Hôm nay,  

Mặt Trái Của Kỹ Nghệ Dược Phẩm

1/26/200900:00:00(View: 13927)

MẶT TRÁI CỦA KỸ NGHỆ DƯỢC PHẨM
Dược sĩ Nguyễn Ngọc Lan

(Ngày nay, thuốc men dính liền với đời sống của chúng ta, tuy vậy ít có người biết được sự thật bên trong của ngành sản xuất dược phẩm là như thế nào. Người viết xin tóm lược cái nhìn gay gắt và bi quan của Giáo Sư Jean Claude St Onge trong tác phẩm L’envers De La Pilule: Les dessous de l’industrie pharmaceutique. Edition Écosociété (2004).
«Jean-Claude St-Onge a fait ses études de philosophie à Montréal, à Edmonton et à Aix-en-Provence. Il détient une maỵtrise en philosophie de l'Université de l'Alberta et un doctorat en socioéconomie de l’Université de Paris. Il a publié La Condition humaine : Aperçu de quelques conceptions de l'être humain aux Éditions Gặtan Morin, ainsi que plusieurs ouvrages aux Éditions Écosociété dont L’imposture néolibérale. Marché, liberté et justice sociale, ADQ, voie sans issue (en collaboration avec Pierre Mouterde), et en octobre 2004 L'envers de la pilule: Les dessous de l'industrie pharmaceutique, qui en est rendu à son cinquième tirage. Il a fait paraỵtre de nombreux articles et des études notamment pour le Bulletin d’histoire politique»
Có nhiều điều rất đúng, nhưng xin nói rõ đây không nhất thiết là cái nhìn của người viết. NNL)
Giáo Sư Jean Claude St Onge đã phát họa ra một hình ảnh không mấy sáng sủa cho ngành kỹ nghệ dược phẩm trên thế giới. Đây là tiếng chuông báo động dư luận về sự làm mưa làm gió của ngành kỹ nghệ có nhiều quyền lực trên thế giới nầy.
Từ nhiều thập niên qua, mọi người đều phải nhìn nhận rằng, đầu tư trong thị trường chứng khoán về dược phẩm chắc chắn là một lối kinh doanh an toàn và rất có lợi.
Thị trường thuốc Tây được ước lượng trên 400 tỉ dollars/năm, và nằm trong tay của 15 tài phiệt quốc tế về kỹ nghệ dược phẩm.
Các nhà bào chế quan trọng nhất có mặt tại Montréal là: AstraZeneca, GSK Bio, Merck Frosst, Boerhinger Ingelheim, Johnson & Johnson, Bristol Myers Squibb, Laboratoires Abbott, Pfizer, Wyeth, v.v...
Thu hồi và cảnh báo không ngớt gia tăng
Gần đây, những sự thu hồi và cảnh báo một số thuốc thông thường đã làm cho người tiêu thụ hơi hoang mang. Họ hoài nghi về phương pháp xét nghiệm tính chất an toàn của một loại thuốc trước khi nó được cơ quan Santé Canada chính thức chấp thuận cho phép bán ra.
Theo Giáo Sư Jean Claude St Onge, rất nhiều loại dược phẩm đã cho thấy có vấn đề trước khi chúng được cho phép bán ra.
Các loại thuốc chống viêm sưng anti-inflammatoires non stéroidiens (AINS) là những thuốc được bác sĩ kê toa nhiều nhất thế giới để trị viêm khớp, đau lưng, đau lúc hành kinh, v.v...
Đây là những món thuốc quá phổ thông cho nên chúng ta thường có ý nghĩ là chúng rất an toàn. Nhưng thực tế lại khác hẳn.
Trong những năm 1990, người ta ước đoán là có vào khoảng từ 3.000 đến 4.000 tử vong liên quan đến nhóm thuốc AINS tại Anh Quốc. Trong cùng thời điểm nầy, sự tiêu thụ thuốc AINS tại Hoa Kỳ đã làm cho 70.000 người phải nằm bệnh viện, và trong số có 7.000 người chết...
