Hôm nay,  

Chỉ Là Rỗng Không

8/17/200800:00:00(View: 9191)

Miranda Hodgson, The Guardian, ngày 4 tháng 8 năm 2008.

(Tự Truyện Một Ni Cô Tu Thiền)

Từ lúc thơ ấu, Miranda Hodgson đã là một đứa bé vô thần thuần thành, nhưng khi cô bắt đầu thực hành yoga và thiền định, cuộc đời cô đã thay đổi một cách bất ngờ. Sau đây là câu chuyện do chính Sư Cô tự thuật.

Mười một năm trước, tôi sống ở New York, và làm việc trong vai trò một giám đốc nghệ thuật tại Carnegie Hall.

Tôi rất nhiệt huyết và năng nổ, nhưng cảm thấy như đời mình đang thiếu đi một điều gì, và tôi đã không thể giải thích điều đó là gì.  Gia đình tôi ở London, nhưng đã chuyển đến Hoa Kỳ lúc 2 người anh cả và tôi còn rất nhỏ, để ba tôi có thể theo đuổi sự nghiệp một bác sĩ giải phẫu. Chúng tôi sống thoải mái trong giai cấp trung lưu, và được kỳ vọng rằng chúng tôi, cũng sẽ phát triển nghề nghiệp cao hơn một cách thành công, lập gia đình và đến lược con cháu cũng thành đạt như mình.

Ba tôi là một người vô thần cùng loại với mấy ông Richard Dawkins hay Karl Marx, những người mà tôn giáo đơn giản là một bộ máy phản kháng chính trị và xã hội.  Mặc dù mẹ tôi không bao giờ nói nhiều để chống lại điều này, bà ấy có vẻ bực mình khi tôi trong một vài lần phủ nhận sự hiện hữu của thượng đế. Cũng vậy, tôi là một kẻ vô thần.  Như một cô bé vị thành niên, tôi từ chối khi bị bắt buộc xác nhận điều ấy.

Tôi đam mê việc viết lách, văn học và ngôn ngữ, và tôi cũng giỏi trong các môn thể thao và âm nhạc.  Tuy nhiên, tôi đã được khuyến khích có thái độ cạnh tranh, gắn chặt với cá tính nhút nhát của tôi, không để cho những người bạn gần gũi lấn lướt.  Còn nữa, là một người Anh tôi thấy không dễ dãi chút nào để thâm nhập vào văn hóa Mỹ. Cuối cùng, khi lên 18 tuổi, tôi đã có thể thoát ra khỏi những ràng buộc của xóm ngoại ô bằng việc đi Harvard để học văn chương Anh.  Tôi rất thích ở đó - học hành, viết lách, và chạy theo một công ty khiêu vũ thời thượng.  Tôi bắt đầu khám phá ra tôi là ai, và ngay cả tôi đã mất đi lòng tự tin xã hội mà nhiều người bạn học của tôi dường như có, tôi khởi sự thoát ra khỏi cái vỏ ốc dần dần. Tôi đã có bạn trai - một anh chàng thành thật, dễ thương trên tôi một lớp, người tánh tình cứng đờ. Anh ấy là một con chiên Thiên Chúa Giáo ngoan đạo, nhưng điều này không gây ra nhiều trở ngại, bao lâu chúng tôi không bàn về cách mà chúng tôi nghĩ về niềm tin của nhau là hoàn toàn sai lạc.

Cuối cùng, mối quan hệ đã dẫn dắt cuộc tình nhưng, sau khi tốt nghiệp và làm việc tại Carnegie Hall, tôi bắt đầu nhận thức chính mình rằng tôi không còn tìm thấy trong tôi cuộc đời trọn vẹn  với con người vô thần quá khích.  Dù tôi vẫn hiểu rằng không thể tin vào thượng đế, tôi từ từ trở nên ý thức đâu đó vẫn có một đấng thiêng liêng, hữu thần tiến gần đến kinh nghiệm tâm linh của đời sống.  Tôi đã khởi sự thực hành hatha yoga, và rồi được một đồng nghiệp giới thiệu thiền Phật giáo.

