Hôm nay,  

Mỹ Và Vấn Đề Kỳ Thị

18/03/200800:00:00(Xem: 12217)

...thành công của ông Obama cho đến ngày hôm nay, một phần cũng nhờ cái áo giáp ”thép đen”...

Lâu nay rất nhiều người tin rằng nước Mỹ là nước văn minh tiến bộ nhất thế giới, chẳng những về kỹ thuật và khoa học, mà còn trên đủ mọi phương diện khác. Như văn hóa, với thành quả văn chương, phim ảnh, âm nhạc, truyền thông gần như khống chế cả thế giới; hoặc kinh tế với một chế độ tư bản, kinh tế thị trường hữu hiệu nhất, hay xã hội với một chế độ an sinh tương đối công bằng nhất, không cực hữu cũng chẳng cực tả. Về quân sự, nưóc Mỹ có một quân đội hùng mạnh tân tiến nhất. Còn về chính trị, Hoa Kỳ có một thể chế chính trị bảo đảm bình đẳng, tự do và dân chủ tuyệt đối cho mọi công dân.

Có thật vậy không"

Ở đây, chúng ta khoan bàn về những vấn đề khác mà hãy thử xem lại những “tiến bộ” về chính trị của Mỹ.

Nếu nói về tự do có tiếng nói trong những vấn đề chính trị, thì không ai chối cãi được nước Mỹ cực kỳ tự do, ai muốn nói gì thì cứ nói, đàn ông đàn bà, người già trẻ em, da trắng da đen, giàu nghèo,… đều có quyền ngang nhau. Muốn ca tụng hay sỉ vả bất cứ chuyện gì, bất cứ ai, cũng được, không bao giờ sợ bị bắt đi học tập cải tạo tư tưởng cả, mặc dù đầu óc méo mó khùng điên.

Thậm chí dở hơi như cái anh Ralph Nader (năm nay 74 tuổi, còn già hơn McCain) cũng được ra tranh cử tổng thống bốn lần, lần nào cũng được bảo đảm quyền nói lăng nhăng và cũng được năm bảy phần trăm dân Mỹ hoan hô vỗ tay.

Thế nhưng nếu nói về ảnh hưởng và quyền lực thực tế trong chính trị thì vấn đề cần phải được xét lại. Tính bình đẳng giữa tất cả các công dân dường như chỉ mới có trên lý thuyết thôi.

Năm 1920, Hiến Pháp Hoa Kỳ được chính thức tu chính để cho phụ nữ có quyền bỏ phiếu trong các cuộc đầu phiếu chính trị. Chúng ta không có tài liệu chính xác, nhưng chắc chắn nước Mỹ là một trong những nước đầu tiên cho phụ nữ được bình đẳng với các vị tu mi nam tử trên phương diện chính trị. Nhưng phải đợi đến 82 năm sau, đến năm 2008, thì nước Mỹ mới hy vọng - chưa có gì chắc chắn - có được một nữ lưu lên lãnh đạo. Để rồi báo chí Mỹ nhốn nháo đặt vấn đề, từ những vấn đề quan trọng nhất như “đàn bà có làm tổng tư lệnh quân đội được không"”, cho đến những vấn đề dấm dớ nhất như “thế thì gọi ông chồng bà tổng thống là gì"”
Trong khoảng thời gian hơn tám mươi năm đó, cả thế giới, mặc dù đi sau Mỹ, nhưng rõ ràng đã đến trước từ lâu rồi. Tại Âu Châu, bà Thatcher của Anh đã nắm quyền từ hơn hai chục năm trước. Tại Á Châu, bà Gandhi của Ấn Độ đã làm thủ tướng từ hơn bốn mươi năm trước, cùng lúc với bà Golda Meir làm thủ tướng Do Thái. Gần đây hơn, Phi Châu đã có bà Johnson-Sirleaf của Liberia, Nam Mỹ có bà Bachelet của Chile, đều là tổng thống được dân bầu đàng hoàng. Ngay cả khối Hồi giáo thường bị cho là có chánh sách hủ lậu với phụ nữ, cũng đã có bà Bhutto làm thủ tướng Pakistan trong thập niên 80 rồi.

