Hôm nay,  

Quậy Sóng Đông Hải

6/4/201100:00:00(View: 11805)

Quậy Sóng Đông Hải

Nguyễn Xuân Nghĩa

Để Cho Êm Nội Loạn....

Có một cách thăm dò mạch địa chấn nằm ngoài Đông hải của Việt Nam là tìm vào những vết rạn bên trong Hoa lục.

Trung Quốc đang chuẩn bị Đại hội đảng của Khoá 18, dự trù tổ chức vào quãng tháng 10, 2012. Như Đại hội 16 vào tháng 11 năm 2002, Đại hội tới sẽ bầu lên một lớp lãnh đạo thuộc thế hệ thứ năm để thay thế lớp người như Hồ Cẩm Đào, Ngô Bang Quốc, Ôn Gia Bảo hay Úy Kiện Hành, gọi là "thế hệ thứ tư" sau các thế hệ Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân.

Nhìn trong viễn cảnh dài, những thành tựu sau cải cách của Đặng Tiểu Bình từ 1979 đã đi hết sự vận hành dễ dãi ban đầu - như dễ vặt những trái thấp nhất - và bắt đầu có trở ngại.

Đầu tiên là tham nhũng và lạm phát, nguyên do chính của vụ Thiên an môn ngày bốn tháng Sáu năm 1989 - "Sự cố Lục Tứ" - khiến mấy ngàn người bị tàn sát trên quảng trường này tại Bắc Kinh. Sau đó là thất quân bình giữa các địa phương và lại lạm phát năm 1998. Thế hệ thứ tư lên lãnh đạo từ cuối năm 2002 và cầm quyền từ đầu năm 2003 có thấy ra vấn đề. Những ưu tiên mới là hạn chế lạm phát, tái phân tài nguyên phát triển cho các tỉnh bên trong để san bằng thất quân bình, và chuyển dần mục tiêu từ lượng sang phẩm...

Nhưng hai sự kiện đã đình hoãn và đẩy lui chiều hướng cải cách đó.

Thứ nhất, Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO năm 2001. Đà tăng trưởng tăng vọt nhờ buôn bán nhiều hơn với bên ngoài đã đẩy lui ưu tiên tái phối trí đầu tư cho các tỉnh bị khóa trong lục địa và chứng minh giá trị của chiến lược hướng ngoại - lấy xuất cảng làm đầu máy. Sự kiện đó củng cố ưu thế lẫn quyền lợi và quyền lực của các tỉnh duyên hải, và phe cánh Giang Trạch Dân.

Tranh luận nội bộ về hướng nội hay hướng ngoại vì vậy không dứt khoát.

Sự kiện thứ hai, vụ khủng hoảng tài chánh tại Hoa Kỳ rồi nạn Tổng suy trầm toàn cầu 2008-2009 khiến nỗ lực cải cách càng bị trì hoãn, thậm chí cản trở. Nhu cầu tăng trưởng cao để chống suy trầm dẫn tới việc kiềm chế hối suất đồng bạc, tăng chi và bơm tín dụng để kích thích sản xuất. Với hậu quả là thổi lên bong bóng đầu cơ và rủi ro lạm phát. Và gây ra bài toán lưỡng nan, hai mặt đều bất lợi, vì kềm hãm lạm phát có thể giảm đà tăng trưởng.

Thế hệ lãnh đạo thứ tư lâm thế kẹt và phải chuyển giao trách nhiệm cải tổ cho thế hệ kế tiếp.

Tổng kết lại, lãnh đạo Trung Quốc đang gặp một thách đố sinh tử: không thể phát triển bền vững và tăng trưởng hài hòa nếu không cải tổ từ kinh tế xã hội lên tới chính trị. Việc chuyển hướng tăng trưởng từ lượng sang phẩm đã được Hội nghị Ban chấp hành thông qua từ tháng 10 năm ngoái, sẽ chỉ được áp dụng trong thực tế sau Đại hội 18. Từ nay đến đó, làm sao không gặp thêm sóng gió thì đã là may!

