Hôm nay,  

Phật Đản Sinh

17/05/200800:00:00(Xem: 8598)

Với Phật Pháp thì không có sinh không có diệt, không có cái bắt đầu nên không có cái cuối cùng! Bởi vậy không có thời gian, cũng không có không gian.

Vì không có không gian, nên không có chỗ để chỉ.

Vì không có thời gian, nên không hề bị gián đoạn.

Nếu còn có chỗ chỉ định được thì còn có giới hạn và gián đoạn là không hợp với chân lý Phật Pháp.

Để đúng với tinh thần Đạo Pháp, chúng ta chỉ có thể tạm gọi là: "Mừng Phật Thị Hiện Đản Sinh".

Tuy hiểu như vậy, nhưng chúng ta vẫn phải kính trọng từ ngữ thế gian và truyền thống thế gian, nên vẫn cần làm "Lễ Mừng Phật Đản Sinh", mục đích để kỷ niệm, để tán thán, để noi gương và để ghi ân công đức của Đấng Đại Giác Thích Ca Mâu Ni đã thị hiện "Đản Sinh"; Đã thiên biến vạn hóa, để lại biết bao đường lối, không ngoài mục đích thức tỉnh toàn thể chúng sinh ra khỏi Cơn Trường Mộng Vô Minh! Và vì Vô Minh, chúng ta đắm chìm, trôi lăn, sinh tử mãi mà vẫn không hay biết gì cả! Do lẽ đó ngày Đại Lễ Mừng Phật Đản Sinh rất cần thiết, vì ngoài việc tri ân còn để chúng ta nhắc nhở nhau, noi gương Đức Phật mà suy tư.

Vâng, nếu chịu suy tư một chút, chúng ta sẽ thấy ngày Đại Lễ Mừng Phật Đản Sinh thật vô cùng tuyệt vời về cả hai mặt Đời và Đạo.

- Về mặt Đời: Xin được nhấn mạnh và nhắc lại: Để kỹ niệm, để tán dương, để ghi ân Đấng Cha Lành Thích Ca Mâu Ni đã thị hiện Đản Sinh và đem Giáo Pháp truyền bá, để giáo hóa và cứu vớt chúng sinh ra khỏi mê mờ, trần lao, sinh tử.

- Về mặt Đạo: Hỏi có ai lại không ngạc nhiên rằng: "Là chúng sinh thì chúng ta đều là những kẻ phàm phu!" Nhưng trong Kinh lại dạy rằng:

"Phàm Phu tức Phật, Phiền Não tức Bồ Đề"

Vậy là sao" Làm thế nào để mà thành Phật cho được" Khi mà chúng ta đặc Vô Minh, đầy dẫy phiền não bởi mọi Tập Khí Ô Nhiễm, thói hư và tật xấu! Đó là cả một vấn đề nan giải, và vô cùng trọng đại cần được giải quyết.

Theo Lục Tổ Huệ Năng thì:

- Niệm trước Mê, tức Phàm Phu; Niệm sau Ngộ, tức Phật

- Niệm trước Chấp Cảnh, tức Phiền Não; Niệm sau Lìa Cảnh, tức Bồ Đề

Bởi thế, khi một Niệm suy lường là Niệm Nhị Biên Chấp Thật, tức cái Niệm Phàm Phu Mê Muội, ngoài Chấp Tướng, trong Chấp Không!

Khi không nguyên do gì cả! Vọng Niệm này tự khởi cái Giác: Kiến, Văn, Giác, Tri, là Cái Giác của Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt...( tức Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi...). Rồi từ cái Vọng Giác này đi xa hơn, nó lại tự chia thành Năng, thành Sở, tức là chia có Ta, có Người, có Cảnh Vật! Và đương nhiên nó chấp là "Có Thật" tất cả những thứ ấy!

Bởi những chấp chước mọi sự vật là "Có Thật" nên mới tư túi đủ thứ: Nào danh vọng, nào tiền tài, nào ái dục, càng nhiều càng tốt cho bản thân, cho gia đình, cứ như vậy càng ngày càng tham lam, càng ích kỷ, để rồi có sự hơn thua, tranh đấu, đố kỵ, ghét ghen, thủ đoạn, chiến tranh và chết chóc! Tất cả cũng chỉ vì quyền lợi riêng tư! Với Vô Minh, chúng ta vô tình không biết là mình đang bị khốn khổ phiền não trói buộc, ngày lại ngày càng thêm trầm trọng hơn!

