Hôm nay,  

Đô La Xuống - Dầu Thô Lên

14/11/200700:00:00(Xem: 12864)

...Việt Nam xuất khẩu dầu thô mà lại hoàn toàn nhập khẩu xăng dầu...

Tuần qua, dầu thô đã mấp mé 100 Mỹ kim một thùng trong khi tiền Mỹ lại sụt tới mức thấp nhất so với đồng Euro kể từ khi đồng tiền này xuất hiện đầu năm 1999. Vì vậy, nhiều người đã nói tới ngày tàn của đồng Mỹ kim và rằng các nước nên giảm tỷ trọng của đô la trong dự trữ ngoại tệ của mình. Điễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu vấn đề phức tạp này trong phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, do Việt Long thực hiện sau đây...

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, tuần qua, giá dầu thô trên thế giới đã có lúc mấp mé 100 Mỹ kim một thùng trong khi giá đô la lại sụt tới mức thấp nhất so với Euro Âu châu, và nói chung tuột giá so với nhiều ngoại tệ lớn khác trên thế giới. Biến động ấy khiến nhiều người cho rằng không nên giữ tiền Mỹ trong túi vì là một loại tài sản mất giá. Nhìn từ giác độ của các chính quyền, người ta cũng nói đến việc nên bán bớt đô la Mỹ trong khối dự trữ ngoại tệ của quốc gia, là điều có người đã đề nghị với Chính quyền Việt Nam và hiển nhiên là Ngân hàng Nhà nước tại Việt Nam cũng rất quan tâm.

Vì vậy, Ban Việt ngữ chúng tôi xin đề nghị là trong chương trình chuyên đề kỳ này, ta sẽ tìm hiểu về biến động của giá dầu và của đồng đô la, và về ảnh hưởng của chúng đối với các nước. Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi, vì sao dầu thô lên giá, tiền Mỹ xuống giá"

Thưa ông, dầu thô lên giá chủ yếu vì chênh lệch cung cầu khi số cầu về năng lượng của các nước tăng đáng kể do đà tăng trưởng của kinh tế thế giới. Trong cảnh căng thẳng ấy, một số biến cố an ninh, trước tiên là vụ khủng hoảng tại Thổ Nhĩ Kỳ liên quan đến sắc dân Kurd tại miền Bắc xứ Iraq, rồi màn đấu trí gay gắt giữa Hoa Kỳ và các nước Âu châu với Iran, cũng khiến người ta lo sợ xung đột sẽ bùng nổ. Thêm vào đó, nhiều tổ hợp đầu tư tài chính lại đầu tư mạnh vào việc mua bán dầu thô và có ảnh hưởng khá lớn trong việc đấy giá dầu thô. Tuy nhiên, và đây là điều đáng chú ý hơn cả, tình trạng ấy không thể kéo dài. Khi xăng dầu đắt đỏ làm kinh tế suy trầm thì số cầu sẽ giảm, mà khi số cầu sút giảm thì giá sẽ sụt theo tỷ lệ còn mạnh hơn nữa. Tất cả vấn đề vì vậy tùy thuộc vào viễn ảnh gần hay xa mà thôi, cho nên ta cần hết sức thận trọng khi muốn tiên đoán giá cả.

Hỏi: Trước khi nói sang vấn đề Mỹ kim, xin hỏi thêm về điều ông vừa nói: vì quy luật cung cầu ấy, khi dầu khí là tài nguyên có hạn mà yêu cầu về năng lượng của loài người chỉ tăng thì về dài, giá dầu thô tất nhiên sẽ chỉ có tăng thôi, chứ liệu có thể giảm không"

Tôi thiển nghĩ rằng trong vòng trăm năm nữa thì dầu khí vẫn là một nguồn năng lượng quan trọng của nhân loại, trong khi vẫn bị thay thế dần bởi các nguồn năng lượng khác, mà giá dầu càng tăng càng khiến loài người phải tìm ra giải pháp thay thế. Thứ hai, cho tới nay, loài người vẫn tiếp tục khám phá thêm nhiều túi dầu khác, gần đây nhất là trường hợp được Brazil thông báo hôm Thứ Năm mùng tám vừa rồi, với một túi dầu ngoài khơi sẽ nâng trữ lượng dầu thô của xứ này thêm 40%. Trong khi ấy, ta cũng không nên quên rằng trong hoàn cảnh sản xuất ngày nay của loài người, khi dầu thô xê xích ở mức 60 đến 80 đồng một thùng là coi như đụng đỉnh vì có thể làm sản xuất suy thoái vì quá đắt.

