Hôm nay,  

Câu Chuyện Dân Biểu Joseph Cao

2/24/200900:00:00(View: 8790)

Kế Hoạch Kích Động Kinh Tế - Phần 3: Câu Chuyện Dân Biểu Joseph Cao

Vũ Linh
...biểu quyết của ông Ánh... có thể nói là tự sát chính trị...
Ngày Thứ Ba 17 Tháng 2 vừa qua, trong một buổi lễ long trọng được tổ chức tại Denver, thành phố đã tấn phong ông làm ứng viên Tổng Thống trong Đại Hội của đảng Dân Chủ, TT Obama đã chính thức ký sắc luật đầu tiên, có thể cũng là sắc luật quan trọng nhất của nhiệm kỳ. Đó là đạo luật kích động kinh tế với một ngân sách 787 tỷ đô.
Đây là bài thứ ba của người viết về đề tài này. Sở dĩ phải viết nhiều như vậy vì chẳng những đây là vấn đề có tính cách sinh tử liên quan trực tiếp đến chúng ta, mà quan trọng không kém, cũng là đề tài gây ra rất nhiều tranh cãi, trong đó đã có bài viết về lá phiếu biểu quyết của một dân biểu liên bang gốc Việt là ông Joseph Cao.
Bộ luật dày hơn 1.100 trang là một kế hoạch dung hòa giữa hai kế hoạch của hai viện của quốc hội Mỹ. Từ 819 tỷ của Hạ Viện, bộ luật được tăng lên 838 tỷ tại Thượng Viện sau khi Thượng Viện cắt xén mất hơn một trăm tỷ của Hạ Viện để thay thế bằng hơn một trăm tỷ khác. Cuối cùng, sau khi trả giá, xào nấu, thêm bớt muối tiêu hành tỏi, được biểu quyết ở mức 787 tỷ, và được TT Obama ký.
TT Obama và các vị dân cử Dân Chủ, cũng như giới truyền thông và giới trí thức cấp tiến ca ngợi đây không khác nào một loạt sắc luật TT Roosevelt ký năm 1933, trong vòng 100 ngày sau khi nhậm chức.
Năm đó, TT Roosevelt bước vào Tòa Bạch Ốc khi cuộc khủng hoảng kinh tế tài chánh lớn nhất lịch sử nhân loại đang hoành hành.
Tuy tầm mức cuộc khủng hoảng lớn gấp bội tình trạng hiện nay, nhưng đại để thì cũng tương tự, với thị trường chứng khoán lao xuống vực thẳm, hàng ngàn ngân hàng phá sản, hàng chục ngàn công ty lớn nhỏ đóng cửa, và hàng triệu người mất việc.
Để cứu nguy đất nước, Roosevelt tung ra chương trình New Deal (tạm dịch nôm na là "Tân Ước" - xin lỗi quý độc giả), khai trương một kỷ nguyên mới tại Mỹ, trong đó Nhà Nước ra luật trực tiếp can thiệp thẳng vào đời sống kinh tế tài chánh, cũng như khai sinh ra hàng loạt các chương trình lao động, an sinh xã hội vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Quan trọng nhất có lẽ là chương trình Social Security, là chương trình cấp tiền già mà mấy vị về hưu đang lãnh hiện nay.
Đó là thời vàng son của phong trào cấp tiến Mỹ.
TT Roosevelt thành công một cách vượt mức tưởng tượng. Một phần lớn nhờ Đệ Nhị Thế Chiến giúp kỹ nghệ Mỹ bộc phát vì Mỹ là nước duy nhất trên thế giới còn đầy đủ cơ sở sản xuất vẹn toàn để cung ứng nhu cầu quân sự cũng như dân sự của cả thế giới.
Tỷ lệ thất nghiệp từ 25% năm 1933 rớt xuống còn có 2% năm 1945, dĩ nhiên cũng nhờ một phần lớn thanh niên nam nữ bị động viên đi lính, trong khi hàng trăm ngàn nhân công được thu dụng tại các hãng xưởng cung ứng nhu cầu chiến tranh.
Giới truyền thông cấp tiến hiện đang tung hô TT Obama như là một Roosevelt thứ hai. Sắc luật TT Obama ký chỉ mới là bước đầu và trong tương lai, sẽ còn nhiều luật khác được ban hành. Đặc biệt liên quan đến các vấn đề cứu nguy ngân hàng, vấn đề gia cư, bảo hiểm sức khỏe, hay bải vệ môi sinh, v.v…
TT Obama có thành công hay không và có hy vọng trở thành một Roosevelt thứ hai hay không, thì chắc chúng ta còn phải chờ ít ra là 5 hay 10 năm nữa mới biết được.