Thật là phúc đức thay cho những ai sớm nhận ra sự việc ấy để chán chường cái trò chơi phiền não Vô Minh này nên muốn được giải thoát!

Thì vẫn theo Lục Tổ Huệ Năng: Khi chúng ta đã hiểu sơ và nhận ra được rằng: "Chân Như Tự Tính có khởi Niệm, nhưng cái Niệm của Chân Như Tính không có Năng, không có Sở vì Chân Như khởi Niệm là Niệm Vô Tướng, Niệm Vô Trụ, Niệm Vô Niệm, đấy là Niệm Trí Tuệ, Niệm Ngộ ", mà đã là Niệm Ngộ thì là "Phật Đản Sinh". Xin nhắc lại ở trên: - Trong Kinh nói: "Phàm Phu tức Phật"

- Kinh Lăng Nghiêm nói:  - Tính không rời Tướng- Tướng không rời Tính, - Tính Tướng y Một"

- Vẫn trong Kinh: Phật Pháp Không Rời Thế Gian Pháp Mà chúng ta là "Pháp", và hiện đang mang Thân con người có Sáu Căn: Nhãn, Nhỉ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý); Sáu Căn này chúng có Kiến, Văn, Giác, Tri tức là: Thấy, Nghe, Hay, Biết. Xin nhấn mạnh lại: " Do Một Niệm Suy Lường của Vọng Tưởng Vô Minh khởi dậy, là có chuyển, mà có chuyển là có Thức, và có Thức thì tự nó chia Một Tâm Trí Tuệ thành Sáu cái Vọng Thức của Sáu Căn: Nhãn, Nhỉ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý! Nên mới có Năng, có Sở, có phân biệt!

Hiểu như thế thì chúng ta chỉ việc chuyển xoay lại những Vọng Tâm Thức ấy về Tâm Trí Bát Nhã thường hằng khi xưa, vì "Tâm Trí" vẫn đó! Tức là: "Chuyển lại Thức thành Trí". Do đó Lục Tổ nói: "Lục Căn dù có Kiến, Văn, Giác, Tri chăng nữa, cũng chẳng bị Ô Nhiễm bởi muôn cảnh, và cũng không bị ảnh hưởng bởi bất cứ cái gì...

Vì Chân Như Tính vẫn đó, vẫn thường tự tại, vẫn thanh tịnh, và không có Năng cũng chẳng có Sở cho nên Lục Thức cứ việc tự động ra cửa Lục Căn, cứ tự động tiếp xúc với Lục Trần, nhưng Chân Tính ấy vẫn tự tại, an nhiên vô ngại, không nhiễm, cũng chẳng trước" thì ngay đó là "Phật Đản Sinh".Thế cho nên chúng ta Tu làm sao" Học thế nào" Để hiểu và nhận ra Bản Lai sẵn có của mình, là cái cùng khắp không gian, cùng khắp thời gian như đã nói ở trên! Cái ấy nó không hề bị giới hạn, cũng không hề bị gián đoạn, nên nó phải là cùng khắp! Đã là cùng khắp thì quả đúng là:" Phật Pháp Không Rời Thế Gian Pháp!", nghĩa là Phật Pháp không rời Vũ Trụ Vạn Vật, cũng là không rời Chúng Sinh! Vì vậy mà không có chúng sinh, thì làm sao có Phật Pháp" Phật Pháp chẳng ngoài chúng sinh, chúng sinh chẳng ngoài Phật Pháp! Do lẽ đó ai Tu Hành nghiêm chỉnh cũng sẽ thành Phật.

Cái giây phút nhận ra Tự Tính ấy thật đúng ý nghĩa: " Mừng Phật Đản Sinh", Nó vừa thể hiện Phật Đản Sinh của chính mình, vừa báo hiếu được Cha Mẹ đời này, cả Cha Mẹ bao đời trước, cũng là đền ơn Chư Phật Tổ, các Thiện Tri Thức và toàn thể muôn loài muôn vật.

