Hôm nay,  

Trung Quốc Tuột Đỉnh

18/06/200800:00:00(Xem: 9712)
...hậu quả là nhiều ngân hàng sụp đổ vì mất nợ, doanh nghiệp phá sản, công nhân mất việc...

Sau khi Bắc Kinh nâng dự trữ pháp định của ngân hàng thêm 1%, các thị trường chứng khoán Thượng Hải và Thẩm Quyến đã qua tám phiên tuột đốc, có hôm mất hẳn gần 8% nội một ngày. Phân tích sự kiện đó từ một giác độ khác, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa cho rằng Trung Quốc đã lên tới đỉnh cao và bắt đầu tuột dốc từ cuối năm nay qua suốt thập niên tới. Nối tiếp loạt bài tháng trước về "huyền thoại Trung Quốc", mục Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ trình bày mặt trái của phép lạ Trung Quốc, qua phần thực hiện của Việt Long.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, từ hôm mùng 10 và suốt tuần qua, các thị trường cổ phiếu Trung Quốc liên tục mất giá, với mức độ nghiêm trọng bất ngờ. Giới quan sát cho rằng nguyên do là một quyết định ngăn ngừa lạm phát của Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh là sẽ nâng dự trữ pháp định của các ngân hàng thêm 1%. Ông nhận định ra sao về biến cố này"

- Đây chỉ là một biến động nhỏ ở trên nhưng tiên báo nhiều cơn địa chấn lớn ở dưới. Có thể là Trung Quốc bắt đầu đụng đỉnh, sẽ suy trầm dần từ cuối năm nay, và lâm khủng hoảng trong suốt 10 năm tới. Đây cũng là cơ hội cho chúng ta nhìn ra mặt trái của phép lạ Trung Quốc mà diễn đàn này đã đề cập tới qua các chương trình ngày 13 và 21 tháng Năm.

Hỏi: Vì sao từ một việc nâng mức dự trữ ngân hàng tới nạn cổ phiếu mất giá mà ông lại đưa ra những tiên đoán nhiêm trọng như vậy" Ông có thể giải thích cho rõ hơn được không"

- Số là mùng bảy vừa qua, Bắc Kinh quyết định nâng dự trữ pháp định của các ngân hàng thêm 1%, thi hành qua hai đợt, nửa phần trăm kể từ hôm 15 và thêm phân nửa từ ngày 25 tới. Đây là lần thứ năm nội trong 5 tháng của 2008 mà họ phải tăng dự trữ pháp định lên tới 17,5% để giới hạn lượng tín dụng của ngân hàng. Khác với mọi lần trước, lần này mức độ gia tăng lại lên tới 100 điểm cơ bản, cao gấp đôi, gấp bốn mọi khi.

- Tương tự như trường hợp Việt Nam, giữa tăng trưởng và ổn định vật giá, Trung Quốc đành chấp nhận đà tăng trưởng thấp hơn. Hậu quả là cổ phiếu Trung Quốc sụt giá 50% từ đỉnh cao hồi tháng 10 năm ngoái và mất toi 1.740 tỷ đô la, là một con số rất lớn, còn cao hơn khối dự trữ ngoại tệ của xứ này. Cùng lúc ấy, Tổng cục phó Tổng cục Thống kê Trung Quốc phát biểu rằng thời của tốc độ tăng trưởng hai số, tức là 10% trở lên, nay đã hết.

- Ta có thể gọi đó là lên tới tột đỉnh và sẽ phải xuống. Hạ cánh an toàn hay hạ cánh tan tành là điều chưa ai rõ, nhiều phần là khó an toàn vì đặc tính riêng của Trung Quốc mà Việt Nam nên nhìn ra và ứng phó, nếu còn kịp.

