Hôm nay,  

Đệ Nhất Phu Nhân Nghỉ Hè

8/18/201000:00:00(View: 11962)

Đệ Nhất Phu Nhân Nghỉ Hè

Vũ Linh

...kiểu như mấy cậu áo gấm về làng của ta vậy...
Trong khi TT Obama kêu gọi dân chúng thắt lưng buộc bụng vì thời buổi kinh tế khó khăn, Đệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama cùng Đệ Nhị Công Chúa Sasha đi nghỉ hè tại Tây Ban Nha, vùng Costa Del Sol, là vùng biển đẹp nhất xứ này, nằm ở phiá bên mặt trời mọc. Bà ngụ tại một khách sạn năm sao, tốn 2.000 đô một tối, tiền ăn 100 đô một người cho một bữa thanh đạm. Ăn tôm hùm hải sản gì đó thì mắc hơn. Bà đi cùng với Sasha, hai bà bạn với con của họ.
Chương trình nghỉ hè của bà rất bận rộn. Đây là chuyến nghỉ hè liên tục thứ ba. Bà đi nghỉ hè Louisiana, chính thức gọi là đi thăm nạn nhân của vụ dầu loang, xong vọt lên phiá bắc, tiểu bang Maine, nghỉ một tuần với chồng con, rồi bay qua Costa Del Sol 10 ngày. Sau chuyến đi này sẽ về Mỹ, thở vài phút, rồi lại đi viếng Florida trước khi bay lên Massachusetts nghỉ hè tiếp tục với chồng con nữa. Thật là vất vả quá.
Thật ra, bà Michelle không có trách nhiệm gì trong chính quyền, cũng chẳng ai bầu bà làm chức gì hết, nên rong chơi là quyền của bà và cũng chẳng có gì đáng phê bình. Nhưng báo chí thắc mắc là chúng ta phải đóng bao nhiêu tiền thuế để bà đi chơi vô tư như vậy" Phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc khẳng định bà đi với tư cách “riêng tư” (private), và trả tiền đầy đủ, không ai có thể thắc mắc được. Chỉ có điều lời nói này phải xét lại cho kỹ hơn.
Bà Michelle đi với tư cách riêng thật, nhưng cái “riêng” của Đệ Nhất Phu Nhân không giống như cái “riêng” của quý độc giả hay kẻ viết này đâu. Không phải chỉ có một mình bà, mà có cả đoàn tùy tùng, trên dưới hơn 50 người, gồm thư ký, bí thư, phụ tá, bồi bếp, lính chìm lính nổi… Họ không đi “chơi riêng” mà là đi phục vụ cho Đệ Nhất Phu Nhân, tức là đi vì công vụ, do đó được Nhà Nước trả tiền máy bay, khách sạn, ăn uống, phụ phí, đủ thứ. Bà Michelle ở khách sạn 2.000 đô một ngày, dĩ nhiên đám tùy tùng và cận vệ cũng phải ở cùng khách sạn. Tuy nhiên, cũng may mà khách sạn có phòng “bình dân” cho mấy người này: chỉ có 400 đô một tối thôi. Vị chi tiền khách sạn là 20.000 một tối. Còn tiền xăng cho tàu bay, tiền chở hai chục chiếc xe SUV từ Mỹ qua (chứ chẳng lẽ Đệ Nhất Phu Nhân và lính bảo vệ chìm lại đi thuê xe Alamo hay Budget sao")… biết bao nhiêu thứ lỉnh kỉnh khác. Tất cả đều tính vào chi phí công du hết. Để chứng minh là công du, bà có hẹn đi ăn chính thức với đức vua và hoàng hậu Tây Ban Nha. Có quay phim chụp hình làm bằng chứng hẳn hoi.