Tại Phi Luật Tân và Nam Dương, hai cuộc cách mạng từ quần chúng lên -khác với “cách mạng” từ các đồng chí hay các tướng tá xuống- đã đưa bà Corazon Aquino và bà Sukarno Megaputri lên làm tổng thống. Thậm chí đến cả cái xứ Trung Quốc cộng sản cũng thế: nếu Đặng Tiểu Bình không cao tay ấn hơn thì Giang Thanh cũng đã là người đàn bà thứ ba – sau Hoàng đế Võ Tắc Thiên và Thái hậu Từ Hy - lên nắm quyền sinh sát trên hơn một tỷ các đấng con trời rồi. Dĩ nhiên bà Giang Thanh, cũng như hai bà hoàng kia, đều chẳng được ai bầu hết, mà đã lọt vào đỉnh cao của quyền lực qua phòng the của hậu trường.

Bà Hillary Clinton của Mỹ ngày nay cũng đang tính leo lên tột đỉnh quyền uy bằng một sự phối hợp phương thức của bà Giang Thanh và bà Thatcher. Vừa dựa hơi ông chồng, vừa dùng khả năng cá nhân tranh cử trong dân chủ đàng hoàng.
Điều may mắn cho phụ nữ Hoa Kỳ là lần đầu tiên có một bà có đủ tầm vóc để tranh cử ngang ngửa với bất cứ ông nào, và thực sự có hy vọng đắc cử, trở thành tổng thống “phụ nữ” đầu tiên của Mỹ. Lần đầu tiên trong lịch sử, nước Mỹ có hy vọng chạy theo kịp sự tiến bộ của Liberia và các nước nhược tiểu khác, sẵn sàng chấp nhận một phụ nữ làm tổng thống.

Điều không may là chính người phụ nữ đó lại có quá nhiều hành trang.

Phải có tầm vóc thì mới đánh nhau ngang ngửa với mấy ông được, nhưng chính cái tầm vóc đó làm nhiều người đâm ra ghét hay sợ. Bà Hillary là người đàn bà Mỹ được nhiều người nể phục nhất, nhưng đồng thời cũng là người bị ghét hay sợ nhất, với một tỷ lệ rất cao.

Và đây chính là thế bí của bà Hillary. Thiên hạ thường cho rằng làm tổng thống là một công việc cực kỳ khó khăn đòi hỏi một sự bình tĩnh, cứng rắn đặc biệt, những khả năng mà một nữ nhi không thể có được. Bà Hillary muốn vượt qua bức tường này nên đã phải cố chứng tỏ mình cứng rắn hơn người. Không ngờ cố gắng này lại mang lại cho bà một hình ảnh của một nữ hung thần, dữ dằn, đầy tham vọng đáng sợ và đáng ghét.

Cuộc tranh cử tổng thống hiện nay sẽ cho ta biết khối người nể phục nhiều hơn, hay khối người ghét sợ nhiều hơn. Hoa Kỳ có thể đã sẵn sàng để đàn bà lãnh đạo. Nhưng với bà Hillary, chẳng có gì bảo đảm Hoa Kỳ sẽ có bà tổng thống năm nay.
Điều thật đặc biệt nữa cho cuộc bầu cử tổng thống năm nay là lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ, chẳng những một phụ nữ có hy vọng làm tổng thống, mà ngay cả một người “da đen” cũng có hy vọng lên làm tổng thống.

Năm 1965, tổng thống Johnson ban hành luật bình đẳng chính trị cho dân da màu, cho phép khối người này có đầy đủ quyền bầu bán tranh cử như bất cứ một công dân Hoa Kỳ nào khác.

Và bây giờ, hơn bốn mươi năm sau, người ta mới thấy được một ứng viên tổng thống da đen với hy vọng thực sự chứng minh được quyền bình đẳng đó.

Vấn đề kỳ thị màu da ở Mỹ còn nghiêm trọng hơn chuyện kỳ thị nam nữ, không cần biết Mỹ đã làm những luật gì, cũng như không cần biết mấy ông bà chính khách Mỹ tuyên bố lăng nhăng chuyện gì, hay báo chí Mỹ tự bào chữa thế nào.