Hỏi: Từ nhiều năm nay, ông có trình bày trên diễn đàn này rằng Trung Quốc bị nguy cơ nóng máy kinh tế vì đà tăng trưởng quá cao cho nên sẽ phải có biện pháp hạ nhiệt. Nếu sau nhiều thập niên tăng trưởng ngoạn mục mà kinh tế Trung Quốc phải hãm đà tăng trưởng thì cũng là điều cần thiết. Các quốc gia Đông Á như Nhật Bản rồi Nam Hàn, Đài Loan cũng qua cả chục năm tăng trưởng 8-9% và nay đã lớn mạnh cho nên có tốc độ tăng trưởng chậm hơn. Liệu Trung Quốc có bước qua thời kỳ đó không"

- Trường hợp của Trung Quốc có khác với ba nước nói trên vì cái ta gọi là màu sắc Trung Quốc. Thứ nhất là họ phát triển kém phẩm chất, thiếu bình đẳng, đầy tham nhũng nên dẫn tới phân hóa xã hội là điều không có ở Đông Bắc Á. Thứ hai, quy luật tăng trưởng của Trung Quốc là nền kinh tế đi xe đạp, xe mà không lăn bánh là sẽ đổ.

Hỏi: Xin đề nghị ông giải thích thêm về "quy luật đi xe đạp" ấy cho thính giả hiểu rõ hơn.

- Đầu tiên, hệ thống ngân hàng của họ cho vay mà khỏi tính toán về rủi ro tín dụng, nên ngồi trên một núi nợ khó đòi, tức là nợ sẽ mất. Sở dĩ như vậy vì ngân hàng có chức năng xã hội là bơm tiền cho doanh nghiệp sản xuất mà bất cần lời lỗ, chỉ để tạo ra việc làm cho dân chúng. Trung Quốc sản xuất cực rẻ để xuất khẩu và ngân hàng tài trợ doanh nghiệp thi hành nhiệm vụ đó như chiếc xe đạp cứ phải lao về phía trước thì khỏi đổ.

- Bây giờ giá nguyên nhiên vật liệu và lương thực cứ tăng vọt với đà phi mã, nên Bắc Kinh gặp nhiều bài toán nan giải. Thí dụ như nếu kiểm soát giá cả thì gặp nạn khan hiếm hay buôn lậu, bị các doanh nghiệp dầu khí chống đối hay phá hoại; nếu nâng tỷ giá đồng bạc để chặn lạm phát thì xuất khẩu giảm; mà thả nổi giá cả thì doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp tăng.

- Một thí dụ kỳ lạ là hôm Thứ Hai 16 vừa qua, Trung Quốc thông báo là lần đầu tiên họ phải nhập khẩu xăng dầu vì sản lượng lọc dầu nội địa sút giảm mạnh. Lý do là các tổng công ty xăng dầu như Sinopec và PetroChina thấy nhập khẩu xăng và dầu cặn tức là diesel còn có lợi hơn là tinh chế lấy vì bề nào họ bán ra cũng lỗ khi giá bán bị trung ương ấn định quá thấp. Thí dụ ấy cho thấy giới hạn quản lý của trung ương trước các thế lực kinh tế khác ở bên trong. Trước các bài toán đó, Bắc Kinh đành chọn giải pháp đạp thắng, xiết chặt tiền tệ và và chịu hậu quả là nhiều ngân hàng sụp đổ vì mất nợ, doanh nghiệp phá sản, công nhân viên mất việc.

Hỏi: Bây giờ, từ chuyện mà ông gọi là nhỏ ở trên ngọn, xuống đến cái gốc là Trung Quốc có thể lâm vào một chuỗi dài những cơn địa chấn của một chuyển động lớn lao, ông có thể phân tích điều ấy cho rõ hơn được không"

- Ta thường nghĩ Trung Quốc là đại lục rộng lớn có diện tích gần 10 triệu cây số vuông, với dân số hơn một tỷ 300 triệu, lớn nhất địa cầu. Thực tế nó phức tạp hơn thế. Về địa dư, lãnh thổ xứ này gồm có hai khu vực ta cứ gọi là trong và ngoài, thực ra là ba khu vực khác nhau về kinh tế.

