Hôm nay,  

Vấn Đề Người Chăm Đòi Đất Đai

13/04/200900:00:00(Xem: 10645)

Vấn đề người Chăm đòi đất đai

Từ công Nhượng
(LTS: Bài viết sau của nhà văn Từ Công Nhượng, TTK/Hội IOC-Champa, nhằm trả lời một điểm thắc mắc của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, sẽ làm sáng tỏ thêm một vấn đề nóng bỏng và để rộng đường dư luận.)
Gần đây có những bài viết đăng trên mạng đưa ra vấn đề người Chăm đòi lại đất đai, điển hình như bài của ông Phan Cao Sơn mang tựa đề “Người Chàm đòi đất đai” được đăng trên “tinparis.net” vào ngày 9 tháng 2 năm 2009 và một bài nữa của ông Tiến sĩ Mai Thanh Truyết báo động về nguy cơ Trung Cộng đang tiến hành chiến lược xâm lăng lãnh thổ Việt Nam trong “Chiến Lược TQ Nhằm Biến Tây Nguyên Việt Nam Thành Tây Tạng 2 – tình hình thập phần nguy hiểm”, đăng trên mạng Việt Báo, Thứ Ba ngày 24 tháng 3 năm 2009 vừa qua.
Để trả lời cho bài viết của ông Phan Cao Sơn, ông Musa Porome, chủ tịch của Hội IOC-Champa viết một kháng nghị thư đăng trên mạng “champaka.org” vào ngày 17 tháng 2 năm 2009 nhằm giải tỏa cho những nghi vấn liên quan đến vấn đề người Chăm đòi đất đai hay đòi quyền tự trị.
Riêng về bài của Ts Mai Thanh Truyết phân tích và báo động về lộ trình thôn tính Việt Nam của TQ, trong đó nói về vấn đề khai thác quặng Bauxite tại Đak Nông vùng Cao Nguyên Việt Nam, và đặt vấn đề với người Chăm phối hợp với TQ để dành lại chủ quyền của vương quốc Champa.  Đó là vấn đề mà chúng tôi muốn trình bày ở đây.
Xin mạn phép trích đoạn văn của Ts Mai Thanh Truyết:
“… Hiện tại, TQ đã phối hợp một cách gián tiếp với người Chăm ở cao nguyên Bolloven bên Lào, bên Cambodia, và “nhập nhằng” tóm gọn hai dân tộc Chăm và  Thượng làm một, dưới danh nghĩa Fulro/Chăm để khích động nhu cầu dành lại chủ quyền của vương quốc Champa do một nhóm người Chăm bên Pháp dưới quyền lãnh đạo của một tiến sĩ người Chăm cổ suý.  Nhóm nầy cũng được sự hỗ trợ của thực dân Pháp vốn đã có quyền lợi tại vùng cao nguyên nầy hồi thời thuộc địa. Cũng cần nên biết thêm, người Thượng ở vùng Cao nguyên hiện tại đã được các hội thiện nguyện Hoa Kỳ yểm trợ dưới danh nghĩa DEGA.  Theo tin tức được loan tải trên mạng, họ đã hình thành tổ chức The Cham National Federation of Cambodia (CNFC) và đã được Liên hiệp Quốc công nhận qua Department Of Economic and Social Affairs (DESA) dưới quy chế Tham Mưu (consultative status) kể từ năm 2009 nầy.  Một tổ chức thứ hai là The Overseas Cham Unity Organization (OCUO) cũng đang xúc tiến hồ sơ lên Liên Hiệp Quốc và Thuỵ Điển để ghi danh xin thành lập Chính phủ Lưu vong Chăm (Cham’s Government In Exile).  Chính phủ nầy sẽ ở ngoài lãnh thổ truyền thống của Champa là miền Trung Việt Nam, mục đích nhằm duy trì sự hiện hữu của chính phủ hoàng gia Champa trước đây.  Theo như dự định, chính phủ nầy sẽ phác thảo bản hiến pháp và triệu tập Đại hội để bầu ra Thủ tướng và các Bộ trưởng vào nội các chính phủ.  