Hôm nay,  

Lại Viết Về Thầy Nguyễn Xuân Vinh

26/02/200800:00:00(Xem: 16280)

- Tạp bút của Xuân Đỗ

Ít năm gần đây tên tuổi của Giáo sư kiêm cựu Tư lệnh Không Quân VNCH Nguyễn Xuân Vinh được nhắc nhiều trên báo chí và cộng đồng, đặc biệt đối với những người lính cựu, nhất là từ khi ông được  bầu vào chức danh Chủ tịch Tập thể Cựu chiến sĩ Hải ngoại cùng với tướng Lê minh Đảo.

Bài viết này không có ý bàn về hoạt động của ông, và cũng không có ý muốn “ddánh bóng” ông, vì cái gì có dính líu tới chính trị thì ít khi có sự đồng thuận từ mọi phía, nhưng chỉ xin ghi đôi hàng về một vài ký ức đối với một nhân vật nồi tiếng cả văn lẫn võ mà từ lúc sinh ra cho đến khi về hưu đã trải qua những năm tháng của con người được ...“ddẻ bọc điều”.

Từ đoạn này tôi xin được gọi ông bằng Thầy, vì tôi đủ tư cách là học trò của ông tại ngôi trường một thời ông dạy. Những gì liên quan đến kỷ niệm về thầy trò thì khó mà quên. Năm ấy, đầu niên khóa 57-58, các học sinh Trường trung học Pétrus Ký (Sàigòn) đang tụ tập trước cửa trường để vào lớp, tình cờ tôi lại đứng gần một ông đaị úy mặc quân phục và lon lá thuộc không quân. Ông cũng chờ vào lớp, tôi đoán có lẽ ông là phụ huynh của ai, muốn liên lạc với trường.

Cổng trường mở, tụi tôi vào lớp đệ nhị A2 (Ban vạn vật/lo+'p 11), lớp kế bên đệ nhị B1 (Ban Toán). Ông đại úy theo vào, nhưng không phải để gặp ai, cũng chẳng phải để học, mà để...dạy môn toán. (Lúc này khó tìm giáo sư dạy toán, thường là mời thêm các vị có cử nhân bên Pháp, bất kể ở trong hay ngoài quân đội). Những tháng ngày kế tiếp, tôi lại có dịp gặp thầy, thầy nhận dạy như kiểu “part time”, hết giờ lại về bên Bộ tư lệnh KQ, cho nên mặc nhà binh cho tiện.

Xét về bề ngoài, thầy không có dáng dấp nhà binh, lại càng không có cái vẻ hào hoa của lính không quân. Nhưng nếu thầy mặc dân sự chắc sẽ nổi bật cái vẻ nho nhã, mô phạm của nhà giáo. Giọng thầy cũng nhỏ nhẹ, thỉnh thỏang cũng pha trò khá dí dỏm để làm cho môn Toán đỡ khô khan. Thầy dậy có phần hơi khó hiểu, có lẽ chưa quen nghề sư phạm, lại hay ra bài toán khó và cho homework hơi nặng. Nhưng học sinh thích thầy vì thầy rất rộng rãi trong việc cho điểm (hào hoa ở chỗ này) và nặng phần khuyến khích nhiều hơn la rầy.

Về sau tụi tôi mới được biết thêm về thầy do chị thằng bạn tiết lộ. Số là thằng bạn về học lại với chị nó có ông nhà binh dạy nó môn toán, chị hỏi tên gì, nó nói NXV, bà chị ngờ ngợ sao nghe quen quen. Vốn là nguời hay đọc truyện bà chị nhớ ngay ông này trùng tên với nhà văn Toàn Phong, cũng không quân. Bà chị lục ngay tủ sách gia đình, cầm cuốn “DDời Phi Công” xem hình tác giả mặt sau, chỉ cho thằng em, thì ra y chang hai ông là một.Vì giai thoại này mà ông có thêm người  lính phi công là thằng bạn tôi ít năm sau.

Cũng từ đó thầy nổi tiếng ở trường không phải tài dạy toán mà là nhà văn bằng xương bằng thịt, học trò rất cảm mến và hâm mộ thầy. Cũng may là trường tôi toàn học sinh nam, chứ nếu thầy dậy bên Trưng vương hay Gia long thì lại là chuyện khác.

