Hôm nay,  

Vực Thẳm Tài Chính

11/12/201200:00:00(Xem: 11690)
...Dân Chủ đòi tăng thuế và Cộng Hòa đòi cắt chi tiêu...

Từ sau ngày bầu cử đến giờ, truyền thông, từ báo chí đến các đài truyền hình, đều làm rầm rộ câu chuyện mà họ gọi là “fiscal cliff”, mà kẻ viết này tạm dịch là “vực thẳm tài chính”. Câu chuyện này như thế nào?

Trước hết, hãy nói về nguyên tắc tổng quát.

Dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập, tổng thống chỉ được tiêu xài tiền mà quốc hội cho phép. Từ trước đến giờ, chi tiêu của Nhà Nước hầu như luôn luôn lớn hơn thu nhập (hầu hết là từ thuế đủ loại), do đó, Nhà Nước luôn mắc nợ thiên hạ, căn bản là qua việc bán công khố phiếu –tức là giấy nợ của Nhà Nước- cho các nhà đầu tư, có thể là cá nhân, công ty đầu tư, cũng có thể là chính phủ các nước khác. Hiện nay, Trung Cộng và các nước Ả Rập nắm giữ cả ngàn tỷ công khố phiếu Mỹ, là món hàng đầu tư chắc ăn nhất vì được bảo đảm bởi chính phủ Mỹ, tức là bởi cả nền kinh tế Mỹ.

Những khi cần thiết thì hành pháp xin lập pháp cho phép mượn tiền hay in công khố phiếu bán cho các nhà đầu tư. Để tránh thủ tục rườm rà rắc rối mỗi lần xin tiền lắt nhắt, thì lập pháp thường chấp nhận một mức đỉnh cao nhất mà Nhà Nước có thể đi vay. Khi đụng mức đỉnh thì hành pháp mới phải xin nâng mức đỉnh lên.

Nếu không nâng mức đỉnh thì tổng thống không vay thêm được nữa và Nhà Nước xập tiệm, tức là các chi tiêu như lương công chức và quân nhân, tiền già mỗi tháng, tiền hoàn trả medicare, medicaid, chi phí duy trì quân lực, và cả triệu thứ khác sẽ bị ngưng ngay. Quan trọng không kém là trong các chi tiêu của Nhà Nước, có cả tỷ tiền lãi phải trả cho các chủ nợ đang giữ công khố phiếu. Nếu không đi vay thêm để trả tiền lãi đó thì mức khả tín tín dụng của Nhà Nước sẽ bị giảm, các công ty thẩm định tín dụng sẽ giảm xếp hạng của công khố phiếu Mỹ. Sự giảm hạng đó sẽ đưa đến hậu quả tức thời là lãi suất công khố phiếu sẽ phải tăng nếu muốn tiếp tục bán được. Có nghiã là tiền lãi trên cả chục ngàn tỷ công nợ sẽ tăng, thâm thủng ngân sách tăng nữa và Nhà Nước lại thiếu tiền trầm trọng hơn. Một vòng xoáy càng ngày càng nguy hiểm vì càng lớn. Đã vậy, tăng lãi suất công khố phiếu sẽ kéo theo việc tăng lãi suất trên tất cả mọi loại vay mượn của tư nhân như lãi suất trên thẻ tín dụng, trên tiền vay mua nhà, mua xe, làm kinh doanh. Một tình trạng không thể chấp nhận được vì sẽ đưa đến sút giảm chi tiêu của quần chúng và suy trầm kinh tế.

Tất cả các tổng thống trong lịch sử cận đại đều liên tục xin lập pháp nâng mức nợ đỉnh này. TT Reagan xin nâng 18 lần, TT Clinton tám lần và TT Bush bẩy lần. Tất cả đều được thông qua không khó lắm. Hầu hết các lần xin nâng mức nợ của các tổng thống này đều thuộc loại nhỏ, vài trăm tỷ một lần. TT Obama cho đến giờ đã xin ba lần, nhưng lần nào cùng một hay hai ngàn tỷ.

Bây giờ, trở về thực tế hiện tại. Trở về 2009, năm đầu của TT Obama.