Tôi đã rời bỏ việc làm và trở lại Anh Quốc để thực hiện công trình nghiên cứu hậu đại học tại Oxford.  Tôi tiếp tục tu tập với một nhóm địa phương của Hội Thiền Quốc Tế, có trụ sở tại Pháp.  Ngồi thiền và quán chiếu tình trạng của sự hiện hữu là một kinh nghiệm mới lạ, đã từng sống trước đó như một mục đích và đạt đến đời sống định hướng. Khi tôi khảo nghiệm ý tưởng của mình, đặc biệt sự định giá, tôi thấy qua nỗ lực tinh cần liên tục, tôi phát hiện rằng chúng chỉ là rỗng không; từng điều một, chúng tan biến đi. Tôi nghiệm chứng rằng có điều còn quan trọng hơn là việc trèo lên các nấc thang danh vọng bằng mọi giá.

Dù đó là kinh nghiệm giải thoát, nó làm cho tôi hoảng sợ một cách kỳ lạ trong nhất thời. Tôi đã thẩm định lại mục đích của đời sống, và trong việc làm này, ý thức rằng, qua các tiêu chuẩn lúc trước của tôi, tôi cảm nhận như một thất bại.  Thay vì kiếm một công việc làm lương cao, tiếp theo là đám cưới, có một ngôi nhà và mấy đứa con, tôi đã vất vả để đạt đến chung cuộc khi tôi chuẩn bị cuộc sống bằng việc giảng dạy tại đại học đồng lúc cố gắng hoàn tất học vị tiến sĩ.  Rồi, công lao làm việc khó nhọc suốt 5 năm đã đưa đến kết thúc, những vị giám thị đã quyết định rằng họ không muốn giúp tôi trong việc duyệt xét được yêu cầu từ các vị giám khảo, và tôi đã phải tiếp tục đi tới thêm.  Không có tiến sĩ, nghề nghiệp giảng dạy tại đại học mà tôi đã làm cũng không thực hiện được.  Sau khi kinh lịch mỗi xúc cảm và thân xác trở thành bệnh, tôi quyết định dùng kinh nghiệm giảng dạy mà tôi có ở đại học để đi vào công việc dạy một trường trung học đệ nhị cấp.

Tôi tiếp tục việc thiền định với nhóm Thiền và tham dự khóa tu ở Anh và Pháp.  Tại Pháp, tôi gặp một thiền sư (cũng là một người thực tập thiền được cho phép hướng dẫn lại), và nơi vị này, tôi đã thực hiện lời hứa dấn thân vào con đường Thiền. Không giống ở Nhật, nơi các vị thiền sư tăng và ni được hậu thuẫn bởi chính quyền, những người Âu Châu có lời hứa này vẫn tiếp tục sống và làm việc trong xã hội như họ đã làm trước đó. Đối với tôi, quyết định để xin xuất gia làm ni đến rất sớm.  Nó đơn giản như là việc đúng nên làm; nó hoàn toàn có ý nghĩa.  Cuộc đời bấy giờ bắt đầu mở toang ra một cách tự nhiên.

Buổi lễ diễn ra ngay trong thiền đường của vị thiền sư gần thành phố Tours, Pháp, trong một buổi sáng đẹp trời mùa hạ hồi năm ngoái. Tôi đã nhận một cái kimono màu đen tay dài quá cỡ để mặc choàng lên chiếc kimono trắng của tôi, cũng như một chiếc y (mảnh y hình chữ nhật choàng lên thân thể để trống bên vai trái trong thời gian hành thiền) và một chiếc y mà hình dáng như một cái tạp dề ngắn mà tôi đã may cho chính mình. Tôi đã được trao cho một phái quy y, một bình bát, và pháp danh ni mà sẽ được dùng chỉ sau khi tôi qua đời. Tôi khóc ròng suốt buổi lễ, nhưng trông khuôn mặt trong tấm hình thì nói lên tất cả: tôi đang ngồi cạnh vị thiền sư và trông vẻ mặt đầy xúc động, nhưng giải thoát và an lạc.

Gần một năm trôi qua kể từ buổi lễ đó và sự phản ứng của mọi người đối với sự xuất gia của tôi thì khác nhau. Mẹ tôi thì tò mò và ủng hộ, trong khi ba tôi thì không để ý đến; tôi không biết ba tôi nghĩ gì, khác hơn là ông không đồng ý. Tôi nghĩ ba tôi cũng thấy rằng bây giờ tôi được hạnh phúc, điều ấy đã quá đủ với ông ta.  Bởi vì giờ này tôi là cô giáo, tôi không cạo đầu, và chỉ mặc chiếc kimono và y khi hành thiền, tôi trông chẳng khác gì bất cứ người nào mà bạn gặp trên đường phố.