Nhưng làm sao không gặp được khi đà tăng trưởng sẽ giảm"

Dưới 8% một năm là có thể khủng hoảng vì không tạo đủ việc làm cho 14 triệu người trẻ đến tuổi đi vào thị trường lao động. Khi lạm phát lại tăng vọt, còn hơn con số chính thức, thì thất nghiệp và vật giá là hai lưỡi dao cùng bén! Nó gợi lại hình ảnh Thiên an môn 1989.

Mà vấn đề không chỉ có hai vế kinh tế là đạp thắng hay tống ga.

Do nhu cầu tăng chi để kích thích kinh tế, hai năm qua các chính quyền địa phương đã vay bừa phứa. Bị hạn chế thì họ lập ra công ty đầu tư giả hiệu để vay tiền ngân hàng của nhà nước. Năm 2008 vay nợ của địa phương là gần 130 tỷ Mỹ kim, qua năm sau thì tăng gấp sáu - gần 900 tỷ - và ngày con số có thể lên tới một phần ba của Tổng sản lượng Nội địa, là gần 2.000 tỷ. Mà vẫn còn tăng, ngày một mạnh hơn. Riêng trong quý một năm nay, các công ty đầu tư của địa phương đã hốt 40% lượng tín dụng mới cấp phát! Hậu quả là nhiều địa phương bị nguy cơ vỡ nợ, cần chính quyền trung ương bơm tiền để chuộc nợ.

Trước khi bàn giao di sản cho lãnh đạo mới, thế hệ Hồ-Ôn phải dọn sạch món nợ thối này!

Ngoài chuyện kinh tế và cơ chế thì hậu quả xã hội của chiến lược phát triển cũ nay đã mười mươi.

Công nhân đòi tăng lương nếu không thì biểu tình! Và biểu tình lại lan rộng từ thành phần bất mãn về những bất công xã hội hay tham ô cửa quyền qua các thành phần sắc tộc thiểu số. Phản ứng của dân Hồi giáo, Tây Tạng hay Mông Cổ là những thí dụ thời sự. Khi dân bất mãn lại còn gài chất nổ như vụ Phủ Châu vừa qua tại tỉnh Giang Tây và giới trẻ lại liên kết với nhau để phả mùi hoa nhài từ Trung Đông vào Hoa lục thì vấn đề hết là kinh tế xã hội mà trở thành chính trị.

Lãnh đạo Bắc Kinh phải vừa đàn áp - thí dụ là chuyện Ngải Vị Vị bị cầm tù và hệ thống Internet bị kiểm soát - lại vừa mua chuộc, như tin đồn về việc bồi thường cho các nạn nhân vụ Thiên an môn 1989. Dù vậy, họ vẫn chưa yên tâm. Có thể chính nỗi lo ấy khiến họ phải ngó ra ngoài để "xả sức ép". Nhu cầu đó lại thỏa mãn đòi hỏi của phe cực hữu Maoist lẫn các tướng lãnh trong quân đội khi các lãnh tụ đang đấu tranh cho vây cánh sẽ lên nắm quyền sau Đại hội 18.

Đây là những nguyên nhân sâu xa ở bên trong khiến Bắc Kinh bắt đầu quậy sóng Đông hải.

Nó đi ngược với chiều hướng ngoại giao hòa hoãn mà Bắc Kinh cố bày tỏ từ đầu năm nay, với đỉnh cao là kỳ họp ngày 14 Tháng Tư cùng các nước tân hưng như Ấn Độ, Liên bang Nga, Brazil và Nam Phi, và ngày chín Tháng Năm trong khuôn khổ Đối thoại về Chiến lược và Kinh tế với Hoa Kỳ.

Chúng ta có thể nêu ra hai giả thuyết khác nhau về cùng một sự việc.

Giả thuyết thứ nhất, bi quan hay thực tế, thì coi đó là trò "một đồng một cốt". Nghĩa là cả hai mặt âm dương - hòa hoãn hay hung hăng, Thiện hay Ác - đều thuộc về một thực thể bá quyền.