Mừng Phật Đản Sinh

Nhẹ nhàng én lượn với mây bay

Thoang thoảng trầm hương, vi diệu thay!

Muôn loài hớn hơ, phô nguồn sống

Chào đón Đản Sinh, Đức Phật đây.

Chim hót ca, suối đàn hòa tấu

Thác reo vui, hoa nở ngập trời…

Tràn mầu sắc, tung tăng cá lội

Mừng Đản Sinh, Thế Tôn người ơi!

Hào quang chói, mười phương, ba cõi

Tối tăm nào chẳng được chiếu soi

Trường mộng mơ, giật mình tỉnh giấc

Chúng sinh thôi ngụp lặn luân hồi

Toàn vũ trụ nhiệm mầu, vi diệu

Muôn loài chung sức sống đáng yêu

Chưa từng đi, làm sao có đến"

Năng lực này siêu việt, việt siêu!

Đản sinh, ngày ghi ân, kỷ niệm

Đấng đại bi, trí tuệ vô biên

Hướng dạy em: "Vượt Mê, về Giác"

Giác xong thôi, ơn Phật em đền

Thật nghĩa thâm sâu Phật Đản Sinh

Là nhận ra mình, hết điêu linh

Vượt vòng ràng buộc, siêu ba cõi

Là Phật ngay đây, Phật Đản Sinh

Mừng Phật ra đời, Phật Thích Ca

Phật vẫn nơi đây với chúng ta

Không trước, không sau, năm với tháng

Không bao Thế Kỷ, vẫn đây mà

Phật thật là đây, Phật Thích Ca

Không chi là gần, cũng không xa

Ân Phật thâm sâu hằng ngày trả

Phật, "tiếng cười vui" khắp mọi nhà...

Lễ Mộc Dục

Tắm Phật đây không có nghĩa thật là Tắm Phật, vì Phật đây là Phật Tính, mà đã là Phật Tính thì tự nó Thanh Tịnh, Trong Sạch Tuyệt Đối rồi, chúng ta là những kẻ phàm phu, đầy ô nhiễm, làm sao lại có thể Tắm cho Phật được"

Nhưng để noi gương Đức Phật, Ngài đã Tu Hành vô cùng gian lao, khổ cực, Ngài cũng đã từng hướng ngoại tìm cầu, tầm sư học Đạo mãi mà không đạt được kết quả gì! Cho đến một ngày, Ngài phải tọa Thiền và tự hướng vào Nội Tâm mình, mới Giác Ngộ! Tức là nhận ra Phật Tính sẵn có nơi Ngài, và Phật Tính ấy cũng sẵn có ở muôn loài chúng sinh!

Như vậy là chúng ta cũng có Phật Tính! Chỉ vì Vô Minh: Tham, Sân, Si che lấp mà thôi; Nhưng nếu chịu Tu Hành, không cầu Phật bên ngoài mà tự hướng vào Nội Tâm, là theo chân và theo đúng Y Chỉ, "Phương Pháp Tu" của Đức Phật, để rồi một ngày nào đó Phật tự hiện toàn Thân Tâm chúng ta. Thì đó là một cách Tu đứng đắn nhất, đúng nghĩa nhất! Để phù hợp với Chân Tâm Phật Tính thì dĩ nhiên chúng ta tự động buông xã tận cùng mọi Tập Khí là những thói hư tật xấu như : Ích Kỷ, Ghét Ghen, Tranh Giành, Ngạo Mạn, Ác Độc...

Như thế mới thật đúng nghĩa "Tắm Phật"!  Tức là chúng ta đang Tự Thanh Tịnh Thân Tâm mình.  Còn về Lễ Mộc Dục đây, chỉ là một Lễ noi gương, tán dương và tri ân Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni mà thôi!

Tắm Phật

Tôi tắm ai đây, Hay tôi tắm tôi"

Phật tuyệt thanh tịnh, tôi toàn tội thôi!

Ôi! tham, sân, si, mạn nghi đầy đủ

Vậy tôi tắm ai đây" Tôi tắm tôi

Tôi tắm Phật, hay là tôi tắm tôi"

Phật thường tịch quang, tội tôi ngập trời!

Gạn sao cho Tập Khí tận, Vô Minh hết

Bật tiếng ai cười "Ồ! Phật hay tôi""

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.