Rất tiếc thầy chỉ dạy hơn một niên khóa. Sau đó vì nhu cầu công vụ thầy về làm việc “full time” bên không quân. Con người ta có số, không hiểu cụ Diệm thương thầy thế nào, lại không hiểu do ai tiến cử vì thầy vốn gốc Bắc di cư, không cần lao, không công giáo mà từ năm 1957 đến 1962 thầy từ đại úy lên tới đại tá và còn thêm chức Tư lệnh không quân. Chuyện chính trị quốc gia đại sự tôi không dám bàn.

Tôi được gặp thầy một dịp  nữa khi tiễn thằng bạn tôi, cũng là học trò của thầy, đi khóa Không quân 61B. Thầy lúc này là tư lệnh đến “ban huấn từ” và gặp gỡ các phụ huynh, bạn bè có con em tình nguyện nghiệp bay bổng trước khi họ lên đường ra Nha Trang. Thầy vẫn có cái dáng nho nhã, khiêm tốn, không tỏ vẻ “oai” như các vị tư lệnh khác. Tôi không dám lại gần thầy để nhắc một vài kỷ niệm nơi trường xưa, thằng bạn tôi mang cầu vai sinh viên thì lại càng không dám, lý do có sự xa cách này vì thày ở cương vị quá cao.

Sau vụ một phi công bỏ bom dinh Độc lập, thầy bị thất sủng. Thường các vị lớn khi mất chức thường đi đại sứ hay công tác nước ngoài. Riêng thầy số bọc điều, quân đội lại chắp cánh cho thầy bay cao hơn, xa hơn. Thầy đi Mỹ, nhờ sở học sẵn có thầy thành đạt, nổi tiếng chẳng phải trên đất Mỹ mà có sự nể nang của đồng liêu khắp năm châu. 

Khoảng 66, 67, nghe nói ông Kỳ có mời thầy về, hình như định giao một chức trong nội các đặc trách về giáo dục. Thầy có về, nhưng đất nước lúc này nghe không khá, thày lại bỏ đi, vì dù sao ở nước ngoài cuộc sống vẫn ổn định hơn. Tôi phục thầy có sự nhạy bén về mặt chính trị, vì vài năm sau khi ông Kỳ bị thất sủng thì thầy cũng lại phải đi.

Ký ức cuối về thầy trước khi mất nước lại do thằng em con ông chú học lại. Thằng nhỏ cùng hai anh bạn là hạ sĩ quan không quân, năm 74 được quân đội cho đi tu nghiệp kỹ thuật tại căn cứ không quân Denver, Colorado. Gần căn cứ này có cả trường đào tạo sĩ quan không quân. Lúc này thầy đang là giáo sư của đại học Denver. Vì tình đồng hương, lại nhớ quê hương, cô Phượng (bà Vinh) hay mời ba ông nhóc này ra nhà ăn cơm, đối đãi rất thân tình. Thằng em tôi ca ngơi. hết chỗ nói về lối cư xử bình dân của cả hai ông bà. Nhân tiện cũng nhắc, chắc cô nhớ, thằng em tên An bị chết trong chuyến vượt biên hồi 82. Nó là hoa tiêu, đi cả tuần không thấy đất liền, người trên ghe  tuyệt vọng thảy nó xuống biển. Hai ngày sau, ghe ghé một dàn khoan. Cả con tàu được cứu, thằng em tôi ở lại với biển.

Chuyện về ông thầy khúc sau này còn dài, nhất là từ khi có các tù cải tạo ghé bến tự do, nhưng không thuộc phạm vi bài viết này. Tôi chỉ xin tâm sự với thầy, người tôi hằng quí mến và ngưỡng mộ. Tất nhiên trò hơn thầy thì ở đời không hiếm, nhưng trò lại đòi khuyên thầy thì có phần nghịch lý. Xin thầy lui lại chỉ nên làm vai trò cố vấn cho các hội đoàn vì uy tín của thầy cao, còn việc điều hành thì xin để cho các ông một thời sống chết với  lính hoặc đã chia sẻ những gian nan trong trại tù CS sau này.

Trong tinh thần đó xin thầy trong những ngày còn lại của tuổi thọ, hãy viết thêm nhiều tác phẩm để lại cho đời. Thầy có dư tài năng và vốn sống để làm công việc này. Chuyện nhân gian thế sự xin dành cho người khác.

Xuân Đỗ

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.