- Khu vực thứ nhất là các tỉnh miền Đông, từ Lưỡng Quảng, là Quảng Tây Quảng Đông, lên tới Bắc Kinh, là vùng duyên hải, lưu vực của ba dòng sông lớn của nền văn minh Hoa Hạ, là Hoàng hà, Dương tử và Châu giang tại Quảng Đông. Khu vực này có độ ẩm đủ cao để trồng trọt và có cửa biển tiếp xúc với bên ngoài. Nhưng diện tích khu vực này thật ra rất nhỏ so với toàn quốc mà tập trung đến 400 triệu dân, nên có mật độ dân số rất cao. Một chi tiết ít ai để ý là đất canh tác cho một đầu người ở tại đây chỉ bằng một phần ba số bình quân của thế giới. Khu vực chật chội ấy trù phú hơn cả và tạo ra ấn tượng phép lạ nhờ sự tường thuật của truyền thông.

- Khu vực thứ hai là các tỉnh bị khoá sâu trong lục địa, một địa bàn rộng lớn trải ngang thảo nguyên hay sa mạc khô cằn, có mức phát triển thấp cho một dân số gần 900 triệu người, nếu có lợi tức mỗi tháng chừng trăm đô la là may. Khu vực này bị thời sự và lịch sử bỏ quên, nhưng là vựa người lầm than đã cung cấp nhân lực cho các biến động lịch sử gọi là "khởi nghĩa" hay "cách mạng". Lần cuối là cuộc "vạn lý trường chinh" của Mao Trạch Đông.

- Khu vực thứ ba là các vùng phiên trấn, nơi đồn trú quân đội để trấn áp lân bang và chặn đà xâm lăng của các dị tộc, từ cao nguyên Thanh Tạng là Thanh Hải Tây Tạng đến Tân Cương ở miền Tây lên tới Nội Mông và Mãn Châu ở miền Bắc và Đông Bắc. Đây là khu vực hiểm trở của vực sâu, biển cát hay núi tuyết đã bảo vệ Trung Nguyên trong mấy ngàn năm lịch sử Trung Quốc. Nhưng khi triều đình trung ương bị suy yếu thì đấy cũng là nơi xuất phát các triều đại đã khuất phục Hán tộc, như Kim, Liêu, Nguyên Mông hay Mãn Thanh.

Hỏi: Vẫn biết rằng kinh tế không thể tách rời khỏi các định đề về địa dư chính trị và văn hóa của từng nước, nhưng xin hỏi ông rằng địa dư hình thể ấy của Trung Quốc có liên hệ gì tới cuộc khủng hoảng mà ông dự báo hay không"

- Từ xưa tới nay, mọi triều đại Trung Quốc đều có ba ưu tiên, là ổn định Trung Nguyên để củng cố ưu thế Hán tộc, là trấn áp tứ di để bảo vệ vùng phiên trấn, và là ngăn ngừa mối nguy xuất phát từ biển Đông, từ Nhật Bản hay các nước Tây phương, là điều đã xảy ra trong thế kỷ 19 và 20.

- Trong quá khứ, ba bài toán sinh tử ấy không là vấn đề kinh tế vì chính sách tự cung tự cấp của nền kinh tế truyền thống. Khi có vấn đề, Mao Trạch Đông chẳng hạn đã có thể hy sinh kinh tế và tính mệnh của cả chục triệu dân để khống chế phiên trấn hay bảo vệ quyền lực trung ương, kể cả bằng chủ nghĩa dân tộc cực đoan nhuốm mùi bài ngoại hay chính sách bần cùng hóa. Nhưng cái gọi là sự ổn định ấy lại khiến xứ sở lụn bại dần trong chế độ kinh tế cào bằng.

- Đặng Tiểu Bình là người hiểu rõ bài toán và lấy một quyết định lịch sử là mở cửa Trung Quốc để tiếp nhận tư bản và công nghệ tiên tiến hầu nâng cao mức sống người dân. Kết quả là 30 năm sau khi cải cách, kinh tế có tăng trưởng và mấy trăm triệu người đã ra khỏi sự khốn cùng.