Qua các tin tức trên, chúng ta thấy rõ ràng là phải có bàn tay “lông lá” của TC mới có thể thực hiện được những dự tính thành lập chính phủ lưu vong của người Chăm.  Theo một nguồn tin đáng tin cậy, chính phủ lưu vong ban đầu dự định đặt trụ sở tại đảo Hải Nam (TQ), nơi có một cộng đồng thiểu số Chăm nay gọi là Utsat cư ngụ. Cộng đồng người Chăm nầy theo sử liệu đã sang định cư tị nạn tại đây để chạy loạn vào thời Lưu Kỳ Tông, một ông vua tiếm ngôi không phải gốc Chăm đã có một thời áp dụng chính sách cai trị hà khắc với dân chúng Chăm năm 988 (theo Georges Maspero trong quyển sách Le Royaume de Champa). Nhưng sau đó, để tránh sự phản kháng của các thành viên LHQ khác, trụ sở dự định mới sẽ là Thuỵ Điển, nơi có một tiến sĩ người Chăm định cư để tạo danh nghĩa nhằm gây áp lực với Việt Nam cộng sản khi cần thiết.  Câu hỏi được đặt ra là TQ giúp người Chăm hải ngoại nhằm mục đích gì"”
Tác giả kết luận rằng vấn đề Việt Nam cho phép TQ hợp tác khai thác quặng Bauxite tại Đak Nông ở Cao Nguyên và người Chăm đòi lại đất đai đều nằm trong “những mắc xích tiến chiếm Việt Nam của TQ”.
Người Chăm đòi lại đất đai – chuyện thật hay ảo"
Bài “Chiến Lược TQ Nhằm Biến Tây Nguyên Việt Nam Thành Tây Tạng 2 – tình hình thập phần nguy hiểm” của Ts Mai Thanh Truyết làm gợi lại cuộc sống tại Mỹ vào năm 2003 trong lúc tổng thống Bush đệ nhị (ông Bush con) và nội các của ông đang tìm cách tấn công nước Iraq. Tôi còn nhớ lúc ấy hầu như ngày nào báo chí Mỹ cũng đăng các nguồn tin tức theo dư luận, bới lông tìm vết để tìm vũ khí giết người hàng loạt (Weapon of Mass Destruction) của ông Sađam Husên.  Trong nội các của ông Bush thì dư luận có thể sẽ không tin ông Dick Cheney, vị phó tổng thống hay ông Donald Rumsfeld, bộ trưởng của Ngũ Giác Đài vì hai ông này vốn đậm về phe Diều Hâu nhưng người ta có thể tin ông Colin Powell, bộ trưởng Bộ Ngoại Giao vì tính tình điềm đạm và tài mưu lược của ông.  Bởi vậy mặc dù tòa Bạch Ốc và báo chí đã sản xuất ra hàng loạt những nguồn tin tức đáng tin cậy nhưng không mấy ai tin cho đến khi ông Colin Powell lên trình bày với Liên Hiệp Quốc để xin thẩm quyền tấn công Iraq.  Chuyện của ông Colin Powell lên Liên Hiệp Quốc đã trở thành một vết nhơ trong cuộc đời phục vụ vì dân vì nước và ông đã thường xuyên hối hận về sau.


Thực tế là từ khi trận đánh vùng vịnh năm 1991, sau khi ông Bush cha và quân chư hầu đánh Sađam rút ra khỏi nước Kuwait và áp dụng chính sách cấm vận làm cho nền kinh tế của Iraq kiệt quệ.  Cho đến thời của tổng thống Bill Clinton thì sự cấm vận đã gây thiệt hại nặng nề.  Mỗi năm khoảng 500,000 em bé Iraq vô tội bị chết vì thiếu dinh dưỡng và thuốc men.  Khi được hỏi về con số trẻ em Iraq bị chết hằng năm trong cuộc họp báo “Meet The Press”, bà Madeleine Albright, lúc đó là bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, đã trả lời rằng: “It’s worth it!”  có nghĩa là sự chết của các trẻ em Iraq vô tội xứng đáng để trừng trị Sađam Husên.