Trong hiện tại, chúng ta chỉ có thể nhận định vấn đề phần lớn dưới khía cạnh suy luận tùy theo quan điểm chính trị của chúng ta thôi.
Đại cương thì thành phần cấp tiến chủ trương Nhà Nước phải can thiệp mạnh mẽ vào guồng máy kinh tế, tài chánh chứ không thể tin tưởng vào khả năng tự điều chỉnh của guồng máy đó. Công cụ can thiệp gồm có ba yếu tố chính là sắc luật, chương trình công chi, và tăng thuế.
Nói cách khác, Nhà Nước sẽ liên tục ban hành hàng loạt luật lệ để điều động, kiểm soát bộ máy kinh tế tài chánh. Nhà Nước cũng trực tiếp tác động đến sự phát triển kinh tế bằng cách tung ra các chương trình chi tiêu với tiền Nhà Nước, đặc biệt là các chương trình lớn lao xây dựng hạ tầng cơ sở như xa lộ, bến tàu, phi trường, hệ thống hỏa xa, trường ho"c, nhà máy biến điện, đập nước, kinh đào, v.v… , và các chương trình tài trợ an sinh xã hội như tiền thất nghiệp, medicaid, medicare, bao cấp đủ loại. Và thuế đủ loại sẽ được gia tăng để tài trợ những khoản chi vĩ đại đó.
Trái lại, thành phần bảo thủ thì chủ trương rằng sáng kiến tư nhân là bộ máy phát huy kinh tế hiệu nghiệm nhất, và những nhu cầu và quyền lợi cá nhân đối chọi sẽ có tác động cân bằng những chênh lệch quá đáng. Nhà Nước đóng vai cảnh sát điều hành lưu thông, cho nên ch ỉ  có nhu cầu tối thiểu, và do đó cũng chi tối thiểu, và thu thuế tối thiểu.
Nhìn vào hai khuynh hướng đối nghịch thì người ta có thể mường tượng ngay được cuộc tranh cãi hiện nay về chương trình kích động kinh tế của TT Obama và quốc hội Dân Chủ. Bộ luật mới là một hình ảnh rõ rệt nhất, phản ánh quan điểm cấp tiến hay thiên tả, bao cấp, của TT Obama và đảng Dân Chủ.
Chương trình dự chi một số tiền vô tiền khoáng hậu là gần tám trăm tỷ đô la, trong đó bao gồm tất cả những khoản chi tiêu biểu vừa nêu ở phần trên. Từ việc tu bổ hệ thống xa lộ liên bang đến tăng tiền thất nghiệp.
Chúng ta không có con số rõ ràng, nhưng hàng trăm tỷ đã được dành cho các chương trình gọi là "chuyển nhượng lợi tức", hoàn toàn có tích cách tái phân phối lợi tức an sinh xã hội chứ không có tính cách sản xuất, tạo công ăn việc làm, hay cứu nguy kinh tế gì hết.
Một điểm khác biệt quan trọng với chương trình của TT Roosevelt là vấn đề thuế.
Trong khi TT Roosevelt khai sinh ra tiền thuế an sinh (Social Security payroll taxes) để tài trợ quỹ tiền già ông mới phát minh ra, TT Obama cho đến nay vẫn khẳng định ông sẽ cắt thuế cho giới trung lưu và nhà nghèo.
Và đây có lẽ là câu hỏi quan trọng nhất trong cuộc tranh cãi. Nếu tăng thuế thì sẽ là thất hứa. Nếu nhất định không tăng thuế thì lấy tiền đâu ra tài trợ cho chương trình kích động vĩ đại này" Mà, như ông Obama vừa đề nghị sau khi ký đạo luật kích động là sẽ tìm cách tiết giảm bội chi ngân sách qua việc tăng thuế của "nhà giàu" - có 1ợi tức đồng niên từ 250 ngàn trở lên - kể từ năm tới thì kinh tế nếu có phục hồi chút đỉnh sẽ lại suy sụp, là một rủi ro rất lớn cho những người đang kiếm việc làm: không ai muốn đầu tư thêm vì càng làm ăn là càng trả thuế nặng hơn và đầu tư giảm thì sản xuất không tăng mà chỉ gây thêm thất nghiệp.