Trong lịch sử, năm 1981 là khi dầu thô đã lên tới mức đắt nhất vì vụ khủng hoảng tại Iran, tương đương với chừng 102 đến 107 đồng một thùng của ngày nay. Ngày nay, chúng ta đang mấp mé kỷ lục đó và giá có thể sẽ sụt. Mà khi sụt giá thì sụt mạnh như ta đã thấy sau vụ khủng hoảng Đông Á cách đây 10 năm. Vì vậy, tôi trộm nghĩ là mình nên trận trọng vì sẽ thấy nhiều biến động giá cả khá đột ngột trong tương lai một hai quý sắp tới, từ ba đến sáu tháng sắp tới.

Hỏi: Bây giờ, bước qua chuyện đô la, vì sao đô la Mỹ lại sụt giá mạnh như vậy"

Nói chung, tiền Mỹ mất giá khá đều đặn từ hơn hai năm qua chủ yếu là vì Hoa Kỳ bị hai nạn khiếm hụt song hành, là bội chi ngân sách và nhập siêu, tức là ngân sách chi nhiều hơn thu và kinh tế nhập nhiều hơn xuất khẩu. Hiện tượng sụt giá ấy là việc điều chỉnh tự nhiên và cũng cần thiết để tái lập lại quân bình và sự thật thì cả hai mức khiếm hụt ấy đều đã giảm chứ không tăng, cho nên về dài thì hiện tượng tuột giá sẽ phải chậm lại.

Tuy nhiên, và đây là điều đáng chú ý khác về thời cơ: kinh tế Mỹ vừa bị vụ khủng hoảng trong thị trường tín dụng gia cư loại thứ cấp, gọi là sub-prime, với hậu quả lây lan qua cả thị trường tín dụng và trái phiếu. Vì vậy mà Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ đã phải hạ lãi suất để cứu nguy và lãi suất giảm càng khiến tiền Mỹ hết hấp dẫn.

Thế rồi, Thứ Tư mùng bảy vừa qua, ông Thành Tư Nguy, Phó Chủ tịch kiêm Ủy viên ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã khiến các thị trường tài chính rúng động bán tháo Mỹ kim khi tuyên bố tại một hội nghị ở Bắc Kinh rằng Trung Quốc phải ứng phó với hiện tượng đô la mất giá bằng cách đổi Mỹ kim qua một số ngoại tệ khác. Ông này không có trách nhiệm lãnh đạo kinh tế nhưng cứ hay phát biểu theo lối bắn tiếng của Bắc Kinh, có khi chỉ để đánh lạc hướng giới đầu cơ ngoại tệ mà thôi nhưng cũng gây chấn động làm Mỹ kim rớt giá kỷ lục so với đồng Euro.

Tổng kết lại, ta có động lực kinh tế tài chính và cả động lực tâm lý, thậm chí chính trị nữa, khiến Mỹ kim sụt giá mạnh, và thật ra mạnh hơn cái mức bình hoà của cung cầu kinh tế.

Hỏi: Y như về trường hợp dầu thô, đồng Mỹ kim có thể còn tuột đến đâu nữa và trong khoảng bao lâu nữa thì mới đụng vào cái mức bình hoà như ông nói"

Không ai có thể biết về tương lai, nhưng Mỹ kim sụt giá quá mạnh - hoặc các ngoại tệ khác lên giá quá mạnh - thì ta không còn hiện tượng gọi là "điều chỉnh tự nhiên" của thị trường và các ngân hàng trung ương có thể sẽ phải nhảy vào can thiệp vì tiền Euro hay Yen Nhật mà lên giá thì đấy là vấn đề kinh tế cho Âu châu và Nhật Bản. Người ta có thể thấy trước điều ấy khi Tổng thống Pháp chính thức nêu vấn đề về sự yếu kém của Mỹ kim trong dịp ông thăm viếng Hoa Kỳ vào tuần qua.