Bởi vậy, câu chuyện của ông Bush con tuyên truyền để đánh nước Iraq với lý do Irag có vũ khí giết người hàng loạt nhằm thực hiện mưu đồ đế quốc của mình đã trở thành trò hề cho thế giới vì sau trận chiến không ai tìm ra được một mảnh vụn vũ khí giết người hàng loạt nào của ông Sađam Husên cả.  Cũng vì sự lừa đảo này, vị Thủ Tướng nước Tây-ban-nha là ông Jose Maria Aznar và ông Tony Blair của nước Ăng-lê bị rơi chức.  Ông Bush con tuy không bị mất chức nhưng dân chúng đã cột tay của ông bằng cách bầu những vị ứng cử viên thuộc đảng Dân Chủ lên nắm Thượng Viện và Hạ Viện vào cuối năm 2006.  Cuộc viếng thăm nước Iraq cuối cùng của ông Bush vào năm 2008 được tiếp đón bằng hai chiếc dày của nhà phóng viên Muntadar al-Zaidi đã thành một trò hề đối với vị nguyên thủ quốc gia của Mỹ.
 Bài học của năm 2003 trong cuộc tiến chiếm nước Iraq của tổng thống Bush là ông đã đưa ra những tang chứng ma để phục vụ cho mộng bá chủ hoàn cầu của phái Diều Hâu.  Nhưng trong suốt quá trình tuyên truyền chính trị dẫn đến chiến tranh, các tài liệu tình báo rẻ tiền được trình bày trước Liên Hiệp Quốc và Quốc Hội Mỹ đã làm cho dân chúng và thế giới cứ tưởng như thật!
Trở lại với vấn đề người Chăm đòi lại đất đai.
Dân số người Chăm hôm nay gồm khoảng 100 ngàn người sống rời rạc tại nông thôn và miền núi, nghèo đói và lạc hậu so với tập thể khổng lồ hơn 84 triệu dân Việt Nam.  Sau 1975, dân tộc Chăm đã trở thành một tập thể vô sản, không có đất đai để canh tác, nghèo đói, không có người biết lái xe con và cũng không mấy ai biết hành nghề đánh máy, một năm chỉ có vài người sinh viên lên cấp đại học… thế thì vấn đề đòi đất đai để tái lập một vương quốc Champa để làm gì"
Cũng vì thực trạng xã hội Chăm hôm nay vẫn còn đang lạc loài trong sự bần cùng, nhân tài còn hiếm hơn lá rụng mùa đông, Tiến sĩ Po Dharma, vị giáo sư gốc Chăm thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ - Pháp, đã trả lời với đài truyền hình Dân Sinh trong ngày Đại Hội Văn Hóa Champa tại San Jose vào ngày 7 tháng 7 năm 2007 rằng:  “nếu Việt Nam có ban ân huệ cho người Chăm hôm nay một thể chế tự trị thì chúng tôi cũng không dám tiếp nhận!”