Khi hầu hết mọi người nghe chữ nữ tu, họ đều nghĩ về các nữ tu Thiên Chúa Giáo. Thông thường, câu hỏi đầu tiên của họ là tại sao tôi lại muốn từ bỏ vĩnh viễn đời sống chăn gối vợ chồng. Nói theo cái kiểu này, tức là đặt ân ái ngang hàng với những việc khác như hút thuốc hay rượu chè: những động thái tự thưởng của sự tiêu thụ thỏa thích. Nếu người ta hiểu ân ái theo lối vị kỷ như vậy, không còn ý nghĩa tình yêu nữa, rồi thì cũng đúng thôi, tôi "bỏ nó đi." Một trong những lời nguyện mà tôi phát khi thọ giới xuất gia thuộc về điều luật dâm, và luật ấy nói rằng ban không nên thực hiện sự ân ái trong phương cách tác hại như vậy.  Do đó, không phải là bạn làm điều gì, mà bạn làm như thế nào: lợi dụng người nào đó như một món hàng cho sự thỏa mãn của mình thì hoàn toàn tai hại nếu quán chiếu trong ánh sáng trí tuệ đó. Một thời gian ngắn sau khi xuất gia, tôi đã gặp một người đàn ông mà bây giờ tôi đang chia xẻ mối thân tình dựa trên niềm tin và kính trọng.

Hầu hết các học sinh thiếu niên đều biết tôi là một sư cô, và những phản ứng của họ làm khích lệ tôi.  Họ đều thích thú muốn biết thế nào là một Phật tử cũng như một ni cô, dĩ nhiên, hỏi tôi những câu hỏi về điều mà làm mất nhiều thì giờ trong các bài học.  Một câu hỏi thường nhắc đến là liệu tôi có tin thượng đế không, nhưng tôi không chắc rằng họ có hiểu khi tôi giải thích với họ rằng ý tưởng về Thượng đế của Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo không có chỗ đứng trong đạo Phật. Ở một lần khác, họ hỏi tôi về cách tôi hành thiền. Họ đặt tay theo tư thế mà họ nghĩ là đúng vị thế yoga, nhắm mắt lại, và đọc: "Ohmmm."

Tôi nhìn thấy sự cố chấp những định kiến của họ, và họ không muốn tin khi tôi nói với họ về sự thật: rằng chúng tôi nồi yên tịnh và không nhúc nhích hay tạo ra tiếng động cho đến 6 giờ một ngày. Tôi nghĩ là hoàn toàn xa lạ với họ để được trực diện với người nào đó đã làm một lời nguyện tôn giáo vững chắc như vậy. Một số người cho rằng tôi sống như một người thanh tịnh, và ngạc nhiên khi tôi bảo với họ rằng tôi vẫn uống rượu và sẽ ăn thịt.

Trong khi hiện trạng là một ni cô của tôi thường khuyến khích đối thoại giữa tôi và các học sinh, đôi khi tôi có cảm giác điều ấy làm ngăn cách chúng tôi. Cho đến hôm nay, các học sinh nghĩ rằng, để thành tựu trong đời sống, họ phải đấu tranh để có được điểm cao, bất kể việc học ở học đường là đúng với họ hay không. Tôi cảm thấy buồn mỗi khi phải thúc ép các học sinh lấy các bài thi trắc nghiệm, tôi nhớ những lời dạy từ một vị thiền sư rằng "biết đủ" là đủ trong đời sống.

Sau khi tôi xuất gia, thầy tôi nói với tôi rằng năm kế tiếp, nghiệp lực của tôi sẽ thay đổi mau chóng, và tôi tự tìm thấy việc thực hiện một ít thay đổi cho đời sống của tôi, đặc biệt trong khuôn khổ của quỹ đạo nghề nghiệp của tôi.  Tôi đang tìm ra sự quân bình, mỗi ngày một ít.

Có người nói rằng theo đuổi con đường thiền định Phật Giáo thì đơn giản, nhưng nó không dễ dàng chút nào cả. Nó cần nhiều nỗ lực để cải thiện mỗi ngày. Khi công việc bắt đầu tràn ngập, tôi chỉ nhớ bài thơ được viết bằng mực đen trên một tấm lụa trắng tạo thành giòng trên khăn choàng cổ của tôi: "Với tấm y và đầu sạch tóc, tôi đang giải thoát." Hy vọng sự thật đơn giản của những lời này sẽ luôn luôn sách tấn tôi.

Huỳnh Kim Quang dịch.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.