Như đã có dịp bàn qua, nếu  không tăng thuế và giết con gà đẻ trứng vàng thì chỉ còn hai cách. Tài trợ các khoản tăng chi này bằng cách in tiền để đáp ứng nhu cầu: kết quả là lạm phát gây thiệt hại nhất cho dân nghèo và người già. Hay tài trợ bằng cách vay mượn tiền của các Chú Ba Hồ Cẩm Đào và các ông Ả Rập, và kinh tế Mỹ sẽ càng lún sâu vào vòng kềm tỏa của “ngoại bang”.
Ngoại trưởng Hillary Clinton đã nghĩ thế nên vừa khoả lấp chuyện Bắc Kinh vi phạm nhân quyền vừa kêu gọi Trung Quốc tiếp tục mua công khố phiếu của Mỹ: nhờ Trung Quốc tài trợ cho các khoản tăng chi của mình và trả giá là phe lờ chuyện nhân quyền!
Một điểm khác biệt quan trọng đáng lưu ý nữa là những chi tiêu vô bổ và tàng hình yểm sâu trong chương trình kích động của TT Obama.
Để được sự chấp thuận của các vị dân cử Dân Chủ, gói ghém trong kế hoạch này là hàng trăm kế hoạch nhỏ, cục bộ khác trị giá hàng trăm tỷ, mà chẳng liên hệ xa gần gì đến kích động kinh tế quốc gia. Chỉ có lợi cho các vị dân cử Dân Chủ tại địa phương của mấy ông bà ấy, giúp cho họ dễ kiếm phiếu hơn trong các kỳ bầu cử tới. Đây có lẽ là lý do quan trọng nhất khiến khối dân cử Cộng Hòa đồng loạt chống vì sẽ chỉ gây khó khăn cho họ trong các cuộc bỏ phiếu năm 2010 và 2012.
Có lẽ từ trước đến nay, chưa bộ luật nào được thông qua với lằn ranh cấp tiến/bảo thủ rõ rệt như luật này. Rõ ràng là bộ luật đã mang tính cách cấp tiến cực đoan khiến  tất cả các dân biểu nghị sĩ Cộng Hòa đều chống, ngoại trừ ba thượng nghị sĩ cấp tiến nhất của Cộng Hòa tại Maine và Pennsylvania. 


Thông điệp đoàn kết lưỡng đảng của ứng viên Obama đã tan thành mây khói trong vòng 30 ngày sau khi ông nhậm chức.
Sự đồng loạt chống đối của các vị dân cử Cộng Hòa đã bị giới truyền thông cấp tiến chỉ trích mạnh mẽ. Một số báo chí Việt ngữ cũng phổ biến lại những chỉ trích này, tuy có vài bài viết không thể hiện đúng đắn vấn đề.
Có người cho rằng các vị dân cử Cộng Hòa đã đồng loạt bỏ phiếu chống chỉ vì tuân theo mệnh lệnh của cấp lãnh đạo đảng để phá đảng Dân Chủ.
Nói như vậy có lẽ chưa mô tả đúng mức lề lối sinh hoạt đảng phái chính trị Mỹ.
Đảng chính trị Mỹ khác xa đảng Cộng Sản VN. Không có Chủ Tịch hay Tổng Bí Thư nắm quyền sinh sát trong tay. Không có Bộ Chính Trị hay Ban Bí Thư gì hết. Cũng chẳng có kỷ luật đảng gì cả.
Cả hai đảng dĩ nhiên đều có một Ủy Ban Quốc Gia (National Committee), với Chủ Tịch đàng hoàng. Nhưng ủy ban chỉ có trách nhiệm phối hợp các công tác gây quỹ, vận động tranh cử và điều hợp các buổi họp và đại hội đảng. Còn các vị đảng viên dân cử thường biểu quyết theo ý mình, hay theo nhu cầu của cử tri mình. Có khi trùng hợp với lập trường chung của đảng, có khi khác biệt.
Điển hình nhất là thượng nghị sĩ Joe Lieberman. Năm 2000, ông là ứng viên phó TT trong liên danh Dân Chủ của PTT Al Gore. Năm 2008, vì mối lo về an ninh quốc gia và không chấp nhận tinh thần phản chiến trong đảng Dân Chủ, ông lại công khai đứng ra vận động cho ứng viên Cộng Hòa John McCain chống lại đồng chí Dân Chủ Barack Obama.