Tháng Hai 2009, vài ngày sau khi tuyên thệ nhậm chức, TT Obama ký luật tăng mức nợ đỉnh từ khoảng 11.000 tỷ lên 12.100 tỷ (được quốc hội do Dân Chủ kiểm soát biểu quyết trong những tháng cuối cùng của TT Bush), vài tháng sau, quốc hội cho tăng mức đỉnh lên 12.400 tỷ. Sau một năm dưới trào Obama, tháng Chạp 2009, chính quyền cho biết mức công nợ đã leo lên đến mức đỉnh và cần phải tăng thêm ngay. Phe bảo thủ Cộng Hòa chống đối khi thấy mức công nợ tăng quá nhanh, trong khi phần lớn nhu cầu chi tiêu cho các biện pháp chống khủng bố quốc nội đã được an bài xong từ thời TT Bush rồi, cũng như cuộc chiến tại Iraq đang xuống thang.

Phần lớn chi tiêu mới của TT Obama là cho

a) gói kích cầu –stimulus- gồm các trợ cấp an sinh (tiền thất nghiệp, phiếu thực phẩm, hay những quà cáp linh tinh như điện thoại miễn phí cho dân lợi tức thấp chẳng hạn),

b) chi tiêu để duy trì một số lớn cơ quan công quyền liên bang để tránh sa thải công chức theo yêu sách của nghiệp đoàn công chức rất mạnh,

c) tiền cho các dự án địa phương, coi như quà cáp cho các dân biểu, nghị sĩ Dân Chủ, gọi là “porks”, là những món quà ra mắt lấy lòng họ của tân tổng thống, và

d) tiền cứu nguy các hãng sản xuất xe.

Với đảng Dân Chủ nắm đa số tuyệt đối tại cả hai viện, mức công nợ đỉnh được nâng lên tới 14.300 tỷ, gần 2.000 tỷ, hơn xa tất cả những lần tăng trước, và hơn gấp ba lần trung bình hàng năm của TT Bush.

Để xoa dịu chống đối, TT Obama cho thành lập một ủy ban đặc nhiệm lưỡng đảng gồm gần hai chục chuyên gia dưới sự đồng chủ tọa của hai chính khách lão thành, Bowles (Dân Chủ, cựu phụ tá của TT Clinton) và Simpson (Cộng Hòa, cựu thượng nghị sĩ), có trách nhiệm khuyến cáo các biện pháp nhằm cân bằng ngân sách cho chính quyền Obama. Ủy Ban làm việc vài tháng rồi ra bản thảo khuyến cáo TT Obama cần cắt giảm chi tiêu mạnh, cải tổ luật thuế để loại bỏ các kẽ hở và các loại khấu trừ, và giảm thuế trên tiền lời của các công ty. Có vẻ rất gần chủ trương của Cộng Hòa, nên có bất đồng ngay trong nội bộ ủy ban, rốt cuộc không có báo cáo chính thức. TT Obama cám ơn ủy ban rồi cất bản thảo vào nhà kho.

Cuối năm 2010, một năm sau khi mức nợ đỉnh được tăng lên gần 2.000 tỷ, Bộ Trưởng Tài Chánh thông báo mức nợ đỉnh lại cần phải được khẩn cấp tăng thêm nữa.

Tình hình chính trị lúc này đã thay đổi. Với bầu cử tháng Mười Một 2010, Cộng Hoà chiếm đa số kiểm soát Hạ Viện và nhất quyết chỉ chấp nhận tăng mức nợ với điều kiện giảm chi tiêu cùng mức. Hai đảng bắt đầu cuộc tranh cãi, trong khi Bộ Tài Chánh thông báo có xào nấu lại sổ sách thì cũng chỉ kéo dài chi tiêu được đến tháng Năm 2011.