Bà Michelle cũng rất sòng phẳng. Bà hoàn trả cho Nhà Nước số tiền tương đương với hai vé máy bay hạng nhất, tổng cộng 7.400 đô cho hai mẹ con. Cũng được đi. Chỉ có điều trong khi mấy chuyến máy bay dân sự có tới ba trăm hành khách trả tiền vé, thì trong chuyến bay của bà Michelle, chỉ có hai người trả tiền vé, còn lại không ai phải trả hết vì đều là đi công vụ. Phí tổn cả chuyến bay là gần hai trăm ngàn đô, bà Michelle trả 7.400, còn lại… chúng ta thắt lưng buộc bụng theo lời kêu gọi của TT Obama để trả dùm, cùng với các chi phí cho đoàn tùy tùng. Ta có thể gửi tiền qua sở thuế vụ cuối năm. Trước sau, trên dưới khoảng nửa triệu cho một chuyến du lịch “riêng tư”.
Một tờ báo Mỹ so sánh bà Michelle với nữ hoàng Marie Antoinette, vợ của vua Louis XVI của Pháp. Sự xa xỉ hoang phí của bà hoàng Marie này là một trong những nguyên nhân đưa đến Cách Mạng 14 tháng 7 năm 1789 tại Pháp, rồi cũng đưa cả hai ông vua bà hoàng này lên máy chém.
Dĩ nhiên chúng ta chẳng ai nghĩ đến chuyện quá quắt như mấy ông Tây ngày xưa. Nhưng chi phí và tính “hoành tráng” của chuyến đi du lịch “riêng” có vẻ hoàn toàn tréo cẳng ngỗng với lời kêu gọi thắt lưng buộc bụng của TT Obama trước tình hình kinh tế khó khăn hiện nay. Và cũng ngược với lời khuyên của Michelle khi Barack đi tranh cử, là đừng chỉ mong làm giàu mà phải nghĩ đến việc phục vụ cộng đồng!
Nhờ đó là cộng đồng quốc gia sẽ phục vụ lại mình chăng" Trong khi 15 triệu dân Mỹ đang thất nghiệp và mấy chục triệu nữa đang vật lộn với nợ nhà thì Đệ Nhất Phu Nhân đi du hý, hết bãi biển Louisiana đến bãi biển Maine, đến bãi biển Costa Del Sol, rồi về Mỹ thì lại tiếp tục bãi biển Panama City phiá bắc Florida, và bãi biển Cape Cod trên Massachusetts. Toàn những địa danh đắt tiền dành cho triệu phú. Bà Michelle dường như rất mê biển, có lẽ để có dịp khoe cánh tay rắn chắc. (Nói điều này thật ra hơi oan cho bà Michelle, vì khi bà ra bãi biển nhúng nước như ở Tây Ban Nha chẳng hạn thì cảnh sát giải tỏa hết cả khu bãi biển, không có một bóng người nào được lại gần hơn một trăm thước, chẳng ai nhìn được bắp thịt nào của bà đâu, đừng có ông nào “Hy Vọng” vớ vẩn.)
Không ai có quyền cấm bà, nhưng hình như bà không bận tâm gì lắm về những chuyện vu vơ của dân chúng như bị mất việc, mất nhà, mất xe, mất thẻ tín dụng, …
Dưới thời TT Bush, Đệ Nhất Phu Nhân Laura không bao giờ đi du lịch huy hoàng như vậy. Mỗi năm, bà Laura đều đi nghỉ hè với một vài bà bạn thân, năm nào cũng như năm nào, suốt tám năm TT Bush cầm quyền, đều đi leo núi tại tiểu bang Washington, trong mấy công viên quốc gia tại đây. Không bao giờ đi Âu Châu, hay mấy khu nghỉ hè của triệu phú hay tỷ phú, không bao giờ tốn kém hàng trăm ngàn của công quỹ, cũng không có cả năm bẩy chục tùy tùng. Mà lại đi trong nước Mỹ để khuyến khích nâng đỡ ngành du lịch Mỹ.
Bà Laura ý thức rất rõ vai trò “làm gương” của một đệ nhất phu nhân. Cũng như ý nghĩa của mọi việc làm, cử chỉ, hành động, hay lời nói của bà đối với quần chúng, nên hết sức dè dặt rào đón, không kể bản tính khiêm tốn, nhũn nhặn của bà.


