Hôm nay,  

Thi Sĩ Vương Đức Lệ Đã Đi Rồi

23/01/200800:00:00(Xem: 7407)

Vương Đức Lệ năm 2001.

- Bài viết của Nguyễn Thụy Long từ VN

Tôi và Vương đức Lệ biết nhau từ rất lâu . Nay nghe anh qua đời từ vùng đất xa xôi,  tôi cũng bàng hoàng. Anh là bạn đồng nghiệp với tôi,  anh  làm thơ, tôi viết văn làm  báo từ thuở trước, trước 30-4-1975.

Sau 1975 chúng tôi đều treo bút, không sống bằng nghề cầm bút nữa, đi học tập cải tạo rồi về làm bao nhiêu thứ nghề khác để sống, và muốn sống bằng nghề cầm bút cũng chẳng ai cho, tuy rằng chế độ mới cai trị miền Nam vẫn nói là con đường văn nghệ luôn luôn rộng mở cho tất cả những văn nghệ sĩ, không phân biệt. Nhưng nói vậy mà không phải vậy, ai trong nghề cũng biết. Tốt hơn là quên đi cái đam mê mình có từ thuở thiếu thời, tôi nói thuở thiếu thời vì thời gian cũng xa  lắm rồi, thuở đó chúng tôi cũng chỉ là những cô chú nhóc mười mấy tuổi đầu, còn đi học và ăn bám cha mẹ…

Tôi nhận được tin Vương Đức Lệ qua đời tại Mỹ thật bất ngờ, anh qua đời hồi 2giờ chiều ngày chủ nhật 19 tháng 1 năm 2008, tin chỉ nói như thế, không nói anh bệnh tật gì, và chết tại tư gia. Tôi nghĩ đến anh, sau cuộc di cư năm 1954 từ Bắc vào Nam, chúng tôi được đi học và đời sống người Bắc di cư cũng khá ổn định, ngoài việc học ra chúng tôi có cái đam mê riêng là văn nghệ, sáng tác văn  thơ, chúng tôi chơi với nhau lập thành nhiều thi văn đoàn rồi qui tụ nhau ở tờ Văn Nghệ Học Sinh của bộ Thông Tin ở đường Phan Đình Phùng, nay gọi là đường Nguyễn Đình Chiểu, tờ Văn Nghệ Học Sinh thường họp mặt chúng tôi vào sáng mỗi ngày chủ nhật. Tuần báo này do anh Lê Bá Thảng làm chủ nhiệm và nhà văn Giang Tân làm tổng thư ký.  Báo qui tụ những anh em văn nghệ tuổi nhóc chúng tôi đủ cả Bắc, Trung, Nam, ở nhiều trường học khác nhau. Người yêu văn nghệ cứ đến đó tha hồ mà thảo luạn văn nghệ.

Tôi gặp Vương Đức Lệ ở đó, tên thật của anh là Lê Đức Vượng. Chúng tôi gọi anh bằng bút hiệu, cũng như độc giả gọi thi sĩ Thế Lữ chứ không bao giờ gọi ông là Thứ Lễ. Vương Đức Lệ thuở ấy giống như cậu công tử mặt trắng môi hồng, đôi mắt có vẻ mơ mộng nên cũng  thi sĩ ra phết, đầu không bù rối như "Mốt" của các thi sĩ ngày ấy,  lúc nào cũng được chải chuốt như thi sĩ Đinh Hùng .

Khi vào họp, anh hay ngồi một mình trên khung cửa sổ  nhìn ra hàng cây xanh mướt trên đường Phan Đình Phùng. Anh chỉ nghe và rất ít phát biểu hay tranh luận gì đó, thời đó những cuộc tranh luận sôi nổi nhất là vụ án Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc. Thủ lãnh của nhóm là nhà văn Phan Khôi , Trần Dần, Phùng Quán, Văn Cao, Nguyễn Tuân, nhiều nhà văn nhà thơ đã phải đi tù nhiều năm. Tôi bước đi không thấy phố thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Các vị ấy tranh đấu cho tự do, nhất là tự do sáng tác trong văn nghệ. Không chịu tuân theo giáo điều của Xã Hội Chủ Nghĩa đặt ra. Tác phẩm Nhân Văn Giai Phẩm được cơ sở xuất bản Tự Do ở miền Nam ấn hành lại và phổ biến rộng rãi. Chúng tôi chuyền tay nhau đọc rồi bình luận, tranh luận vung tí mẹt dù rằng hồi ấy kiến thức chúng tôi còn non nớt lắm, chưa có cái chuyên nghiệp của nhà phê bình, nhưng cũng thấy ghê ghê cái nghề làm đồ giả khi đọc "ông Năm Chuột" của Phan Khôi, đọc "ông Bình Vôi" bị bít mất vòi, dân làng mang thờ ở gốc cây đa đầu đình, "con ngựa già của Chúa Trịnh" bị bịt hai mắt chỉ nhìn thấy một phía đằng trước thành thói quen cho đến khi hết thời, đến chết vẫn chỉ có một hướng đi được chủ chỉ định . Những điều được viết lên  đó chính là chủ nghĩa Cộng Sản. Những bài thơ than khóc cho số phận con người trong cuộc cải cách ruộng đất làm chết oan hàng triệu người, để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam. Tất cả những kiếp nạn của những người dân miền Bắc thời ấy được tái hiện qua phim "Chúng Tôi Muốn Sống" mà tài tử xi nê nổi tiếng một thời  Lê Quỳnh đóng vai chính .