Trong suốt mấy trăm năm, dân da trắng Mỹ vẫn nhìn mấy anh da đen như là nô lệ ngang hàng với loài gia cầm - người ta vẫn còn nhớ những bảng ghi “cấm chó và da đen” của thập niên 50. Ngày nay, tình trạng đã tiến bộ rất xa, nhưng một phần lớn khối dân da trắng vẫn cảm thấy có cái gì không ổn đối với dân da đen. Sự kỳ thị màu da, bất chấp mọi thứ luật lệ được phát minh ra và bất chấp mọi lời bào chữa, vẫn tiềm tàng đâu đó. Trong đầu óc mấy ông bà “Mỹ trắng” cũng như trong đầu óc mấy ông bà “Mỹ đen”.

Nếu nói không còn kỳ thị nữa, thì sao còn thấy đầy rẫy những luật lệ, hành động, lời bàn,… về chuyện khác biệt màu da" Nếu thực sự không còn kỳ thị thì sao còn đặt vấn đề ông Obama đen hay trắng"

Trên thực tế, vấn đề kỳ thị màu da của Mỹ vẫn còn đó. Chỉ khác là phần lớn mấy anh da trắng, đặc biệt là trong giới trí thức và truyền thông, đều cảm thấy “tội lỗi” và bị rơi vào tình trạng “chối bỏ tập thể” (mass denial). Đến độ sự kỳ thị chống da đen biến chứng thành kỳ thị chống … da trắng!

Thật vậy, một anh da trắng mà làm hay nói bất cứ điều gì đụng chạm đến mấy anh da đen thì sẽ bị đòn hội đồng đến chết, nếu không thì cũng bị khinh ghét như là một anh lạc hậu chậm tiêu. Ngược lại một anh da đen thì đương nhiên có quyền làm và nói bất cứ gì để sỉ vả anh trắng và khua chiêng gõ trống về “niềm kiêu hãnh” của dân da đen (black pride), như thể dân da đen mới có quyền kiêu hãnh trong khi dân da trắng hay da vàng thì phải cảm thấy hổ thẹn.

Chúng ta thấy đầy rẫy những sách báo, chương trình truyền hình, hội nhóm, trường học, học bổng, … chỉ dành riêng cho dân da đen, tuyệt đối cấm dân da trắng bén mảng đến. Hãy thử tưởng tượng có những hội nhóm chỉ dành riêng cho dân da trắng và tuyệt đối cấm dân da đen, những hội nhóm đó sẽ thọ được bao lâu trước khi bị tẩy chay, chửi bới, thưa ra tòa, bị FBI đóng cửa"

Trong các hãng xưởng cũng như trong các trường học, các luật “Affirmative Actions” đều được áp dụng chặt chẽ, bắt buộc phải có tối thiểu bao nhiêu người da màu trong hãng hay trong trường, không cần biết những người này có đủ tiêu chuẩn, hay khả năng hay không.

Trong cuộc tranh cử tổng thống hiện nay, có biết bao ông bà da đen đã công khai tuyên bố muốn bầu cho Obama vì ông này là da đen. Hãy thử tưởng tượng một cử tri trắng lên truyền hình tuyên bố “tôi sẽ bầu cho McCain vì ông này là da trắng”! Bảo đảm trong vòng hai phút thôi, ông McCain sẽ phải lên truyền hình chửi bới anh này liền.

Ngay cả chuyện “màu da” của ông Obama cũng thật là đáng ghi nhận.

Ông Obama ý thức rõ ràng nước Mỹ chỉ có hơn 10% là da đen nên ngay từ đầu cuộc vận động tranh cử, ông cố tránh không nhắc đến màu da của mình. Bà Hillary Clinton cũng nhìn thấy rõ con số 10% đó nên cho ông chồng và các đệ tử khéo léo “nhắc nhở” chuyện này cho cử tri. Ông Clinton công khai ca tụng cuộc tranh cử này lần đầu tiên đưa một ứng viên phụ nữ và “một ứng viên da đen ra tranh cử”. Thống đốc Pennsylvania, Ed Rendell, tuyên bố thẳng thừng “dân Mỹ chưa sẵn sàng chấp nhận người da đen làm tổng thống”.

Điều ông Clinton và rất nhiều người khác không nhắc đến là ông Obama này chỉ lai thôi.

