Hôm nay,  

Sau Ngày Tang

17/08/201000:00:00(Xem: 6249)

Sau Ngày Tang

Như Quang
Tôi vừa trở về từ một khoá thiền ngắn hạn. Vào diễn đàn nào cũng nghe cáo phó, phân ưu về sự ra đi của sư bà Diệu Từ. Tiểu sử sư bà vừa được các MC đọc, vừa được phổ biến trên màn hình. Chỉ cần nghe một người nào vừa mất mẹ là lòng tôi rưng rưng bởi vì tôi cũng đã từng mất mẹ. Nghe mẹ ra đi mà mình không về được để thọ tang có người con nào không thắt ruột" Tôi muốn gởi đôi lời chia buồn đến những người con côi cút nhưng trong không khí sôi động này tôi nghĩ không khéo lời chia buồn của mình sẽ trở thành lố bịch vì những sáo ngữ.
Sau ngày hỏa táng sư bà Diệu Từ, tôi ngồi lại lắng lòng viết những giòng tâm bút để chia sẻ nỗi đau mất mẹ với toàn thể gia đình sư Giác Giới. Những giòng mực tâm không bao giờ trễ muộn bởi những điều xuất phát tự tâm là những điều không có thời gian tính.
Tôi chưa từng biết sư bà Diệu Từ cũng như không hề biết bà Phạm thị Thu. Tôi chỉ biết Bà Tư, người tu nữ từ hòa tại chùa Siêu Lý Vĩnh Long. Tôi đến chùa Siêu Lý vào một ngày mùa hè 2008 và ở đó một ngày, một đêm. Một đêm an trú ở ngôi chùa này tựa như một đêm an trú trên cõi trời Đạo Lợi. Tôi được nghe kinh, được sư Giác Giới dạy đạo, được hành thiền bất cứ nơi nào tôi muốn. Vị trụ trì chùa Siêu Lý là một vị trụ trì vô cùng đặc biệt, tôi chưa hề gặp một vị trụ trì nào như thế. Sư ít giao tiếp và suốt bao nhiêu năm chỉ có một ngôi chùa mà trụ. Mới gặp tôi lần đầu mà sư đã trao cho tôi quyền … trụ trì. Sư giao quyền cho tôi không cần văn bản mà chỉ bằng một câu nói vô cùng đơn giản: ai cũng có thể làm trụ trì. Cô cũng có thể làm trụ trì: trụ giới và trì giới.  Định nghĩa trụ trì của sư giản dị quá nhưng chắc chắn rất khó hành. Sư cho tôi tham dự vào khóa kinh tối, kinh sáng của chư tăng, chỉ khi chư tăng tụng giới bổn sư mới mời tôi ra ngoài.


Buổi chiều trong khi chờ lên chánh điện học giới với sư Giác Giới, tôi ngồi trò chuyện với bà Tư. Bà ngồi nơi ngưỡng cửa trước cốc của bà, hai bàn chân sưng phồng. Tôi nói bà để con xoa bóp cho. Tôi dùng kỷ thuật xoa bóp chân mà người bạn Đông y sỹ người Trung Hoa đã dạy, bấm nhẹ các huyệt dưới lòng bàn chân và xoay cổ chân cho bà. Gương mặt bà hiện ra nét thư giãn và bà hỏi tôi một câu hỏi mà tôi nghĩ là bà đợi chờ để hỏi cả ngày nay vì bà biết tôi ở nước ngoài về: “Cô có ở gần sư Trí Tịnh không"” Câu hỏi của bà làm tôi xúc động vì trước mắt tôi là một bà mẹ quê tiêu biểu. Một bà mẹ ngồi nơi ngưỡng cửa mong con, thấy ai cũng tưởng con về, thấy ai cũng tưởng có quen biết với con mình. Tôi không dám thú thực với bà tôi không hề biết sư Trí Tịnh, chỉ nghe nói sư Giác Đẳng có người em là sư Trí Tịnh nhưng sư ở đâu tôi không được biết. Tôi chỉ biết sư Giác Giới, mà gia đình quen gọi là sư Ba, sư Giác Đẳng, sư Giác Nguyên và sư Pháp Nhiên. Nhưng tại sao bà chỉ hỏi thăm sư Trí Tịnh mà không hỏi thăm sư Giác Nguyên hay sư Giác Đẳng" Có lẻ trong lòng bà mẹ nào đứa con út ít cũng là đứa con chiếm vị trí quan trọng nhất. Tôi định bụng khi trở về Canada sẽ hỏi thêm về sư Trí Tịnh nhưng công việc bề bộn khiến tôi quên. Điều này làm tâm tôi luôn trạo hối.
Ngày bà Tư mất, nếu không nghe thông báo bà có 7 người con, tôi nghĩ số con của bà đông hơn con số bảy kỳ diệu. Xem qua các hình ảnh trên mạng Internet, tôi thấy một người luôn có mặt bên cạnh quan tài bà, luôn đứng cạnh sư Giác Giới. Nếu không biết rõ vị này tôi có thể nghĩ đây là trưởng nam của bà Tư. Và người đặc biệt này chính là vị trụ trì chùa Siêu Lý. Thêm một người con nữa ngay khi nghe tin bà Tư từ trần đã vội vàng bay về từ một trường thiền tại Miến Điện. Một giờ sáng sư đã có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất để kịp về Vĩnh Long kính viếng bà Tư. Có lẻ còn nhiều người con nữa không do bà Tư sanh ra cũng đã vội vàng về nhìn người mẹ từ bi lần sau cuối. Điều này nói lên được tánh hạnh của người đã chết. Cung cách sống suốt quãng đời hộ tăng của của bà đã đem lại sự tôn kính từ nhiều người khi bà nằm xuống. 
Sau ngày tang của bà Tư tôi nghĩ tôi cần phải thắp nén nhang lòng để kính viếng bà và để chuộc cái lỗi đã không cho bà được một niềm vui nhỏ nhoi về đứa con út ít của bà. Tôi tin tưởng cảnh giới bà đang ở là một cảnh giới vô cùng an vui, ngợp bóng y vàng của những người con yêu quý. Tôi không tạo được phước báu gì lớn lao ngoài chút phước xuất gia gieo duyên, hành thiền vừa qua để hồi hướng đến cho bà. Và do những lời chân thật này, nguyện cho sự an lạc hằng đến với bà.
Như Quang
Canada, Mùa Vu Lan, 2010
Phật lịch 2554

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.