AINS nằm trong nhóm thuốc thường bị thu hồi nhiều hơn hết...
Các nhóm thuốc khác trong danh sách bị thu hồi là: thuốc kháng sinh, thuốc chống đau nhức (antalgiques) và thuốc trị trầm cảm (antidépresseurs).
 Canada đứng hạng thứ 7 về thị trường thuốc men trên thế giới.
Mỗi năm, kỹ nghệ dược phẩm đã sử dụng trên 1.300 người như cobayes để test các loại thuốc mới.
Theo Giáo Sư St Onge, đây chẳng qua là một lối khuyến mại trá hình nhằm mục đích khuyến khích bác sĩ kê toa một loại thuốc mới, dĩ nhiên là bác sĩ sẽ được đền ơn hậu hĩ bằng nhiều cách...
Người bệnh sẽ tiêu thụ loại thuốc nầy trong nhiều năm liền kế tiếp.
Phần lớn các tests được thực hiện trên những người trẻ tuổi, là lớp người mà các phản ứng phụ bất lợi của thuốc khó có thể xảy ra.
Phụ nữ trong lớp tuổi sinh sản, trẻ em nhỏ tuổi và các cụ già, tuy rằng là họ là lớp người sẽ sử dụng thuốc nói trên trong tương lai, nhưng họ lại bị loại ra khỏi nhóm cobayes thí nghiệm.
Trong thực tế, các phản ứng phụ lại thường hay xảy ra ở những lớp người vừa kể.
Tất cả các tests lâm sàng (essais cliniques), thường được sắp xếp, và tổ chức sao cho có kết quả thuận lợi như sự mong đợi của kỹ nghệ dược phẩm.
Tạp chí New England Journal of Medicine cho biết, trong quá khứ có nhiều trường hợp mà kết quả thí nghiệm lâm sàng đã được sắp xếp xào nấu lại từ trước để có thể cho ra một kết quả như ý muốn của nhà sản xuất...
Nói trắng ra, là phải làm nổi bật hoặc tô đậm lên những đặc điểm tốt của món thuốc, và lờ đi những phản ứng phụ bất lợi hoặc bỏ đi những kết quả xấu có được từ các kết quả của thử nghiệm lâm sàng.
Vì tiền hay vì sức khỏe của nhân loại"
Tại Québec, công ty Anapharm, một chi nhánh của SFBC International chuyên đảm trách tất cả các giai đoạn thử thuốc trước khi đệ nạp hồ sơ lên Santé Canada để được duyệt xét và tung món thuốc ra thị trường.
Anapharm thường đăng quảng cáo tuyển dụng tìm người vào nhóm thử thuốc, hay nói rõ ra là làm cobayes cho họ, lẽ dĩ nhiên là những người nầy đều được nhận tiền thù lao, ít thì đôi ba trăm đô còn nhiều có thể lên đến 3.000 – 4.000$ một vụ. Giá càng cao thì mức độ nguy hiểm cho sức khỏe càng nhiều. Có nguy hiểm không" Chỉ có các nhà chuyên môn của Anapharm mới biết được mà thôi.
Trong quá khứ đã từng xảy ra vài tai nạn cho cobayes rồi.
Anapharm thì cam đoan và bảo đảm các phương pháp thí nghiệm của họ rất khoa học, và rất an toàn chả cần phải lo lắng chi cả. Đây là điều cũng dễ hiểu mà thôi. Anapharm làm việc cho kỹ nghệ dược phẩm. Tất cả các quy trình, nghi thức thí nghiệm, test lâm sàng đều do Anapharm qui hoạch, và thực hiện thế nào để có được kết quả “hoàn hảo” như sự mong đợi của công ty dược phẩm sản xuất ra món thuốc.