Từ nay đến khi các nước trong khối G-7 của bảy nước công nghiệp hàng đầu trên thế giới có biện pháp can thiệp gọi là có phối hợp thì mình có thể dự đoán là Mỹ kim sẽ còn tuột dốc thêm, ít ra một quý nữa, thì hiện tượng điều chỉnh tự nhiên mới có thể tạm ngưng. Lúc ấy, có lẽ phải một đồng rưỡi mới ăn một Euro và môt đô la sẽ chỉ bằng 106-108 Yen Nhật. Dù sao, và đây là chuyện chính trong đề tài của chúng ta, đồng Mỹ kim sẽ vẫn còn đó và là một ngoại tệ chưa thể thay thế được.

Hỏi: Bây giờ, ta mới qua phần thứ hai của chương trình. Thưa ông, khi dầu thô lên giá và đô la sụt giá tới những mức mà ta thấy là mấp mé kỷ lục như vậy thì tình hình kinh tế các nước khác sẽ bị ảnh hưởng ra sao"

Tôi thiển nghĩ là ta có thể xét vấn đề này từ hai giác độ tùy hoàn cảnh là nước xuất khẩu hay nhập khẩu dầu thô. Sở dĩ phải nhìn chuyện ấy từ hai góc vì Việt Nam xuất khẩu dầu thô mà lại hoàn toàn nhập khẩu xăng dầu, nếu có lời chút ít nhờ dầu thô lên giá thì lại bị lỗ nặng khi xăng dầu nhập khẩu cứ tăng giá theo, cho đến cái ngày mà Việt Nam có thể lọc dầu cho nhu cầu nội địa mà khỏi phải nhập khẩu. Hiện tượng Dung Quất cho thấy cái ngày tự túc về năng lượng vẫn còn nằm rất xa trong tương lai và từ nay đến đó vẫn cần đô la để đầu tư vào công nghệ dầu khí và tinh chế xăng dầu.

Nói chung, khi có hiện tượng xoay ngược như ta đang phân tích - là dầu lên giá mà tiền Mỹ mất giá - các nước sản xuất dầu đều có nhu cầu dùng Mỹ kim thu được nhờ bán dầu để đầu tư vào các loại tài sản không là đô la - như ngoại tệ hay thương phẩm - để thu nhập của mình khỏi mất giá. Các nước không bán dầu cũng thế, các doanh nghiệp tài chính cũng vậy, và một loại thương phẩm mà họ có thể mua để phòng ngừa Mỹ kim mất giá chính là... dầu thô. Do đó mà Mỹ kim càng mất giá thì ngược lại dầu thô càng tăng giá.

Hỏi: Nhưng xin hỏi ông ngay một câu có khi cũng liên hệ tới Việt Nam: nếu mình gác qua một bên yếu tố dầu khí, khi là một quốc gia xuất khẩu thương phẩm hay hàng hoá chế biến, như Việt Nam hay Trung Quốc và nhiều xứ Á châu khác, thì tiền thu được bằng Mỹ kim sẽ bị ảnh hưởng ra sao"

Thật ra, ta vẫn rơi vào hoàn cảnh của loại quốc gia nhập khẩu dầu thô.

Khi bán hàng không phải là dầu khí mà là nông sản hay chế phẩm, như trường hợp Việt Nam, thì mình vẫn phải nhập khẩu xăng dầu chạy nhà máy và thanh toán bằng Mỹ kim. Mối lợi nhờ xuất khẩu rẻ hơn khi Mỹ kim sụt giá phải được trừ hao bởi hoá đơn xăng dầu. Một xứ có dự trữ ngoại tệ lớn như Trung Quốc cũng chỉ nói vậy thôi chứ chưa chắc đã dám bán tháo Mỹ kim vì biện pháp ấy càng khiến Mỹ kim sụt giá làm dự trữ ngoại tệ của họ càng hao hụt. Thí dụ như dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc hiện được ước lượng khoảng 1.400 tỷ Mỹ kim, trong đó có gần 900 tỷ là dưới dạng đô la Mỹ. Khi tiền Mỹ mất giá thì khoản tài sản 900 tỷ ấy cũng mất giá, mà Mỹ kim sụt giá thì xăng dầu Trung Quốc nhập khẩu sẽ lên giá. Vừa qua, họ đã phải nâng giá xăng dầu nội địa lên 10% vì lẽ đó. Hiệu ứng của dầu thô lên giá sẽ khiến lạm phát trở thành vấn đề nổi cộm trước khi người ta kịp mừng là Mỹ kim xuống giá.