Dù biết vậy, nhưng hai bên vẫn cãi nhau cho đến tháng Tám năm 2011. Theo như thỏa thuận, mức công nợ được tăng lên 2.400 tỷ như TT Obama yêu cầu, đi cùng với một chương trình giảm 1.200 tỷ chi tiêu trong 10 năm thỏa thuận ngay khi đó. Một kế hoạch giảm chi tiêu thêm 1.200 tỷ nữa cũng trong 10 năm sẽ phải được quốc hội thỏa thuận trước 23 tháng Mười Một 2011. Nếu không có được sự thỏa thuận thứ hai đó, thì một loạt biện pháp sẽ tự động có hiệu lực ngay bắt đầu từ tháng Giêng năm 2013:

- luật giảm thuế của TT Bush sẽ mãn hạn, tất cả tỷ lệ thuế lợi tức sẽ tăng về lại lên mức cao của thời TT Clinton, cho tất cả mọi người, bất kể giàu nghèo, và thu nhập thuế sẽ tăng hơn 1.000 tỷ;

- thuế hưu trí (payroll tax for social security) sẽ tăng về lại mức cũ như thuế lợi tức (thuế này đều bắt buộc cho tất cả mọi người đang đi làm có lương, kể cả những người lợi tức thấp được miễn thuế lợi tức);

- chi tiêu của Nhà Nước, kể cả trợ cấp an sinh (social security, medicare, medicaid) và chi phí quốc phòng sẽ tự động bị cắt giảm 1.200 tỷ trong 10 năm.

Thời hạn 23/11/2011 đến rồi đi, chẳng có thoả thuận gì hết. Hai bên phải thỏa thuận được những biện pháp cắt chi tiêu mới trước cuối năm 2012, còn không thì những biện pháp mạnh nêu trên sẽ tự động có hiệu lực kể từ 2 tháng Giêng 2013.

Những biện pháp trên sẽ khiến thiên hạ vừa phải đóng thuế cao hơn (mỗi gia đình sẽ phải đóng thêm trung bình từ 2.000 đô đến 4.000 đô thuế một năm, và Nhà Nước có quyền khấu trừ trong phiếu lương ngay từ tháng Giêng 2013), vừa bị cắt trợ cấp, chẳng những thiệt thòi cho tất cả mà quan trọng hơn nữa, sẽ đưa đến suy xụp kinh tế nặng, đến độ Chủ Tịch hệ thống ngân hàng dự trữ liên bang Ben Bernanke đã phải gọi là “vực thẳm tài chính” (fiscal cliff).


Nói trắng ra, cả hai phe và cả nước sẽ bị thiệt hại nặng nếu không có thỏa hiệp trước cuối năm. Tại sao lại có loại điều kiện lạ lùng như vậy? Tình trạng này cũng gần giống như cuộc chạy đua vũ trang nguyên tử giữa Nga và Mỹ hồi xưa: cố tình đưa ra những hậu quả nguy hiểm như vậy để cả hai bên đều bắt buộc phải tương nhượng và thỏa thuận với nhau, nếu không cả hai bên đều chết. Sự thật, đây chỉ là giải pháp “câu giờ”, đẩy quyết định qua sau cuộc bầu cử tháng Mười Một 2012, vì cả hai bên đi đến bế tắc, đành phải chờ cuộc bầu cử quyết định thắng bại rồi tính sau.

Các công ty thẩm định tài chính thấy rõ bế tắc đó, và quyết định hạ điểm tín dụng của Mỹ.

Kết quả, cuộc bầu cử vừa qua đưa đến tình trạng vẫn như cũ, chẳng thay đổi cán cân chính trị hai bên, tức là vẫn bế tắc. Và bây giờ hai bên còn chưa tới một tháng để thoát ra ngõ bí. Tình hình có vẻ không mấy khả quan.

TT Obama đưa đề nghị mới nhất cho 10 năm tới, gồm có:

- tăng thu nhập thuế thêm 1.600 tỷ; dựa trên tăng thuế những người có lợi tức cao hơn 200.000 đô một năm (250.000 cho một cặp vợ chồng), và tăng thuế công ty, cũng như cắt bớt các loại khấu trừ, và tăng thuế lợi nhuận đầu tư và thuế thừa kế;

- cắt chi tiêu 600 tỷ, nhưng lại tăng chi tiêu kích cầu stimulus 200 tỷ (50 tỷ một năm trong bốn năm tới);

- triển hạn trợ cấp thất nghiệp, tức là tiếp tục chi tiêu trả tiền thất nghiệp;

- sang năm sẽ bàn về cắt chi tiêu thêm nữa, không có hứa hẹn gì rõ ràng;

- cho tổng thống quyền quyết định mức công nợ tối đa, không cần phải xin phép quốc hội nữa.