Bà mẹ ông là Mỹ trắng rặc mà sao không ai để ý" Ông là 50% đen và 50% trắng đều nhau, tại sao không ai nói ông là “trắng” hay “xám”, mà lại nói ông là “đen”" Cái 50% trắng của ông liệng đi đâu rồi"

Chiến lược của bà Hillary thành công ở điểm khiến cho dân da đen ý thức được Obama là người cùng màu da và ùn ùn chạy theo Obama ngay. Nhưng điều bà Hillary mong đợi, là vì vậy mà dân da trắng ùn ùn chạy qua bên bà, lại không xẩy ra. Chỉ vì bà Hilary đánh giá sai lầm phản ứng ngược xuất phát từ tình trạng “chối bỏ tập thể” đã bàn ở trên.

Hiển nhiên yếu tố màu da là yếu tố hết sức quan trọng trong đời sống chính trị Mỹ hiện nay. Nhưng chỉ vì cái mặc cảm kỳ thị mà không ai dám công khai đụng đến nó hết. Obama đang mặc một thứ áo giáp chắc hơn thép. Cái ông thượng nghị sĩ già Biden, khi còn tranh cử với Obama, chỉ cần mở miệng khen Obama thông minh (articulated) là bị đòn hội đồng ngay. Thiên hạ hỏi ngay “Thế nghĩa là gì" Ý ông muốn nói dân da đen không thông minh, chỉ có Obama là trường hợp đặc biệt thôi sao"” Báo hại ông Biden phải phân trần muốn đứt hơi. Đó là ông Biden này chưa
chê Obama dốt mà đã bị đòn rồi. Còn ai dám đụng mạnh hơn nữa"

Sự thành công của ông Obama cho đến ngày hôm nay, một phần cũng nhờ cái áo giáp ”thép đen” đó, mặc dù không ai phủ nhận được tài ăn nói xuất chúng và sự thông minh thực sự của ông. Mới đây, bà Geraldine Ferraro tuyên bố thẳng thừng ông Obama sẽ không thể có sự thành công như đang thấy nếu ông là một người da trắng. Sau câu nhận định, bà Ferraro - vốn là cựu ứng viên phó tổng thống của Dân Chủ năm 1984, và cựu thần tượng của giới cấp tiến - đã bị báo chí cấp tiến tấn công đến độ phải rút ra khỏi Ủy Ban Vận Động cho bà Hillary. Trong tương lai, nếu Obama đắc cử làm ứng viên Dân Chủ, chắc chắc bên Cộng Hòa và McCain sẽ phải uốn lưỡi bẩy lần mỗi khi muốn lên tiếng đả kích ông Obama.

Trong cộng đồng tỵ nạn Việt, rất nhiều người cho rằng Obama sẽ khó có hy vọng chống lại McCain vì dân da đen chỉ là thiểu số 10% trong khi dân da trắng Mỹ vẫn là đại đa số và phần lớn những người này chưa sẵn sàng chấp nhận một người da đen làm tổng thống. Nói như vậy có thể đúng vào kỳ bầu cử tháng Mười Một. Nhưng cho đến nay, lập luận này dường như chưa phản ánh đúng sự phức tạp của vấn đề kỳ thị màu da tại Mỹ. Nếu tính số phiếu thu hoạch được bên Dân Chủ cho đến cuối tháng Hai, Obama đã thu được một triệu phiếu nhiều hơn bà Hillary (10,4 triệu phiếu của Obama so với 9,4 triệu phiếu của Hillary). Có nghĩa là khá nhiều dân da trắng đã bỏ phiếu cho Obama.

Nước Mỹ thật sự vẫn đang còn vật lộn với nạn kỳ thị nam nữ và kỳ thị da màu.
Dù sao đi nữa, ông Obama cũng như bà Hillary đều là những người đang cố lật một trang sử mới cho nước Mỹ, đập phá những bức tường kỳ thị nam nữ và kỳ thị da màu. Thành công hay không thì chưa ai biết được. Chỉ biết cái xui xẻo cho nước Mỹ là cả hai người cùng ra sức một lúc, và cũng đang đánh nhau tận tình. Cho dù thành công, cũng chỉ có được một người thành công và một bức tường bị đạp đổ mà thôi, người kia sẽ phải chờ thêm vài chu kỳ bầu cử tổng thống nữa (15-3-08).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.