cộng Hòa đã phê bình đề nghị của TT Obama như là “nói chơi” (a joke), một đề nghị không mấy nghiêm chỉnh. Và họ đưa ra phản đề nghị.

Bên Cộng Hòa sẽ chấp nhận tăng thuế 800 tỷ không phải qua việc tăng thuế suất mà từ việc cải tổ đóng lại những kẽ hở cũng như tăng thu nhập nhờ phát triển kinh tế trong những năm tới, cắt giảm chi phí trong Obamacare (không phải trong medicare) khoảng 600 tỷ, sửa lại cách tính tiền già Social Security (điều chỉnh theo lạm phát) để tiết kiệm 200 tỷ, và 300 tỷ cắt giảm hay giới hạn các chi tiêu khác (phiếu thực phẩm, giao thông, giáo dục, …). Tóm lại, cắt chi tiêu 1.100 tỷ so với tăng thuế 800 tỷ. Mức tuổi lãnh tiền già và medicare cũng sẽ từ từ tăng từ 65 lên đến 67 tuổi trong vòng 20 năm bắt đầu từ 2015.

So sánh tổng quát, đề nghị Dân Chủ sẽ cắt giảm thâm thủng ngân sách khoảng 2.100 tỷ trong khi đề nghị Cộng Hoà cắt 2.200 tỷ, cách biệt không bao nhiêu, nhưng một trời một vực trong chi tiết, một bên nhờ tăng thuế, một bên nhờ giảm chi tiêu.

Vấn đề cắt giảm thâm thủng ngân sách gồm hai diện: Dân Chủ đòi tăng thuế và Cộng Hòa đòi cắt chi tiêu. Đề nghị của TT Obama là đề nghị một chiều, chỉ có tăng thuế mà không cắt chi tiêu bất chấp những lời kêu gọi “cân đối” (balanced approach) của TT Obama trong thời gian tranh cử vừa qua. Các chuyên gia ước tính chỉ có thể thu thuế “nhà giàu” tối đa –dựa trên giả thuyết không ai trốn thuế được- khoảng 900 tỷ. Có nghiã là TT Obama sẽ phải tăng thu nhập thuế doanh nghiệp 700 tỷ nữa. Nếu ta biết được những đại công ty như GM, APPLE, chẳng đóng một xu thuế nào, thì ta sẽ hiểu là tăng thu nhập thuế doanh nghiệp sẽ đánh thẳng vào khối trung và tiểu thương là khối không có khả năng trốn thuế “giỏi” như các đại công ty.

TT Obama đề nghị cắt chi tiêu 600 tỷ, nhưng lại kèm theo tăng kích cầu 200 tỷ, tiếp tục chi tiền thất nghiệp không rõ là bao nhiêu. Thế thì cắt chi tiêu tóm lại là một hai trăm tỷ tượng trưng, trong khi tăng thuế tới 1.600 tỷ. TT Obama hứa lờ mờ là vấn đề cắt chi tiêu sẽ được cứu xét thêm vào năm tới.

Mùa hè năm ngoái, trong khi điều đình với TT Obama, Chủ Tịch Hạ Viện Cộng Hòa John Boehner đã chấp nhận tăng thuế 800 tỷ, nhưng giờ chót, TT Obama bất ngờ đổi ý, đòi tăng thuế tới 1.200 tỷ nên cuộc điều đình tan vỡ. Bây giờ, TT Obama dựa trên chiến thắng vừa qua, lại đòi tăng thuế lên tới 1.600 tỷ chứ không còn là 1.200 tỷ nữa.

Đề nghị của TT Obama bị Cộng Hoà chỉ trích là chẳng những thiếu nghiêm chỉnh, mà còn phản ánh một thái độ ngạo mạn, có vẻ thách thức, không có gì gọi là có thiện chí “đại đoàn kết dân tộc” như khẩu hiệu tranh cử của ông năm 2008, cũng chẳng phản ánh ý định muốn thông ngõ bí.

