Hôm nay,  

Nội Tuyến ‘deep Throat’ Nơi Vụ Watergate

27/12/200800:00:00(Xem: 7960)

Nội tuyến ‘Deep Throat’ Nơi vụ Watergate

Nguyễn Xuân Nghĩa
Một vụ khủng hoảng báo chí mà báo chí không nhìn ra...
Nhân vật Mark Felt đã mất vào tuần qua, sau một đời rất thọ mà đầy tai tiếng.
William Mark Felt nổi tiếng Hoa Kỳ với bí danh "Deep Throat" trong vụ án Watergate khiến Tổng thống Richard Nixon phải từ chức vào năm 1974 để khỏi bị bãi nhiệm. Đây là bí danh của Mark Felt khi cho tờ Washington Post biết chuyện tòa Bạch Cung của Nixon đã nghe lén trụ sở của Ủy ban Quốc gia đảng Dân Chủ - tại trung tâm địa ốc Watergate. Mark Felt mất vào ngày 18 vừa qua, thọ 95 tuổi.
Tuần qua, truyền thông Hoa Kỳ đều loan tin ấy, coi như trang cuối đã khép của vụ Watergate sau khi Nixon tạ thế, nay đến lượt người đã góp phần đưa vụ án này ra trước dư luận. Sự thật lại không đơn giản như vậy.
Mà đốn mạt hơn nhiều.
Nhiều người Việt cho rằng nếu Nixon không phải từ chức vào tháng Tám năm 1974 thì chưa chắc miền Nam đã sụp đổ. Lý luận giả định ấy chưa hẳn đã vững vì từ cuối nhiệm kỳ đầu Nixon đã chuẩn bị triệt thoái khỏi Việt Nam trong những điều kiện ít tệ nhất cho Hoa Kỳ, chưa chắc đã là điều kiện tốt đẹp cho Việt Nam Cộng Hoà. Cho nên, vụ Watergate không là cái nhân đưa tới biến cố 1975 của người Việt.
Richard Nixon có thể - có thể thôi - không trực tiếp ra lệnh nghe lén bản doanh của đối phương. Nhưng quả thật là ông không từ nan thủ đoạn nào để canh chừng bất cứ ai mà ông coi là đối thủ hay kẻ thù. Đó là về tâm lý hay đạo lý. Thuần về pháp lý, Nixon đã bao che cho thuộc cấp sau khi nội vụ bị phanh phui và lại cố tiêu hủy tang chứng của việc làm phi pháp nên là người có tội. Chuyện ấy không sai.
Đồng thời, từ khi còn là Dân biểu nổi tiếng chống Cộng tại California, Richard Nixon ráo riết truy tố Alger Hiss, một nhân viên cao cấp trong chính quyền Roosevelt, về tội là điệp viên cho Liên Xô ngay trong Thế chiến II. Biến cố ấy khiến ông không gấy ác cảm với truyền thông thiên tả hay thân cộng. Tất nhiên họ không thể bỏ qua vụ Watergate.
Nhưng trận phục thù đó, nếu có, vẫn không đáng kể. Chuyện đáng kể là động lực của Mark Felt và vai trò đồng lõa của báo chí.