Vào năm 2001 và 2004, tình hình ở Cao Nguyên rất là nóng bỏng.  Đó là những năm mà các dân tộc thiểu số ở vùng này đã cùng nhau đứng lên chống chính quyền về việc cưỡng chiếm đất đai bất hợp pháp.  Cuộc vùng dậy đó bị chính quyền CS đàn áp dã man, hàng ngàn người đã chạy sang lánh nạn ở tỉnh Monđokiri, Cam Bốt.  Sau khi dẹp tan cuộc biểu tình, chính quyền CSVN đã bố trí hệ thống tình báo dầy đặc ở Cao Nguyên đến nỗi một con ruồi bay qua cũng không lọt thì vấn đề Hậu-Fulro đứng lên để đòi đất đai hay đòi quyền tự trị thì làm sao thoát khỏi hệ thống tình báo của họ"  Cho nên nói rằng Fulro/Chăm phối hợp với TQ để dành lại chủ quyền của vương quốc Champa là vấn đề vượt ngoài sự tưởng tượng của mọi người nhất là đối với dân tộc thiểu số.  Quả thật, đã có một thời vương quốc Champa trải dài từ Quãng Bình cho đến Bình Tuy nhưng hôm nay nó chỉ có giá trị như một dữ kiện lịch sử chứ không ngoài gì hơn.
Sau cuộc tấn công vào Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế vào năm 2001, dân chúng tại Mỹ sống trong cảnh phập phòng lo sợ vì lúc nào cũng sợ bị bọn khủng bố tấn công bất ngờ.  Bộ Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia (Homeland Security) phát minh ra một hệ thống báo động sự đe dọa khủng bố bằng chỉ số bằng màu. Với nguồn tin đáng tin cậy chỉ số khủng bố sẽ tăng từ màu vàng lên màu cam và đôi lúc nhảy lên màu đỏ, nghĩa là thập phần nguy hiểm… Vấn đề người Chăm đòi đất đai cũng tương tự.  Nó là chiêu bài mà các chính trị gia, các đảng phái chính trị cũng như chính quyền CSVN dùng để chụp mũ hoặc đàn áp dân tộc bản địa và là nguyên nhân gây ra sự chia rẽ hận thù giữa hai dân tộc cùng san sẻ một mảnh đất trên nước Việt Nam.  Nó làm cho dư luận xôn xao nhưng thực chất chỉ là một con số KHÔNG to tướng.
Xã hội Tây-Âu là nước tự do dân chủ. Ai cũng có quyền bày tỏ cảm nghĩ của mình. Tuy nhiên, sự thật và chính nghĩa không bao giờ lu mờ trước những bằng chứng không có cơ sở.  Những lối hành văn dựa theo “nguồn tin đáng tin cậy…” nhằm chụp mũ một cộng đồng vô tội vạ sẽ đưa đến nhiều điều nghi ngờ đáng tiếc.  Hiện tại, thế giới càng đang thu hẹp nhỏ lại dưới sự tân tiến.  Cùng một lúc tinh thần đa chủng tộc biểu lộ ngày càng nhiều hơn. Chúng ta nên tạo sự cảm thông và thương yêu lẫn nhau.  Đó là yếu tố xây dựng sự hài hòa ấm no cho mọi người trong tương lai.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng chỉ được vài tháng ông xin từ chức không cho biết lý do. Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo tại khách sạn Caravelle. Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu. Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).
Làm người, không có gì hào sảng hơn, là được sinh tử với những gì mình hằng mong sinh tử cùng. Làm phóng viên, không có gì cảm hứng hơn là được thành nhân chứng của những nhân chứng và sự kiện. Cả hai nguyện ước, đời và nghề, đã làm nên một miền hoa cỏ có tên gọi là Kiều Mỹ Duyên.
Bạn có bao giờ ôm giấc mơ đặt chân lên cát nóng sa mạc và đứng đối mặt cùng một Kim Tự Tháp vĩ đại, khi học sử về Ai Cập Cổ Đại ngày còn bé thơ chưa? Bạn có từng ước ao được thấy bức tượng Nhân Sư tận mắt hơn là xem hình ảnh trên mạng hay phim ảnh không?