Chế độ muốn có điều kiện tiến hành cải cách thì phải khơi dậy tinh thần dân tộc của quần chúng đối với "bọn xấu nước ngoài." Nếu tin vào giả thuyết đó thì phản ứng cứng rắn của thế giới sẽ phá vỡ trò ma và càng phơi bày ra nhược điểm sinh tử của chế độ.

Giả thuyết thứ hai, gọi là lạc quan, thì cho rằng mâu thuẫn nội bộ đã bung ra ngoài.

Nghĩa là xu hướng cực hữu và bành trướng ngang nhiên thách đố xu hướng ôn hoà và quốc tế khi phá vỡ chủ trương hoà dịu về đối ngoại bằng những vụ khiêu khích liên tục này. Các thành phần phản chiến, ôn hòa hoặc nhu nhược thì có thể thiên về giả thuyết lạc quan ấy. Và cho rằng thế giới - hay Hoa Kỳ - mà càng phản ứng mạnh với thái độ ngang ngược của Bắc Kinh thì càng củng cố thế lực của phe cực đoan. Chi bằng vẫn cố gắng tìm giải pháp hòa dịu và hợp tác để tạo thế mạnh cho xu hướng ôn hoà trong nội tình Hoa lục. Cho đến nay, nhiều quốc gia có vẻ ngả theo giả thuyết lạc quan vì lo sợ hậu quả của một vụ đối đầu.

Các cường quốc hay những nước ở xa có thể tính toán như vậy và rủi ro sai lầm thật ra lại không lớn cho họ, vì trong quá khứ người ta đã chứng kiến những mâu thuẫn tương tự.

Thí dụ như đợt lạm phát năm 1993 rồi khó khăn nội bộ sau đó khiến Bắc Kinh hung hăng uy hiếp Đài Loan trong cuộc bầu cử Tổng thống đầu tiên vào năm 1996. Với lý cớ là Hoa Kỳ cấp chiếu khán nhập nội cho Tổng thống Lý Đăng Huy dự một phiên họp của hội ái hữu trường Cornell "với tư cách cá nhân", Bắc Kinh cho pháo kích qua đầu dân Đài Loan ngay trước ngày họ đi bầu.

Chính quyền Bill Clinton gửi hàng không mẫu hạm tới vùng biển này. Mọi chuyện liền êm. Bắc Kinh đành bắn tiếng vớt vát: "quý quốc có dám hy sinh San Francisco hay Los Angeles để bảo vệ Đài Bắc không""

Chính là lời dọa nạt đó càng khiến người ta thiên về giả thuyết lạc quan!

Nhưng nước nhỏ ở gần, như Việt Nam hay các lân bang Đông Nam Á, thì phải thận trọng hơn vì họ không có thế mạnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Úc Đại Lợi. Tuy nhiên, họ cũng biết, hoặc phải biết, là nếu mà lùi mãi thì gặp rủi ro lớn hơn, cho đến khi chủ quyền bị thôn tính trong thực tế: Bắc Kinh sẽ quyết định là những gì thuộc thẩm quyền của mình, từ lưỡi bò, lãnh hải đến tài nguyên nằm sâu dưới đáy biển, đến từng dự án đầu tư của quốc tế hay một mẻ lưới của ngư phủ....

Phi Luật Tân đã biết ra điều ấy khi hồ hởi hợp tác với Bắc Kinh từ cuối năm 2008 và sau đó phải bẽ bàng rút lui và nay cầu cứu Hoa Kỳ! Nhiều nước Đông Á cũng đã thấy như vậy và cùng chờ xem phản ứng của Hoa Kỳ....

Câu hỏi cuối. Việt Nam có thể làm gì trong hoàn cảnh này"

Thật ra, chúng ta có hai vấn đề lồng làm một.

Thứ nhất là vấn đề Trung Quốc của Việt Nam. Nó nằm tại Hà Nội, trong hệ thống lãnh đạo hiện hành. Ta không quên Hà Nội và Bắc Kinh vừa tăng cường hợp tác quốc phòng vào Tháng Tư, một tháng trước khi Đông hải nổi sóng! Và nếu Bắc Kinh khai thác phản ứng dân tộc - chủ nghĩa Đại Hán - làm lợi thế tuyên truyền và lý do xâm lược, thì Hà Nội lại cấm đoán phản ứng ái quốc của người Việt. Lại còn tiếp tục thực hiện những dự án do Trung Quốc đề xướng và gây bất lợi cho Việt Nam. Nếu người dân có quyền tự do lên tiếng thì Hà Nội có thêm thế mạnh trong việc đối thoại với Bắc Kinh. Nhưng lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam không muốn có thế mạnh đó.