Cái chết của "Deep Throat" không thể chôn vùi một vụ khủng hoảng của báo chí, một sự phá sản của chức năng truyền thông. Vì vậy, ta nên nhắc lại vụ này để thấy ra nhiều tỳ vết khó gột rửa - và vẫn còn - trong hệ thống truyền thông Hoa Kỳ.
Trước hết, Giám đốc FBI J. Edgar Hoover là nhân vật hắc ám đã biến cơ quan thành hậu cứ và công cụ bảo vệ quyền hạn và quan điểm của ông. Hoover mất vào tháng Năm 1972 sau 48 năm cầm đầu FBI. Dưới quyền ông, viên chức cao cấp nhất là Phó Giám đốc Clyde Tolson thì đã lâm bệnh từ lâu và từ chức vài ngày sau khi Hoover tạ thế. Người thứ ba trong đẳng trật chỉ huy FBI là Phụ tá Giám đốc Mark Felt.
Nếu Felt có mong đợi sẽ lên kế nhiệm Hoover là một chuyện bình thường.
Nhưng Tổng thống Nixon lại bổ nhiệm một nhân vật tin cậy là L. Patrick Gray vào chỗ của Hoover. Ông Gray là người ở bên ngoài FBI, mà cũng chưa được Quốc hội phê chuẩn vào chức vụ Giám đốc FBI, nên chỉ có thể là xử lý thường vụ. Bên trong FBI, Phụ tá Giám đốc Mark Felt, một kẻ thân tín của Hoover, mới thực sự chỉ huy, biết việc, hoặc biết chuyện. Ông là người điều khiển FBI trong giai đoạn nóng, từ vụ xâm nhập Watergate vào tháng Tám năm 1972 cho tới khi về hưu vào tháng Sáu năm 1973.
Trong khung cảnh ấy, nếu Mark Felt có bất mãn với Chính quyền Nixon vì không được lên thay Hoover thì cũng là chuyện thường tình. Đấy có thể là động lực khiến Felt trở thành Deep Throat, kẻ nội tuyến từ bên trong FBI để tấn công vào Chính quyền Nixon.
Mà chuyện ấy cũng chưa đáng kể vì không phải lần đầu mà nhân viên cao cấp tại một cơ quan liên bang sử dụng quyền hạn riêng của mình để tiết lộ tin tức cho báo chí tấn công Chính quyền Liên bang! Nền dân chủ Mỹ còn có nhiều chuyện bỉ ổi hơn nhiều lắm.
Ngược lại, nếu Nixon có muốn tìm một người ở bên ngoài để thay Hoover và không chọn Mark Felt cũng là điều bình thường.
Ông Nixon không thể tin một người phụ tá trung kiên của Hoover. Trước đấy thì cả Kennedy lẫn Johnson đều đã muốn thay thế Hoover - mà không nổi. Hoover là lãnh chúa có quá nhiều thông tin thuộc loại "nhạy cảm". Nôm na là có hồ sơ về đời tư của quá nhiều người có chức có quyền. Đấy là một bệnh ung thư trong hệ thống hành chánh và chính trị liên bang Hoa Kỳ. Đấy cũng là một sự hoen ố khác khi ta nhớ đến những gì Hoover đã biết về chuyện tình ái của người có thể sinh ra Bill Clinton trong trò thô tục tại Phủ Tổng thống, là John Kennedy.