Với phần lớn dân Việt tị nạn vẫn còn sống sót từ thế kỷ qua thì quên vẫn thường dễ chịu hơn là nhớ, kể cả những kẻ đang cầm quyền ở đất nước này. Những dịch vụ “bán bãi thu vàng” của người vuợt biên, tuy có mang lại lợi nhuận không nhỏ nhưng lại không phải là kỳ tích kinh tế để họ có thể tự hào. Đó là lý do mà nhà nước hiện hành vận động mọi phương thức ngoại giao để yêu cầu các nước Á Châu “đục bỏ bỏ những bia tưởng niệm thuyền nhân.” Chối bỏ quá khứ, tuy thế, không phải là phương cách tích cực để tiếp cận với hiện tại hay hướng đến tương lai. Vết thương của những thuyền nhân vào cuối thế kỷ hai mươi vẫn chưa kịp khép thì đầu thế kỷ này lại phát sinh ra những thuyền nhân mới. Tuy có tên gọi là nouveaux boat people nhưng họ không di tản bằng đường thủy.
Diệt chủng người Duy Ngô Nhĩ là hàng loạt các vi phạm nhân quyền đang diễn ra đã được thực hiện bởi chính quyền TQ chống lại người Duy Ngô Nhĩ và các nhóm dân tộc và tôn giáo thiểu số trong và chunh quanh Vùng Tự Trị Duy Ngô Nhĩ ở tỉnh Tân Cương (XUAR) của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, theo bản tin “Uighurs: 'Credible Case' China Carrying Out Genocide” được đăng trên BBC News tiếng Anh vào ngày 8 tháng 2 năm 2021.
Nhiều năm sau, mỗi năm đến ngày 30 tháng 4, nhớ lại những ngày chinh chiến trên quê hương, những trang chiến sử Bảo Quốc An Dân oai hùng của người lính quốc gia được lần lượt lật qua cùng với những đoạn đường khổ nạn của dân tộc mà đoàn quân Mũ Đỏ đã kinh qua, câu nói của vị cựu Tư lệnh "Nhảy Dù là phải như vậy" cũng là câu nói của các thế hệ người lính Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa, một đời tận trung báo quốc
Các cuộc khảo sát và nghiên cứu từ chính phủ, các tổ chức dân sự cho đến đại học đều cho thấy, dù có những bước tiến bộ to lớn cũng như được luật pháp bảo vệ, trên thực tế thì các phân biệt đối xử dựa trên sắc tộc, giới tính, tuổi tác... vẫn còn hiện hữu trong xã hội Mỹ. Riêng trong vấn đề bạo lực cảnh sát thì rủi ro một người da đen hay da màu bị cảnh sát bắn chết hay đối xử bất công đều cao hơn người da trắng.
Tỉnh thức thân phận là vấn đề kiến thức; xác định ý muốn để thay đổi là vấn đề quyết tâm. Nếu còn sống trong vô cảm, mang tâm trạng nô lệ tự nguyện hay còn Đảng còn mình và chờ đợi hạnh phúc giả tạo do Đảng, Trung Quốc, Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế ban phát, thì người dân sẽ còn tiếp tục thua trong đau khổ. Không ai có phép lạ để chuyển hoá đất nước thay cho chúng ta. Vấn đề là sự chọn lựa.
Người già nghĩ về quá khứ, còn người trẻ nghĩ đến tương lai. Người trẻ Việt Nam đã có mặt trong chính quyền, làm việc ở phủ Tổng Thống, ở Quốc Hội, là Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ, Chánh Án của liên bang, của tiểu bang, làm Tướng và giữ những chức vụ quan trọng ở Bộ Quốc Phòng. Tuổi trẻ Việt Nam là khoa học gia, là thương gia, là giáo sư đại học. Người trẻ có mặt khắp nơi, ở Mỹ, Úc, Á, Âu Châu. Người trẻ Việt Nam tiến rất nhanh.
Ở Việt Nam, người dân không hiểu tại sao công tác phòng, chống Quốc nạn tham nhũng cứ “vẫn còn nghiêm trọng và tinh vi” mãi sau 16 năm có Luật phòng, chống tham nhũng đầu tiên (2005), 3 năm sau có Luật thứ nhì (2018) và sau 9 năm (2012) Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được chuyển từ Chính phủ sang Bộ Chính trị do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Ban.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.