Khác với bà Laura, bà Michelle dường như không câu nệ gì về loại chi tiết vặt vãnh này. Huy hoàng lộng lẫy, đi ăn tiệc với ông vua bà hoàng cho oai. Hay cũng có thể hành động của bà Michelle chỉ phản ánh cái mà dân Tây gọi là triệu chứng “arriviste”. Kẻ viết này cũng không biết phải dịch chữ này ra tiếng Anh hay tiếng Việt như thế nào cho ổn. Nhưng đại khái thì cái từ này, từ chữ “arriver” có nghĩa là “đến nơi” mà ra. Nó chỉ một người đã “đến nơi”, đã đạt được mức sống, hay mức uy danh, hay mức giàu có, mà mình mơ mộng từ lâu, nên cần phải thỏa mãn ước vọng lâu năm của mình, cũng như để phô trương cho thiên hạ biết, kiểu như mấy cậu áo gấm về làng của ta vậy.
Tòa Bạch Ốc giải thích chuyến đi này bằng một lập luận… không giống ai.
Theo phát ngôn viên Gibbs, bà Michelle có một bà bạn, bà này có ông bố mới qua đời nên đang rầu rĩ, trong khi cô con gái chín tuổi của bà bạn này, cũng là bạn thân của Đệ Nhị Công Chúa Sasha, lại cứ ì èo một hai đòi ăn sinh nhật trên bãi biển. Bà Michelle động lòng trắc ẩn nên rủ hai mẹ con bà bạn đi… Tây Ban Nha tắm biển ăn sinh nhật cô con gái điệu.
Chúng ta không ai được hỏi ý kiến, nhưng bà Michelle tin chắc toàn dân sẽ hoan hỷ đóng nửa triệu tiền thuế cho cô bé đi ăn sinh nhật vui vẻ. Làm kẻ viết này ước ao làm sao con mình quen được với mấy cô con của tổng thống nhỉ. Hy vọng hai vợ chồng già này sẽ được ké, đi tắm biển ở Cannes hay Nice không chừng"
Thật ra, bà Michelle cũng chỉ bắt chước theo lối sống hưởng thụ của ông chồng “arriviste” thôi. Lúc trước, truyền thông cấp tiến luôn luôn mỉa mai chế riễu TT Bush lười biếng, tối chín giờ đã ôm gối đi ngáy. Quan trọng hơn thế nữa, TT Bush cũng bị chỉ trích là nghỉ hè quá nhiều, đánh gôn quá cỡ. Nhưng đối với TT Obama thì truyền thông lại im hơi lặng tiếng. Không phải vì TT Obama siêng năng chăm chỉ hơn, không bao giờ nghỉ ngơi hay đánh gôn đâu. Trái lại đàng khác.
Đúng ra, TT Obama rất siêng năng. Theo thống kê của báo chí, trong một năm rưỡi làm tổng thống, Obama đã đi du lịch - xin lỗi, phải nói là đi công tác nước ngoài- nhiều hơn cả TT Bush lẫn Clinton trong tám năm làm tổng thống của hai ông. Truyền thông ca tụng Obama là trí thức biết nhiều hiểu rộng ngoại giao giỏi trong khi Bush là cao bồi ruộng.
TT Clinton biến Tòa Bạch Ốc thành một thứ “siêu khách sạn cho sao” (nói theo văn chương hiện đại, Mỹ nói là super hotel for stars), ông bà nào yểm trợ tiền cho tổng thống là được vào ngủ tại phòng có tên là Lincoln Room gì đó, sáng dậy được hân hạnh uống cà phê với tổng thống. Một vài bà tài tử ca sĩ nổi tiếng cũng được mời về đây nghỉ qua đêm, chỉ không biết TT Clinton tiếp mấy bà đó chu đáo đến đâu thôi (ở đây ta không bàn đến những chuyện xẩy ra trong Phòng Bầu Dục giữa tổng thống và cô Monica).
TT Bush mang lại cho Tòa Bạch Ốc không khí một văn phòng làm việc khô khan chán phèo. TT Obama bèn biến nó thành… phòng trà, một trung tâm văn nghệ giải trí náo nhiệt. Ngày tối mời tài tử và ca sĩ (nhất là các ca sĩ hip-hop da đen), đến trình diễn, hát hò tiêu khiển tổng thống và phu nhân. Như ca sĩ Beatles Paul McCartney được mời vào hát bài Michelle (lần thứ 10 hay 50"!) để tặng Đệ Nhất Phu Nhân.