Câu chuyện về thuốc Vioxx và Paxil
*-Vioxx, thuốc nhóm AINS chống đau nhức được nhà bào chế Merck tung ra thị trường năm 1999 để mong cạnh tranh với thuốc Celebrex của Pfizer.
Trong lúc làm thí nghiệm lâm sàng, Vioxx cho thấy có nhiều phản ứng phụ rất quan trọng ở một số nhỏ bệnh nhân, nhưng người ta vẫn cứ lờ đi.
Với một ngân sách khuyến mãi trên 500 triệu dollars, Vioxx được quảng cáo như là một sản phẩm cách mạng.
Hậu quả là có từ 88.000 đến 130.000 bệnh nhân sử dụng Vioxx bị vấn đề về tim, trong số nầy có từ 30% - 40% có thể nguy đến tính mạng.
Vioxx sau đó bị cấm bán.
*-Paxil, thuốc trị trầm cảm của nhà bào chế Glaxo.
Tạp chí Journal de l’Association Médicale Canadienne đã có được một tài liệu nội bộ của Glaxo, là chỉ thị nhân viên trách nhiệm của họ phải cất giữ nghiêm nhặt các tài liệu nghiên cứu nói rằng Paxil chẳng có ích lợi gì cho giới thiếu niên.
Được biết có trên 3 triệu trẻ em sử dụng Paxil tại Canada.
Vấn đề duyệt xét một dược phẩm mới
Tại Canada, ngược lại với Hoa Kỳ, phương cách duyệt xét (homologation) dược phẩm do Santé Canada thực hiện trong phòng kín với lý do để bảo mật thương mại. Không một ai có quyền biết được chi tiết của biên bản của ủy ban duyệt xét. Bí mật hoàn toàn.
Chỉ sau khi một món thuốc được chấp nhận, nhà bào chế mới cho in một tờ chỉ dẫn trong đó có tóm tắt những ích lợi của món thuốc, những điều cấm kỵ, phản ứng phụ, sự nguy hiểm cũng như liều lượng sử dụng, v.v...


Vấn đề khó nghĩ ở đây, là một phần ngân sách điều hành của ủy ban duyệt xét dược phẩm của nhà nước đều do kỹ nghệ dược phẩm tài trợ, năm 2003-2004 là 40,7 triệu dollars. Ngoài ra, nghi vấn về vấn đề lem nhem có thể có giữa những giới chức cao cấp trách nhiệm duyệt xét thuốc với giới kỹ nghệ dược phẩm đôi khi cũng được xầm xì trong dân chúng.
Tại Québec, để khuyến khích và thu hút các nhà kỹ nghệ dược phẩm, chính phủ (tỉnh bang và liên bang) cho giới nầy được hưởng những đặc miễn thuế vụ (crédit d’impôt) rất hậu hĩ... Cứ 100$ bỏ ra đầu tư trong khảo cứu và phát triển thì có 80,50$ được miễn thuế.
Mặc dù có những đặc ân như vậy, nhưng kỹ nghệ dược phẩm vẫn tự cho phép mình cái quyền được tăng giá thuốc cao vút theo ý nào họ muốn. Giá bán của món thuốc không căn cứ trên sở phí thật sự (coũt réel) của việc khảo cứu mà được ấn định trên giá trị món thuốc có thể phòng hay trị được một bệnh tật.
(…le prix des médicaments n’est pas déterminé par les coũts réels de la recherche, mais par la valeur qu’ils ont en matière de prévention et de traitement de la maladie...Raymond Gilmartin, PDG de Merck).
Trong quá khứ, đã có nhiều ủy ban điều tra Canada cho biết là có vài loại thuốc được bán ra với gíá đắt cả vài trăm lần hơn giá vốn sản xuất, chẳng hạn như 1mg Vincristine, một loại thuốc đặc trị cancer máu (leucémie) bán cả chục lần đắt hơn tại Peru so với Amsterdam, Hòa Lan.