Đám anh em văn nghệ nhóc chúng tôi thường đưa nhau về nhà chơi, nếu gã nào có nhà, không phải ở trong trại học sinh Phú Thọ, dành cho trẻ di cư vào miền Nam một mình hoặc côi cút. Tôi cũng đưa các bạn văn nghệ, về nhà tôi chơi ở con hẻm bùn lầy nước đọng, tụ nhau bàn luận hoặc khoe cho nhau những bài thơ hoặc những bài viết mới sáng tác, trên căn gác gỗ  đường Phát Diệm,  gọi là sở rác Nguyễn Tấn Nghiệm.

Một buổi sáng chủ nhật Vương Đức Lệ cũng đưa chúng tôi về nhà anh chơi sau khi họp  ở báo Văn Nghệ Học Sinh. Nhà anh ở trong trại lính thuộc Quân Khu Thủ Đô, bố anh là sĩ quan cao cấp thời ấy nên được ở công ốc nên nhà khá khang trang, nhìn ra cái sân rộng có những cây cổ thụ, , chúng tôi không được gặp hai bác mà gặp mấy cô em gái của anh Vương Đức Lệ, hình như là nữ sinh Trưng Vương, đời sống khép kín trong gia đình nền nếp.

Tuổi thiếu niên của chúng tôi qua đi, rồi lớp người lên đại học, lớp phải ra đời sớm hơn để kiếm sống, lớp lên đường nhập ngũ . Sau một thời gian ở quân ngũ ra tôi trở thành phóng viên chiến trường. Tết Mậu Thân VC đánh vào nhiều tỉnh thành miền Nam, gọi là cuộc Tổng Tiến Công 1968. Tôi mất đi một số bạn bè, ở Huế,  Quảng Trị và ở nhiều mặt trận khác. Tôi cũng vài lần chết hụt trên những mặt trận mà tôi đi nhặt tin tức. Tôi được tin Vương Đức Lệ bị thương mù một mắt khi anh làm quản đốc đài phát thanh ở Nha Trang. 

Năm 1975 miền Nam bại trận. Cả miền Nam nhà nhà có người đi học tập, người người đi học tập,  tôi sưu tầm được một bài thơ của anh viết về thời kỳ đó:

CÔ ĐỘC

Phòng giam hai bệ ngủ

Quanh quất một mình ta!

Chợt thèm hơi thở nhỏ

Dẫu tiếng thở dài xa.

*

Mờ mờ ô của gió

Chân ai bước lại qua

Trừng trừng đôi mắt đỏ

Soi mói, rợn da gà…

*

Xủng xẻng xâu chìa khoá

Dừng lại phòng riêng ta

Am ầm khuôn cửa mở

Đêm đen bỗng vỡ oà.

Chúng tôi , những người chế độ cũ bị buộc tội thuộc thành phần phản động. Tất cả bị đưa đi để cải tạo , tôi và một số anh em được chuyển lên trại Z30A Xuân Lộc Đồng Nai.

Vào một đêm giao thừa xuân năm 1978, hàng ngàn trại viên chúng tôi chiếm trại, giành lấy ba ngày  tết Nguyên đán tự do. Ba ngày ấy chúng tôi sống thật thoải mái, chào quốc kỳ của mình  in trên chai bia Quân Tiếp Vụ, chúng tôi ăn uống , ca hát, tất cả những bài hát cũ nào còn nhớ được. những bài hát  thật hay, có những bài hát thật  xúc động. Nhắc lại thuở còn tự do . Tôi ngồi cạnh anh Ma Xuân Đạo, từng là giáo sư  dạy văn nổi tiếng , chúng tôi lặng người khi nghe  lời hát của một người bạn tù cất lên "Chiều nay đi nhận xác chồng, quay đi để thấy… chiều nay đi nhận xác anh cuồng si thuở ấy… cao nguyên hoang lạnh ơ hơ, như môi thiếu phụ nhạt nhoà nét son…. Tình ta không vẹn cũng tròn quay đi để thấy không còn người yêu…" Bài hát đã kết thúc nhưng dư âm của nó vẫn làm cho người nghe phải bồi hồi xúc động về những lời than khóc của người vợ đi nhận xác chồng bị chết trận , những lời rên xiết vỉ van của người thiếu phụ, khi nhớ laị những "cuồng si" , những yêu thương  của mgươì tình , trong niềm khát khao cháy bỏng ấy, mùi nhang khói làm nàng tưởng đến hơi hướng người chồng , và tưởng vẫn còn đang nằm trong vòng tay người yêu dấu. Tôi buột miệng: Bài hát hay quá, anh Ma Xuân Đạo tiếp lời : Bài thơ của con Ý đấy ! Được phổ nhạc . Tôi hỏi : Ý nào"  : Ý là em gái của Vương Đức Lệ. Tôi ngạc nhiên: Không ngờ thơ Vương Đức Lệ đã hay, mà thơ của cô em gái cũng không kém. Thuở thiếu thời Trần Dạ Từ cũng có lần nói với tôi khi đọc thơ của Vương đức Lệ: Thơ thằng này lạ quá! Trong thơ nó có đủ cả, kể cả tiếng chuông chùa … boong!

Mỗi lần tới nhà anh Văn Quang chơi tôi lại gặp Vương Đức Lệ , tôi nhớ  mãi hình ảnh Vương Đức Lệ vẫn cái dáng lười biếng thuở nào, hắn nằm dài trên ghế sa lông tán dóc với anh em, vẫn tính cách ít nói, miệng luôn mỉm cười , luôn luôn đeo kính đen cũng mang đầy vẻ bí ẩn như điệp viên 007 . Sau này tôi nghe tin anh ra đi định cư ở nước ngoài. Nay thì đã  nghìn trùng xa cách….Vương Đức Lệ đã thật sự ra đi,  để lại sự thương tiếc trong lòng bạn bè…Cầu cho anh khi dời cõi tạm được dạo chơi miền tiên cảnh.                                                                                                                                        

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.