Tóm lại, tăng thuế 1.600 tỷ, cắt chi tiêu khoảng hai ba trăm tỷ gì đó không rõ ràng lắm, sau đó, sang năm bàn tiếp, đồng thời cho tổng thống quyền ấn định mức công nợ thả giàn (kiểu như ta xin thẻ tín dụng không giới hạn vậy). Các lãnh tụ Cộng Hòa đã phê bình đề nghị của TT Obama như là “nói chơi” (a joke), một đề nghị không mấy nghiêm chỉnh. Và họ đưa ra phản đề nghị.

Bên Cộng Hòa sẽ chấp nhận tăng thuế 800 tỷ không phải qua việc tăng thuế suất mà từ việc cải tổ đóng lại những kẽ hở cũng như tăng thu nhập nhờ phát triển kinh tế trong những năm tới, cắt giảm chi phí trong Obamacare (không phải trong medicare) khoảng 600 tỷ, sửa lại cách tính tiền già Social Security (điều chỉnh theo lạm phát) để tiết kiệm 200 tỷ, và 300 tỷ cắt giảm hay giới hạn các chi tiêu khác (phiếu thực phẩm, giao thông, giáo dục, …). Tóm lại, cắt chi tiêu 1.100 tỷ so với tăng thuế 800 tỷ. Mức tuổi lãnh tiền già và medicare cũng sẽ từ từ tăng từ 65 lên đến 67 tuổi trong vòng 20 năm bắt đầu từ 2015.

So sánh tổng quát, đề nghị Dân Chủ sẽ cắt giảm thâm thủng ngân sách khoảng 2.100 tỷ trong khi đề nghị Cộng Hoà cắt 2.200 tỷ, cách biệt không bao nhiêu, nhưng một trời một vực trong chi tiết, một bên nhờ tăng thuế, một bên nhờ giảm chi tiêu.

Vấn đề cắt giảm thâm thủng ngân sách gồm hai diện: Dân Chủ đòi tăng thuế và Cộng Hòa đòi cắt chi tiêu. Đề nghị của TT Obama là đề nghị một chiều, chỉ có tăng thuế mà không cắt chi tiêu bất chấp những lời kêu gọi “cân đối” (balanced approach) của TT Obama trong thời gian tranh cử vừa qua. Các chuyên gia ước tính chỉ có thể thu thuế “nhà giàu” tối đa –dựa trên giả thuyết không ai trốn thuế được- khoảng 900 tỷ. Có nghiã là TT Obama sẽ phải tăng thu nhập thuế doanh nghiệp 700 tỷ nữa. Nếu ta biết được những đại công ty như GM, APPLE, chẳng đóng một xu thuế nào, thì ta sẽ hiểu là tăng thu nhập thuế doanh nghiệp sẽ đánh thẳng vào khối trung và tiểu thương là khối không có khả năng trốn thuế “giỏi” như các đại công ty.

TT Obama đề nghị cắt chi tiêu 600 tỷ, nhưng lại kèm theo tăng kích cầu 200 tỷ, tiếp tục chi tiền thất nghiệp không rõ là bao nhiêu. Thế thì cắt chi tiêu tóm lại là một hai trăm tỷ tượng trưng, trong khi tăng thuế tới 1.600 tỷ. TT Obama hứa lờ mờ là vấn đề cắt chi tiêu sẽ được cứu xét thêm vào năm tới.

Mùa hè năm ngoái, trong khi điều đình với TT Obama, Chủ Tịch Hạ Viện Cộng Hòa John Boehner đã chấp nhận tăng thuế 800 tỷ, nhưng giờ chót, TT Obama bất ngờ đổi ý, đòi tăng thuế tới 1.200 tỷ nên cuộc điều đình tan vỡ. Bây giờ, TT Obama dựa trên chiến thắng vừa qua, lại đòi tăng thuế lên tới 1.600 tỷ chứ không còn là 1.200 tỷ nữa.