Thay tên thuốc đổi tên bệnh
Năm 1987 và 1994, tài liệu của Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, có thể ví như một loại thánh kinh của các bác sĩ tâm thần Hoa kỳ đã cho bổ sung thêm 77 loại bệnh tâm thần mới...
Để có thể làm được việc nầy, họ chỉ cần thay đổi lại định nghĩa của một số bệnh mà thôi.
Ngày nay, chỉ cần có một cảm giác nào đó là bị gán ngay cho một loại bệnh và mỗi một bệnh thì phải có một thứ thuốc riêng.
Sau đây là một vài thí dụ:
*-Tính e thẹn nhút nhát (timidité) được gán cho là bệnh sợ xã hội, sợ đông người (phobie sociale);
*- Cháu bé bị ọc sữa tự nhiên (naturelle régurgitation) đã trở thành bệnh trào ngược thực quản (reflux oesophagien pathologique);
*- Bị stress buồn chán vì vé số trật và trở thành bệnh (traumatisme du billet perdant);
*- Thuốc trị lo âu (anxiété);
*-Thuốc trị hội chứng tiền kinh nguyệt (syndrome prémenstruel);
*-Thuốc trị tình trạng áp huyết hơi cao một tí (préhypertension);
*-Thuốc trị tình trạng thoái hóa tự nhiên của não bộ vì tuổi tác già (sénescence naturelle);
*-Các thuốc nhắm vào mấy bà như: mãn kinh và hormone trị liệu (ménopause et hormonothérapie); viễn ảnh của tình trạng loãng xương (ostéoporose); tình trạng lạnh cảm của các bà (dysfonction sexuelle chez les femmes)...
Chỉ riêng vấn đề chót nầy, nếu các bà chỉ cần trả lời yes cho 2 câu trong số 8 câu hỏi thì kể như đã bị bệnh rồi.
Các câu hỏi có thể là:- Năm rồi chị có cảm thấy tình trạng mất hứng xảy ra trong thời gian 2 tháng hoặc lâu hơn hay không" - Có giảm ham muốn tình dục libido không" - Có lo sợ mình không đạt được thành tích với ông xã" -Tình trạng lá đa khó trơn", v.v…(difficultés de lubrification)…(Journal of the American Medical Association, 1991).
Giáo Sư Jean Claude St Onge còn cho biết, chỉ có từ 3% đến 8% thuốc mới tung ra thị trường thật sự mới được xem như một tiến bộ trong trị liệu.
Các thuốc còn lại thường là thuốc nhái lại những thuốc cũ đã có từ trước.
Quảng cáo đáng nghi ngờ
Có quảng cáo cho thấy giai đoạn mãn kinh của các bà như là một sự suy giảm hormone cần phải được trị liệu để cải thiện cuộc sống được tốt đẹp hơn, và để mình cảm thấy mình là phụ nữ féminine hơn nữa"
Có quảng cáo về thuốc an thần anxiolytique cho thấy một thiếu nữ bước vào ngưỡng cửa đại học với câu: «Tất cả một thế giới mới…lo âu đang mở rộng phía trước»"
Có quảng cáo làm cho người tiêu thụ nghĩ rằng nếu họ mua thuốc nầy, họ sẽ mua được tuổi trẻ, sắc đẹp và cả sự cường tráng về tình dục"
Hình ảnh của kỹ nghệ dược phẩm
+ Họ tự cho rằng họ là người tiên phuông sáng tạo ra thuốc mới. Thật sự ra, «thuốc mới» là những copies hơi thay đổi của những thuốc đã có từ trước.
+ Hướng dẫn dư luận để làm lùi bước chính phủ khi quyết định của nhà nước có vẻ bất lợi cho kỹ nghệ dược phẩm.
+ Sẵn sàng chi ra những số tiền khổng lồ để quảng cáo cho một loại thuốc mới.
+ Tung ra những thông tin đáng nghi ngờ, láo khoét nhằm thuyết phục công chúng tiêu thụ thêm thuốc.