Phản đề nghị của phe Cộng Hòa cũng là một chiều, cắt quá nhiều chi tiêu –nhất là trong các trợ cấp an sinh- trong khi thu quá ít thuế. Nhưng tương đối lại gần với đề nghị của Ủy Ban Đặc Nhiệm lưỡng đảng Bowles-Simpson do TT Obama thành lập.

Ta thấy khoảng cách biệt giữa hai bên lớn hơn ... núi Thái Sơn. Thật ra, những con số này đều quá đáng và không thực tế, được cả hai bên đưa ra để trình làng lấy điểm, rồi sau đó, hai bên sẽ đóng cửa, cãi nhau từng đồng, để rồi cuối cùng sẽ thoả thuận ở một mức nào đó, không giống các con số trên chút nào, mà tùy thuộc hoàn toàn vào những tính toán chính trị và khả năng thương lượng của đôi bên.

Có nhiều chuyên gia suy luận, TT Obama cũng như phe Cộng Hòa đều có thể đang tính toán, cố tình để nước Mỹ rơi xuống vực thẳm.

Nếu hai bên không thoả hiệp được thì cả nước sẽ bị tăng thuế, bất kể giàu nghèo, và TT Obama coi như có tiền xài ngay lập tức, trong khi lớn tiếng đổ thừa Cộng Hoà không chịu thỏa hiệp đưa đến tình trạng tăng thuế toàn diện. Trong khi đó, các cắt giảm chi tiêu kích động bởi thỏa thuận “vực thẳm” sẽ được trải dài ra trong 10 năm. Không có gì bảo đảm TT Obama sẽ không tiếp tục chi tiêu xả láng trong bốn năm tới, dồn những cắt giảm vào những năm sau khi ông đã mãn nhiệm kỳ, cho tổng thống nào lên kế vị phải lo. Tức là TT Obama lời to, vừa có thêm tiền xài, vừa khỏi cắt chi tiêu.

Ngược lại, dường như bên Cộng Hòa cũng tính toán, cho rơi xuống vực thẳm cũng có thể có lợi. Cả nước bị tăng thuế và cắt trợ cấp, sẽ khiến thiên hạ bất mãn chống chính quyền Obama, và đến bầu cử giữa mùa 2014, Cộng Hòa sẽ hy vọng thắng lớn tại cả thượng lẫn hạ viện.

Cũng có giả thuyết khác cho rằng hai bên đều chấp nhận cho rơi xuống vực thẳm trong ngắn hạn, có nghiã là sẽ không có thỏa thuận trước cuối năm nay. Báo chí sẽ làm ầm ĩ, nhưng rồi hai bên lúc đó sẽ nghiêm chỉnh điều đình, và đi đến thoả hiệp vài tháng sau cũng không muộn. Thoả hiệp đó sẽ không nói đến chuyện “tăng thuế” hay “cắt chi tiêu” nữa, mà sẽ gọi là “cải tổ” (reform) chính sách thuế khoá và “cải tổ” hệ thống trợ cấp an sinh, không có bên nào thắng hay thua hết.

Cả hai bên coi như đang đánh phé, tháu cáy qua lại, mang tiền thuế và tiền trợ cấp của chúng ta ra tố qua tố lại. Bên nào thắng chưa rõ, chỉ biết dân quèn chúng ta sẽ lãnh đủ, nếu không bị tăng thuế cũng sẽ bị bớt trợ cấp, có khi lãnh cả hai, hậu quả của mấy chục năm tiêu xài vung vít của tất cả mọi người, dân cũng như vua. (9-12-12)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: Vulinh11@gmail.com. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Ý kiến bạn đọc
11/12/201223:31:42
Khách
Những bài phân tích của ông Vũ Linh rất hay, tôi luôn tìm đọc vào mỗi thứ ba. Cảm ơn ông.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.