Hỏi: Nhưng theo như phân tích ở trên của ông thì sự ngự trị của đồng Mỹ kim vẫn còn kéo dài hay sao"

Tính đến tháng Tám, dự trữ ngoại tệ của các nước trên thế giới lên tới 6.000 tỷ, cuối năm nay có thể vào khoảng 6.500 tỷ. Hiện nay, hai phần ba, khoảng 3.700 tỷ, nằm tại Á châu. Trong số này, trừ Nhật Bản có hơn 900 tỷ thì Trung Quốc và các nước Á châu chia nhau còn lại, khoảng một tỷ ba đến một tỷ tư. Các nước xuất khẩu dầu thô trong khối OPEC có chừng 360 tỷ, hơn Liên bang Nga chừng 50 tỷ. Quốc gia nào hay khối kinh tế nào trong các nước kể trên sẽ có đủ xương sống để cáng đáng chức năng đặc biệt của đồng Mỹ kim"

Người ta có thể vì chống Mỹ hay vì tinh thần quốc gia mà báo hiệu sự suy tàn của đồng đô la hay nhu cầu tìm ra một phương tiện giao hoán độc lập với Mỹ, nhưng đó là chuyện xa để nói cho hả. Đồng Euro và cả sức thống nhất về chính sách vẫn còn mong manh của Âu châu sẽ chưa thể thách thức hay thay thế được đồng Mỹ kim, hãy nhìn và vụ khủng hoảng đang xảy ra tại Belgique thì rõ. Mà có muốn tiến tới đó thì các nước sẽ phải trước tiên buông đô la mua tiền khác và lập tức gây ra biến động ngoại hối khiến mình lỗ vốn vì đô la mất giá.

Hỏi: Câu hỏi cuối của chúng tôi, ta sẽ trở lại hoàn cảnh xuất hay nhập khẩu dầu thô, để tìm ra cách xử trí của Việt Nam với khối dự trữ ngoại tệ của mình.

Khi Mỹ kim sụt giá, mãi lực nhờ bán dầu cũng sụt và lạm phát vì vậy sẽ tăng. Khi dầu thô lên giá, xăng dầu nhập khẩu cũng sẽ tăng và đấy lại là yếu tố lạm phát phụ trội. Việt Nam có thể lãnh hậu quả xấu từ cả hai đầu.

Bước sang vấn đề là nên giữ Mỹ kim nhiều hay ít trong dự trữ ngoại tệ của Việt Nam thì đây là chuyện lo bò trắng răng vì số dự trữ này vẫn còn quá ít, trong ý nghĩa là nếu có mua hay bán cũng chả làm thị trường quốc tế bị rúng động như trường hợp Trung Quốc.

Thứ hai, nếu Mỹ kim quá rẻ và quá thừa tại Việt Nam, như điều đã thấy từ vài tháng qua, thì đấy là một vấn đề về quản lý vĩ mô, chứ Việt Nam luôn luôn thiếu ngoại tệ để đầu tư. Và nếu quản lý không khéo thì ta vừa có lạm phát vừa thiếu ngân sách đầu tư trong khu vực công, về hạ tầng cơ sở cầu đường chẳng hạn.

Thứ ba, ta nên thực tế nhìn vào các loại chi thu về ngoại thương của Việt Nam, với gần 90% vẫn bằng Mỹ kim. Hai loại ngoại tệ mạnh khác là Euro Âu châu và Yen Nhật chỉ chiếm 10%. Nói ra thì dễ hiểu lầm, chứ Việt Nam chưa ra khỏi quỹ đạo Mỹ kim, và nhìn rộng hơn thì đô la Mỹ vẫn là một ngoại tệ thông dụng nhất, với tất cả những thăng trầm và bất trắc của nó.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.