Đảng Cộng Hoà cũng như đảng Dân Chủ Mỹ hoạt động rất lỏng lẻo. Trong thập niên 50-60, có thể nói trung bình chỉ có 60% các vị dân cử cả hai đảng bỏ phiếu theo đường lối của tổng thống của chính phe mình. Và nhiều người còn bỏ đảng bước qua bên kia và... thắng lớn như Ronald Reagan. Qua thời Clinton và Bush, tình trạng chia rẽ giữa hai đảng nặng nề hơn nên các vị dân cử bỏ phiếu theo tổng thống phe mình tăng lên cỡ 80%. Bây giờ, với TT Obama, 100% các thượng nghị sĩ Dân Chủ và hơn 90% dân biểu Dân Chủ đã hậu thuẫn ông, trong khi 100% các dân biểu Cộng Hòa và gần 90% các nghị sĩ Cộng Hòa đã chống ông.
Tính thuần nhất này chỉ phản ánh một cách biệt ngày càng sâu đậm giữa hai khuynh hướng cấp tiến và bảo thủ, bao cấp và tự do, chứ không phải là quyền lực ngày càng lớn mạnh của một “trung ương đảng”. Chưa bao giờ Mỹ có chuyện “trung ương đảng” ra lệnh và các dân biểu, nghị sĩ phải răm rắp tuân thủ, bất kể quyền lợi cử tri hay quyền lợi cá nhân.
Và đó chính là trường hợp Dân biểu Joseph Cao Quang Ánh.
Ông Ánh là một hiện tượng đặc biệt: dân biểu liên bang gốc Việt đầu tiên. Trường hợp đắc cử của ông thật hy hữu và đầy may mắn. Ông là dân biểu Cộng Hòa bất ngờ thắng cử trong một đơn vị hầu như hoàn toàn của dân da màu Dân Chủ, nhờ cuộc bầu cử tổ chức riêng biệt, không cùng ngày với cuộc bầu cử tổng thống. Hôm đó rất ít người đi bầu. Và ông lại tranh cử chống một dân biểu Dân Chủ đang bị ra tòa vì bị bắt quả tang giấu 90 ngàn tiền mặt, kết quả tham ô, trong ngăn đá của tủ lạnh tại văn phòng quốc hội của ông.
Chiến thắng của ông Ánh rất mong manh, và ai cũng nghĩ rằng ông khó tái đắc cử khi bầu lại vào năm 2010, trừ khi ông lấy điểm được với khối cử tri da đen tại địa phương.
Vậy mà trong cả hai lần Hạ Viện bỏ phiếu về kế hoạch kích động kinh tế, ông bỏ phiếu chống cả hai, cùng với toàn thể khối dân biểu Cộng Hòa, mặc dù trước đó ông đã tuyên bố có thể ủng hộ dự luật này.
Báo chí cấp tiến địa phương lập tức đả kích, rằng ông chao đảo lập trường, “tiền hậu bất nhất”, và nhất là đã bị quyền lực của đảng Cộng Hòa chi phối, bỏ phiếu đi ngược lại quyền lợi cử tri của ông. Một vài cây bút làng báo Việt ngữ vội vã luộc lại lý luận này, rằng đối với ông Ánh, “quyền lợi của dân bé hơn quyền lợi đảng”.
Kẻ viết bài này không quen biết gì ông Ánh. Chỉ nghe tên ông khi báo chí đăng tin ông đắc cử dân biểu liên bang. Dù vậy, cũng vẫn nghĩ rằng kết án ông Ánh đã coi “quyền lợi dân bé hơn quyền lợi đảng” có phần quá đáng và không phản ánh sự thật.
Hơn hai trăm dân biểu và nghị sĩ Cộng Hòa đã bỏ phiếu chống đạo luật, điều ấy không có nghĩa là mấy trăm nhân vật này đều coi quyền lợi dân là bé. Hầu hết các dân biểu nghị sĩ Dân Chủ bỏ phiếu ủng hộ dự luật cũng không có nghĩa là mấy trăm ông bà này coi quyền lợi dân là lớn.
Vấn đề không giản dị và một chiều như vậy. Ủng hộ hay chống đều là những quyết định có lý do chính đáng nghiêm chỉnh, đáng tôn trọng.
Đặc biệt, việc biểu quyết của ông Ánh là hành động cực kỳ can đảm, thậm chí có thể nói là tự sát chính trị khi mà cử tri của ông hầu hết đều là Dân Chủ da đen, tôn thờ TT Obama và hoan hô dự luật kích động kinh tế vì có rất nhiều “quà bánh” cho họ. Báo chí cũng nhìn nhận hành động của ông bảo đảm ông sẽ là một dân biểu một nhiệm kỳ.