Nhưng nội vụ nó trầm trọng hơn việc Nixon chọn người điều khiển FBI vào thời điểm ấy.
Đầu tiên là việc Mark Felt biết chọn mặt gửi vàng.
Ông ta chấm hai ký giả còn thiếu kinh nghiệm là Bob Woodward và Carl Bernstein để thường xuyên cung cấp tin tức cho họ có cơ hội lập công. Năm đó, cả hai ký giả này đều còn trẻ, 29 và 30 tuổi. Họ chỉ nổi danh sau này là nhờ phanh phui vụ Watergate, do sự hướng dẫn và điều động của "Deep Throat". Mark Felt đã xỏ mũi và vận dụng hai nhà báo lẫn chủ biên Ben Bradlee của tờ Washington Post, cho mục tiêu riêng của ông ta.
Hãy nghĩ lại đi: một Phụ tá Giám đốc FBI có giải pháp minh bạch và đàng hoàng hơn, đó là thông báo tin tức cho các biện lý của bộ Tư Pháp mở cuộc điều tra và tiến hành thủ tục truy tố. Mark Felt lại không làm vậy mà tận dụng sở trường về nghiệp vụ của mình để lặng lẽ tiết lộ mật cho báo chí và đánh lạc hướng điều tra của nhà chức trách. Ông dẫn dắt báo chí tấn công Nixon và được báo chí bảo vệ để trò ném đá giấu tay khỏi bị phanh phui.
Trong nhiều năm liền, không ai biết "Deep Throat" là ai, và dư luận có dịp suy đoán, rằng đó là một nhân vật trong ban tham mưu của Nixon, thí dụ như Ngoại trưởng Henry Kissinger, hoặc Đổng lý Văn phòng Alexander Haig, hoặc Cố vấn Pháp luật John Dean.... Những suy đoán ấy càng gây khủng hoảng cho Chính quyền Nixon, vốn mắc bệnh tự kỷ ám thị, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù...
Đâm ra, chỉ vì cái ấn của FBI, Mark Felt dùng ưu thế thông tin đốn mạt và khai thác báo chí kiêu căng đánh đòn du kích chính trị và chiến tranh cân não để Nixon phải thân bại danh liệt. Ly kỳ hơn nhiều truyện quyền bính trong các thời phong kiến Đông Tây.
Tờ Washington Post tưởng bắt được tin bở mà thực tế là bị dùng làm công cụ cho một vụ thanh toán chính trị. Hai ký giả điều tra nổi tiếng ấy không tò mò điều tra vì sao "Deep Throat" lại mẫn cán giúp họ thành danh! Họ còn góp phần che giấu hành tung của Mark Felt để lật đổ Nixon và tiếp tục bảo vệ Felt cho tới khi ông ta về hưu. Lại còn giữ kín sự thật hơn ba chục năm, cho đến khi chính Felt công nhận, sau này, vào năm 2005.
Nhìn lại thì hai ký giả Woodward và Bernstein có thể còn non tay, nhưng chủ biên Bradlee của tờ Post tại Washington thì không thể không biết được nhiều đòn bẩn trong hậu trường chính trị thủ đô. Ông ta biết và vẫn giữ vai trò đồng lõa. Chẳng lẽ chỉ để bán báo"
Quả là sự bần cùng của trí tuệ mà cứ bị lầm là một thành tích độc lập, vô tư và sáng suốt của truyền thông. Nhưng vấn đề không chỉ ngừng ở đó.
Mark Felt không thể một mình theo dõi và điều tra vụ nghe lén để tuồn tin tức cho báo chí từ khi Hoover bị mất, tháng Năm 1972, hay từ khi có vụ xâm nhập vào văn phòng Watergate, tháng Tám. Thực tế là từ thời Edgar Hoover, FBI đã bị thượng cấp bất lương và bệnh hoạn cho theo dõi và điều tra chính tòa Bạch Cung! Mark Felt tất nhiên là biết và chỉ đào tiếp vào mạch ngầm đó để sai báo chí đặt mìn cho Chính quyền Nixon phải sụp!
Tờ Washington Post đã biết một chuyện động trời và trái luật, là FBI ngầm điều tra Phủ Tổng thống ở ngoài vòng pháp lý - ngoài sự cho phép của cơ quan công tố. Mà vẫn im lặng và toa rập với hành động phi pháp ấy. Họ cho nổ lớn một vụ nhỏ, nhưng bịt kín một chuyện còn lớn hơn.
Thề rồi, khi chính Mark Felt đã xác nhận mình là "Deep Throat", từ 2005 đến khi ông ta từ trần vào tuần qua, trong suốt ba năm liền, truyền thông Hoa Kỳ tiếp tục ngợi ca thành tích của tờ Post! Không thấy ai điều tra ngược lên ngọn ngành của vụ Watergate, vai trò bất thường của FBI, tính bất lương của Mark Felt và sự đồng lõa của tờ Washington Post!
Cho nên, khủng hoảng báo chí thực sự xảy ra khi báo chí không làm chức năng thông tin vô tư mà lại được kẻ vô lại sai xử để tham gia trò chơi nguy hiểm là phá hoại cơ chế quốc gia. Điều ấy mới là một vấn đề đáng chú ý và cần cải sửa cho nền dân chủ Hoa Kỳ. Tuần qua, khi đọc lại mấy bài ồn ào về cái chết của Mark Felt, chúng ta phải thở dài về sự ngớ ngẩn của báo chí Mỹ khi bị lợi dụng. Và không nên ngạc nhiên về những thành tích sau này, từ chuyện Việt Nam, Iraq đến bầu bán linh tinh, khi truyền thông tiếp tục bị lợi dụng để ảnh hưởng đến dư luận ngu ngơ và cả tin.
Chó chết, hết chuyện" - Chưa đâu, vì sự thật vẫn bị khoả lấp...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.