Tại sao vậy"

Thứ hai là vấn đề Trung Quốc của thế giới. Nó nằm tại Đông Á, từ eo biển Đài Loan, Điếu Ngư đài xuống tới Hoàng Sa, Trường Sa qua Vịnh Thái Lan đến Ấn Độ dương và nó liên quan tới cả chục quốc gia ngoài siêu cường Châu Á là Hoa Kỳ. Các quốc gia trong khu vực đều quan tâm với vấn đề này và muốn có một sự phối hợp trong phản ứng. Đấy là một lợi thế cho Việt Nam vì tạo điều kiện cho sự hợp tác quốc tế để có một tiếng nói chung. Và nhất là tránh cho Việt Nam một sự chọn lựa giả tạo là "theo Mỹ hay theo Tầu".

Để kết luận, muốn tận dụng được giải pháp quốc tế cho một vấn đề của quốc gia, đảng Cộng sản Việt Nam phải dứt khoát với Trung Quốc. Nếu không, người dân phải dứt khoát với đảng. Và đừng quá hãi sợ Trung Quốc!

Ngay giữa khúc quanh cải tổ này, chính Bắc Kinh cũng chẳng muốn gây ra khủng hoảng, hoặc chiến tranh. Họ trông cậy vào sự đớn hèn của các nước chung quanh là cũng đạt mục tiêu!

Reader's Comment
6/4/201122:46:49
Guest
Trung quốc bây giờ chiếm Trường Sa

Hởi nguời yêu nước có thương nhà

Đất nước bây giờ dang gặp nạn

Biết làm gì để cứu nước ta….


Nhịn hoài nhịn mãi nhịn muôn năm

Đất nước ông cha lệ đứng tròng

Không lẻ anh hùng ngồi im tiếng

Ngó giải gian sơn nay mất không!!!


Phận gái thuyền quyên vẹn chử tòng(HAI BÀ TRƯNG)

Chưa hề khiếp nhược trước số đông(quân Tầu quá đông)

Nay đám mày râu ngồi im tiếng


Người yêu nước(06/04/2011)
6/30/201123:37:16
Guest
Vậy thưa bác Nguyễn Xuân Nghĩa , cho cháu xin được hỏi bác một câu : nếu một ngày đẹp trời nào đó , Hoa lục sẽ cho kéo giàn khoan dầu của họ lù lù tiến vào Đông hải và đóng chốt ở lì tại đó. Thì Việt nam và Phi luật tân sẽ làm gì với cái của nợ đó ? La làng thì bọn Tầu phù bỏ ngoài tai , còn không có cớ gì để đem pháo hạm đến đuổi đi , mà cũng không dám nữa . Chắc chắn là lúc đó bọn Tầu sẽ cho tàu sân bay vừa hạ thuỷ của chúng sẽ nối gót theo sau cái phao dầu nửa chìm nửa nổi nầy !
6/11/201119:54:24
Guest
ông nguyễn xuân nghĩa ,nói rất đúng tôi nghĩ csvn nên ngã về phía hoa kỳ ,còn về người dân vn tôi nghĩ họ chĩ
muốn cho yên thân .vì họ thấy vấn đề chính trị quá nhậy cảm nói chung là họ sợ bị đi tù .hai vụ tàu vn bị tàu hải
quân TQ cắc cáp khg chừng vài bửa nữa hà nội sẽ xin làm lành với TQ .và có thể csvn sẽ biếu TQ vài trâm cây số
biên giới .hoặc tặng vài cái đảo để tỏ thiện trí là em chịu lép xin anh đừng đánh đòn em mà tội nghiệp .để cho tụi
em được tiếp tục hút máu của nhân dân .khg chừng chuyện đó có thể xẩy ra lắm ??
Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.