Do đó, hành động đầy đởm lược của ông Ánh hoàn toàn dựa trên lý tưởng và lập trường, bất chấp những thiệt hại cá nhân trước mắt. Từ một người đi vào sinh hoạt chính trị, đây là một quyết định đáng khâm phục.
Cộng đồng tỵ nạn chúng ta chỉ có một tiếng nói duy nhất trong quốc hội liên bang Mỹ. Thiết tưởng ta nên cẩn thận, tìm cách giữ tiếng nói này trước khi lập lại những chỉ trích của vài tờ báo thân Dân Chủ đang muốn giật lại ghế dân biểu của ông Ánh.
Mà ông Cao Quang Ánh không là người duy nhất chống lại dự luật.
Ngay tại tiểu bang Louisiana của ông, Thống Đốc Bobby Jindal đã lên tiếng muốn nghiên cứu kỹ luật kích động kinh tế, và ông từ chối không nhận khoảng bốn tỷ đô dành cho Louisiana vì số tiền này sẽ chỉ là gánh nợ vĩ đại cho con cháu mà không kích động được kinh tế tiểu bang gì hết.
Dân biểu Cao Quang Ánh và Thống Đốc Bobby Jindal cũng không là những người duy nhất chống lại đạo luật kích động kinh tế.
Điều đáng lưu ý là dù có sự cổ võ rầm rộ của TT Obama và giới truyền thông, cũng như sự ủng hộ của hầu hết các dân biểu nghị sĩ Dân Chủ, theo các thăm dò dư luận mới nhất, chỉ có 51% dân Mỹ chấp nhận luật mới. Tức là một nửa dân Mỹ không chấp nhận.
Giới kinh tế tài chánh Mỹ cũng không hồ hởi tý nào. Kể từ cuối tháng Chạp vừa qua, khi ý kiến chương trình kích động kinh tế vĩ đại được các cố vấn của Tổng Thống đắc cử Obama thả ra theo kiểu bong bóng thăm dò dư luận, thị trường chứng khoán đã tuột dốc thê thảm, sau khi ngoi đầu lên được một chút trong tháng 12.
Từ ngày đầu năm đến giờ, chỉ số Kỹ nghệ Dow Jones DJIA của New York đã rớt từ khoảng 9.000 điểm xuống còn 7.200 điểm, 20%! Mà những ngày rớt mạnh nhất chính là ngày TT Obama tuyên thệ nhậm chức, ngày dự luật kích động kinh tế được Hạ Viện, Thượng Viện chấp nhận, và ngày TT Obama ký sắc luật. Thứ ba 17 Tháng 2, ngày TT Obama ký sắc luật, thị trường rớt ngay 400 điểm.
Tất cả chỉ chứng minh các chuyên gia tài chánh, các nhà đầu tư, đều không tin tưởng ở kế hoạch vĩ đại đầy tính phiêu lưu của TT Obama.
Ngoài nước Mỹ, báo International Herald Tribune - chi nhánh của liên doanh New York Times với Washington Post trên diễn đàn quốc tế - đã đi tin là các chuyên gia kinh tế tài chánh quốc tế đang họp tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới (World Economic Forum) tại Davos bên Thụy Sỹ cũng lo âu không biết Nhà Nước Mỹ sẽ lấy tiền đâu chi trả các chương trình khổng lồ của TT Obama. Giới chuyên gia đều lo ngại chương trình sẽ thất bại nặng và tạo ra hậu quả nguy hại không lường được cho kinh tế cả thế giới.
Khó có thể nói các chuyên gia kinh tế tài chánh của nước Mỹ và cả thế giới mà không hoan nghênh luật kích động kinh tế của TT Obama đều là những kẻ coi quyền lợi của đảng Cộng Hòa Mỹ là lớn trong khi quyền lợi dân là bé.
Giờ phút này, chúng ta có thể hoan hô hay chỉ trích bộ luật kích động kinh tế này. Nhưng gạo đã nấu thành cơm, bộ luật đã được ký, chống hay ủng hộ không còn tác dụng gì nữa. Bây giờ là tất cả đều cầu mong cho kế hoạch của TT Obama được thành công, phục hồi lại kinh tế sớm!
Nếu không, không ai dám nghĩ đến hậu quả và việc ông Obama có thất cử năm 2012 thì cũng không là một an ủi! (22-2-09).

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.