Đề nghị của TT Obama bị Cộng Hoà chỉ trích là chẳng những thiếu nghiêm chỉnh, mà còn phản ánh một thái độ ngạo mạn, có vẻ thách thức, không có gì gọi là có thiện chí “đại đoàn kết dân tộc” như khẩu hiệu tranh cử của ông năm 2008, cũng chẳng phản ánh ý định muốn thông ngõ bí.

Phản đề nghị của phe Cộng Hòa cũng là một chiều, cắt quá nhiều chi tiêu –nhất là trong các trợ cấp an sinh- trong khi thu quá ít thuế. Nhưng tương đối lại gần với đề nghị của Ủy Ban Đặc Nhiệm lưỡng đảng Bowles-Simpson do TT Obama thành lập.

Ta thấy khoảng cách biệt giữa hai bên lớn hơn ... núi Thái Sơn. Thật ra, những con số này đều quá đáng và không thực tế, được cả hai bên đưa ra để trình làng lấy điểm, rồi sau đó, hai bên sẽ đóng cửa, cãi nhau từng đồng, để rồi cuối cùng sẽ thoả thuận ở một mức nào đó, không giống các con số trên chút nào, mà tùy thuộc hoàn toàn vào những tính toán chính trị và khả năng thương lượng của đôi bên.

Có nhiều chuyên gia suy luận, TT Obama cũng như phe Cộng Hòa đều có thể đang tính toán, cố tình để nước Mỹ rơi xuống vực thẳm.

Nếu hai bên không thoả hiệp được thì cả nước sẽ bị tăng thuế, bất kể giàu nghèo, và TT Obama coi như có tiền xài ngay lập tức, trong khi lớn tiếng đổ thừa Cộng Hoà không chịu thỏa hiệp đưa đến tình trạng tăng thuế toàn diện. Trong khi đó, các cắt giảm chi tiêu kích động bởi thỏa thuận “vực thẳm” sẽ được trải dài ra trong 10 năm. Không có gì bảo đảm TT Obama sẽ không tiếp tục chi tiêu xả láng trong bốn năm tới, dồn những cắt giảm vào những năm sau khi ông đã mãn nhiệm kỳ, cho tổng thống nào lên kế vị phải lo. Tức là TT Obama lời to, vừa có thêm tiền xài, vừa khỏi cắt chi tiêu.

Ngược lại, dường như bên Cộng Hòa cũng tính toán, cho rơi xuống vực thẳm cũng có thể có lợi. Cả nước bị tăng thuế và cắt trợ cấp, sẽ khiến thiên hạ bất mãn chống chính quyền Obama, và đến bầu cử giữa mùa 2014, Cộng Hòa sẽ hy vọng thắng lớn tại cả thượng lẫn hạ viện.

Cũng có giả thuyết khác cho rằng hai bên đều chấp nhận cho rơi xuống vực thẳm trong ngắn hạn, có nghiã là sẽ không có thỏa thuận trước cuối năm nay. Báo chí sẽ làm ầm ĩ, nhưng rồi hai bên lúc đó sẽ nghiêm chỉnh điều đình, và đi đến thoả hiệp vài tháng sau cũng không muộn. Thoả hiệp đó sẽ không nói đến chuyện “tăng thuế” hay “cắt chi tiêu” nữa, mà sẽ gọi là “cải tổ” (reform) chính sách thuế khoá và “cải tổ” hệ thống trợ cấp an sinh, không có bên nào thắng hay thua hết.

Cả hai bên coi như đang đánh phé, tháu cáy qua lại, mang tiền thuế và tiền trợ cấp của chúng ta ra tố qua tố lại. Bên nào thắng chưa rõ, chỉ biết dân quèn chúng ta sẽ lãnh đủ, nếu không bị tăng thuế cũng sẽ bị bớt trợ cấp, có khi lãnh cả hai, hậu quả của mấy chục năm tiêu xài vung vít của tất cả mọi người, dân cũng như vua. (9-12-12)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Ý kiến bạn đọc
11/12/201223:31:42
Khách
Những bài phân tích của ông Vũ Linh rất hay, tôi luôn tìm đọc vào mỗi thứ ba. Cảm ơn ông.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.