- Nhưng việc cải cách ấy cũng dẫn tới nan đề ngàn năm của Trung Quốc: trong khi các tỉnh duyên hải phát triển mạnh và bước vào thế kỷ 21, khu vực nội địa vẫn lạc hậu và càng ý thức được sự lạc hậu ấy vì cuộc cách mạng về công nghệ thông tin. Trước sự phồn thịnh của 400 triệu dân sống tại 15 tỉnh thành ở duyên hải thì nỗi cơ cực của 900 triệu người còn lại ở bên trong là vấn đề!

Hỏi: Ông đang phân tích chuyện hiện đại với cái nhìn về địa dư chính trị của Trung Quốc truyền thống" Chuyện ấy liên hệ gì đến vấn đề xuất khẩu hay sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng"

- Trung Quốc đang thành đầu máy xuất khẩu cho kinh tế thế giới. Muốn xuất khẩu thì phải nhập nguyên nhiên vật liệu và thiết bị, và nhất là phải có thị trường mua hàng của mình, dù là bán với giá rẻ mạt như họ cố làm từ cả chục năm nay. Bây giờ, với nạn lạm phát giá thương phẩm và mức sống dân cư duyên hải cải tiến khiến lương bổng gia tăng, lợi thế bán hàng rẻ đang mất dần. Xuất khẩu mà giảm -là điều đã bắt đầu vì xuất siêu của họ giảm 10% so với năm ngoái- thì doanh nghiệp và ngân hàng càng phá sản và thợ thuyền càng mất việc.

- Dù có ngồi trên một khối dự trữ ngoại tệ vĩ đại và có đội quân hùng hậu, Trung Quốc không thể chi phối được giá năng lượng hay nông sản thế giới và thực tế lại lệ thuộc vào sức mua của thiên hạ, nhất là của thị trường Hoa Kỳ. Đó là một nghịch lý mà ít ai để ý nhưng lãnh đạo Bắc Kinh thì biết rất rõ.

- Vấn đề thứ hai, còn nghiêm trọng hơn thế, là các tỉnh duyên hải và các đảng bộ địa phương nay đang thấy là quyền lợi của họ gắn bó với bên ngoài, với các tổ hợp ngoại quốc hay thị trường quốc tế. Họ trở nên giàu có và thực tế hội nhập vào thế giới toàn cầu hoá. Trong khi ấy, các tỉnh nằm sâu trong lục địa thấy bị bỏ rơi và cần chính quyền trung ương tái phân lợi tức cho mình. Các tỉnh ấy không có nhiều tiền nhưng có nhiều dân bất mãn.

 Hỏi: Tức là tình hình kinh tế hiện nay khiến cho hai khu vực trong và ngoài đang bị tách đôi. Trung Quốc có thể làm gì trước bài toán nguy ngập ấy"

- Đấy mới là vấn đề vì ngày nay, lãnh đạo Bắc Kinh phải thỏa mãn cả hai thành phần nói trên mà không thể áp dụng giải pháp cào bằng đầy sắt máu kiểu Mao. Kinh tế thế giới càng bị nguy cơ suy trầm và tiết giảm nhập cảng và giá cả càng tăng thì các tỉnh duyên hải sống nhờ xuất khẩu càng điêu đứng và khó chấp nhận những đòi hỏi san xẻ của các tỉnh lục địa.

- Rốt cuộc thì Trung Quốc không chi phối được thế giới mà lại bị thị trường quốc tế tác động vào lãnh vực sinh tử nhất là sự thuần nhất hài hòa của xã hội. Trong lịch sử xứ này, trường hợp ấy đã từng xảy ra khiến nhiều triều đại bị sụp đổ. Cho nên cơn địa chấn đang manh nha có thể báo hiệu một chuỗi biến động trong các năm tới, sau khi hội hè của Thế vận hội Bắc Kinh hạ màn.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.