+ Bán một sản phẩm mà họ biết chắc chắn là nó không có hiệu quả (hoặc chỉ có rất ít hiệu quả) so với các thuốc khác.
+ Hủy bỏ các kết quả thí nghiệm gây bất lợi cho họ, bằng không thì cũng tìm cách giảm thiểu hoá tác động của các phản ứng phụ của món thuốc đang được xét nghiệm.
Tao là boss
Nancy Oliviery, một nữ bác sĩ tài ba chuyên về nhi khoa tại bệnh viện nhi đồng Toronto Canada. Bệnh nhân của bác sĩ là những cháu bé đang nằm điều trị một căn bệnh di truyền thuộc về máu có tên là Thalassémie.
Đó là vào năm 1993. Thuở đó, có một phân tử có tên là défériprone vừa được các nhà bác học tìm ra dùng để trị bệnh Thalassémie. Bác Sĩ Olieviery liền ký với công ty dược phẩm Apotex Research Inc. một nghi thức protocole nghiên cứu về loại thuốc vừa nêu trên.
Sau một vài thí nghiệm lâm sàng, bác sĩ thấy kết quả có vẻ khích lệ, nhưng đồng thời bác sĩ Oliviery cũng lo sợ tác dụng phụ của thuốc có thể làm cho gan bị xơ hóa (fibrose hépatique). Là một nhà khoa học có lương tâm, Bác Sĩ Oliviery liền báo cáo sự kiện trên cho các các cấp chỉ huy của bà ta... Lập tức, Apotex Research Inc. chấm dứt ngay hợp đồng nghiên cứu của Bác Sĩ Olieviery, và họ cho chuyển protocole nghiên cứu được tiếp tục tại một nơi khác mà chẳng màng tới lời cảnh báo của Bác Sĩ Olieviery... Apotex Research Inc. còn hăm he sẽ lôi bà ta ra toà, nếu bà ta không tôn trọng thỏa ước bảo mật confidentialité đã ký trước đó. Bất chấp lời đe dọa, Bác Sĩ Oliviery đã đem trình bày kết quả nghiên cứu của mình trước một cuộc hội thảo về y khoa.
Hậu quả là bà ta phải trả một giá rất đắt.
Trong 6 năm liền sau đó, không biết có bao nhiêu trận chiến pháp lý đã làm bà ta vô cùng khốn đốn, và đồng thời cũng gây sự chú ý của các nhà khoa học khắp thế giới. Đau xót và chua cay nhất là trong cơn hoạn nạn nầy, Bác Sĩ Oliviery bị cấp chỉ huy hành chánh của bệnh viện Toronto bỏ rơi. Họ từ chối việc bênh vực và bào chữa cho bà. Lý do thầm kín là bệnh viện nhi đồng nầy là một chi nhánh của đại học Toronto, và đại học nổi tiếng nầy thì đang chờ đón để nhận món ca đô béo bở 20 triệu $$ của Apotex Research Inc. để xây cất một giảng đường mới.
Sự hỗ trợ tinh thần duy nhất mà Bác Sĩ Oliviery nhận được đến từ…Hiệp hội các giáo sư đại học.
Buồn thay cho số phận của một bác sĩ có lương tâm!
Kết luận
Nói tóm lại, chỉ có tiền và tiền $$$ mà thôi!
Vì có tiền thì mua tiên cũng được mà./.
Tham khảo:
  - Marie-eve Cormier. Dorer la pilule 13/1/2005
http://www.voir.ca/publishing/article.aspx"zone=1&section=11&article=34414
- Chartrand St Louis. L’envers de la pilule (JC St Onge) 23/5/2007
http://portailalbert.info/article.php3"id_article=545
- Claire Favre. Les dérivés de l’industrie de la santé (JC St Onge) 29/10/2007
http://portailalbert.info/article.php3"id_article=545
- JC St Onge. L’envers de la pilule, mythes et réalités 13/6/05
http://portailalbert.info/article.php3"id_article=545
Montreal, Nov 25, 2008

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.