Bà Michelle dù đã nghe bài này chắc cả chục ngàn lần, vẫn thích thú khi nghe “Michelle, ma belle…” Thỉnh thoảng cũng có vài tài tử choai choai của đài truyền hình Disney Channel đến hát trình diễn cho hai cô công chúa. Những ngày nào có trận đấu bóng rổ hay football Mỹ hào hứng thì Tòa Bạch Ốc lại thành nơi tụ họp của các chính khách thân hữu đến thưởng thức trận đấu cùng tổng thống. Dân Biểu Cao Quang Ánh nhà ta cũng đã được mời đến coi trận Super Bowl giữa New Orleans, gà nhà của ông Ánh, và Indianapolis, khi TT Obama đang tìm cách mua lá phiếu của ông Ánh trong vụ cải tổ y tế.
Trong vụ dầu loang, TT Obama một hôm cho gọi hai ông Chủ Tịch và Tổng Giám Đốc hãng dầu BP đến Tòa Bạch Ốc để hỏi tội. Ngày hôm sau, phát ngôn viên Gibbs họp báo, lớn tiếng đả kích ông tổng giám đốc vô ý thức đã chẳng màng gì đến chuyện dầu loang đang làm điêu đứng cả trăm ngàn dân Mỹ, ung dung đi về Anh dự đua du thuyền. Một ký giả táy máy hỏi ông Gibbs vậy chứ TT Obama hôm nay làm gì vậy" Ừ, Ờ, À,… tổng thống bận… à, ờ, ừ, … đi đánh gôn cả ngày! Ai có ý kiến thắc mắc gì nữa không"
Theo báo phe ta, TT Obama trong một năm đầu làm tổng thống đã đi đánh gôn nhiều gấp hai lần ông Bush trong tám năm làm tổng thống. Công bằng mà nói, so sánh như vậy không đúng hẳn. TT Bush sau khi ra lệnh đánh Iraq thì đã quyết định bỏ đánh gôn. Ông cho rằng thật là vô ý thức nếu tổng thống ung dung đi đánh gôn trong khi lính Mỹ đang chết ngoài mặt trận. Thành ra ông chỉ đánh gôn lai rai hai năm đầu thôi, sau đó bỏ hẳn luôn. Nếu muốn so sánh cho đúng thì phải nói là TT Obama trong một năm đầu đánh gôn nhiều gấp hai lần TT Bush trong hai năm đầu, hay là TT Obama đánh gôn nhiều gấp bốn lần TT Bush. Nhưng Bush thì bị báo chửi đánh gôn nhiều quá không lo chuyện nước, Obama thì… cần đánh gôn để thư giãn vì chuyện nước nhức đầu lắm. Sau này TT Bush bỏ đánh gôn, nhưng TT Obama thì nghĩ khác. Đánh gôn vẫn quan trọng, không có lý do gì bỏ được. Đánh gôn và lính chết là hai chuyện không có liên hệ gì đến nhau hết. Mỗi tổng thống một cách suy nghĩ và hành động. Chưa thấy New York Times hay Washington Post bình luận gì về chuyện này.
TT Bush bỏ đánh gôn, chưa mãn nhiệm kỳ đã vui thú điền viên, cứ có dịp là lại chạy về trang trại tại Texas chặt cây, phạt cỏ dưới cái nóng hơn 100 độ của Texas. Bà vợ thì đi leo núi. Cả hai ông bà vui những thú vui “riêng”, chỉ có một vài cận vệ số xui xẻo phải đi theo, chẳng có tùy tùng nào dám đi theo, cũng chẳng anh nhà báo nào ngớ ngẩn muốn đi  theo. Chúng ta cũng chẳng phải thắt lưng buộc bụng đóng góp bao nhiêu. TT Obama và bà Michelle nhậm chức thay đổi hết. Change We Can Believe In. (15-8-10)
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng mỗi Thứ Ba trên Việt Báo.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.