Hôm nay,  

Tsunami Và Tình Người

7/7/200700:00:00(View: 8913)
(LTS: Bài này của nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh viết trong năm 2005, nói về nhu cầu cần các hành động phat1 xuất từ tình yêu thương, từ bi bác ái mới thật sự cứu được thế giới. Bài viết này cũng là dịp nên gợi lại vì các giá trị nhân bản, khi nhà báo lão thành Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh sửa soạn xuất bản tuyển tập vào cuối tuần naỳ.)

Công cuộc cứu trợ nạn nhân Sóng Thần ở Nam Á là một nỗ lực quốc tế lớn lao, chưa từng thấy trên thế giới. Nó cũng làm nổi bật một điểm rất đặc biệt vẫn tiềm ẩn trong suốt lịch sử nhân loại. Đó là tình người, tình nhân loại, và cũng là nguyên nhân đã giúp chúng ta tồn tại đến ngày nay. Từ thời xa xưa Đức Khổng tử viết: “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Nho gia phân biệt trắng đen giữa thiện và ác, đưa ra một phép xử thế của người quân tử “ân đền oán trả”, hễ chịu ơn là phải đền ơn, gặp oán là phải báo oán. Thế nhưng cuộc sống xã hội ngày càng phức tạp, thiện ác bất minh, nhiều khi không biết đâu là thiện đâu là ác nên phép xử thế quân tử đã hết thời. Dù vậy sau khi các tôn giáo ra đời, các đấng khai đạo đều rao giảng một đạo lý bao quát hơn, phù hợp hơn với tình người. Đó là sự bác ái, lòng từ bi hỷ xả. Lấy yêu thương quảng đại làm gốc và khi đã có tâm vô lượng thì cũng nên “hỷ xả”, vui mà bỏ qua hết chuyện oán thù. Cao cả nhất trong những lời dạy của các đấng chí tôn là “lấy đức báo oán”.

Trong các tai ương chung và cứu trợ tập thể, lời dạy trên càng có ý nghĩa thâm thúy. Cứu trợ có hai phía người cho và kẻ nhận. Sự hỷ xả phải bắt đầu về phía người cho, nếu muốn tạo ra một cái gì sâu đậm hơn và trường cửu hơn sự nhất thời giúp đỡ kẻ khốn cùng qua cơn đói khổ. Đó không phải chỉ là viện trợ cho nạn nhân mau trở lại cuộc sống bình thường như trước mà còn phải làm gương cho họ và cả những dân tộc khác trên thế giới thấy thế nào là liên đới trách nhiệm và đoàn kết quốc tế. Muốn nêu gương đó, trước hết chính trong nội bộ phía người cho phải thành thật bỏ hết oán thù giữa họ với nhau để làm việc nghĩa. Trên danh sách những nước đóng góp giúp đỡ nạn nhân tsunami, Nhật Bản và Mỹ đứng hàng đầu.
Điều đáng chú ý là Tổng Thống Bush đã mời được hai vị cựu Tổng Thống đứng đầu ban vận động gây quỹ cứu trợ cho nạn nhân Sóng Thần. Một người là chính phụ thân của ông, cựu TT George H.W. Bush và một người là cựu TT Bill Clinton. Hai nhân vật này vốn là cựu thù chính trị trong cuộc bầu cử năm 1992 và cho đến nay vẫn là những nhân vật hàng đầu của hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ. Sự xuất hiện của hai ông là tiêu biểu cho một sự đoàn kết của nước Mỹ, của chính giới cũng như trong dân chúng thuộc bất cứ khuynh hướng nào, trong một nghĩa cử quốc tế có nhiều ý nghĩa trọng đại. Đến tuần này, tổng kết viện trợ và cam kết viện trợ ghi nhận được 2.3 tỷ đô-la của 53 nước lớn nhỏ. Mỹ góp 350 triệu, Nhật Bản cam kết giúp 500 triệu. Nhưng sự cứu trợ sẽ cần nhiều tiền hơn nữa. Bởi vì sau sóng thần, sẽ còn một đợt sóng khác có thể khủng khiếp hơn. Đó là “sóng” dịch tễ tràn lan với những bệnh đã từng gây tai họa cho con người như bệnh sưng phổi, dịch tả và sốt rét. Trong lúc cấp thời, thực phẩm, nước uống và thuốc men không thể đưa kịp đến cả triệu nạn nhân còn sống sót sau tsunami và động đất, nên họ phải ăn uống rất thiếu vệ sinh trong những khu bùn lầy nước động. Hơn nữa số tử vong đã lên đến hơn 155,000 người và còn nữa, một phần đã được chôn cất sơ sài, nhưng chắc chắn vẫn có những tử thi phơi thây rữa nát ở những khu rừng hẻo lánh, chưa kể còn hàng ngàn người bị ghi là mất tích. Đây chính là những mầm mống của bệnh tật.


Nước có nhiều tử vong nhất là Indonesia với hơn 94,000 người, thứ nhì đến Sri Lanka với hơn 32,000 người. Nếu chỉ tính theo tỷ lệ nạn nhân, Indonesia đáng được hưởng viện trợ nhiều nhất. Indonesia cũng bị phá hoại nặng nhất vì Sóng Thần xuất phát từ một trận động đất ngầm dưới đáy biển, ở mỏm đầu đảo Sumatra, gần một đảo nhỏ có tên ít người biết là Aceh, những gần đây đã gây tin lớn vì những người Hồi giáo ly khai đã nổi loạn đòi lập một nước Hồi giáo nhỏ. Indonesia với 238 triệu dân là nước đông dân Hồi giáo nhất thế giới, hơn cả Saudi Arabia, nơi xuất phát đạo Hồi. Cựu TT Clinton nói việc Mỹ viện trợ cho Indonesia sẽ thúc đẩy người Hồi giáo ở Aceh nghĩ đến đoàn kết quốc gia thay vì ly khai, để tạo một thế ổn định cho Indonesia và cho cả vùng biển này. Phải chăng ông đã nghĩ đến ảnh hưởng chính trị của một nghĩa cử nhân đạo quốc tế"

Tôi nghĩ đến một ảnh hưởng khác bao quát hơn nữa. Sóng Thần xẩy ra giữa lúc những cuộc đánh bom tự sát của những phe Hồi giáo quá khích gia tăng ở Iraq làm rất nhiều người chết, nên đã có những liên tưởng và suy tư lẫn lộn trong dư luận. Indonesia có đông dân Hồi giáo (88%), vậy những nước gốc Hồi giáo Ả rập giầu tiền nhờ các mỏ dầu ở Trung Đông nghĩ như thế nào về việc cứu trợ" Những nước đi sau trên danh sách cấp viện lại là những nước Ả rập rất giầu ở vùng Vịnh, như Kuwait chỉ góp 10 triệu đô-la để giúp toàn vùng thiên tai, mặc dù số thặng dư ngân sách của Kuwait là 10 tỷ đô năm nay. Saudi Arabia cũng hứa giúp 10 triệu đô. Còn Qatar, nước rất nhỏ, giúp 25 triệu. Riêng việc giúp Indonesia cũng có thể làm nhiều nước Tây phương nghi ngại vì vụ đánh bom ở đảo Bali do quá khích Hồi giáo gây ra khiến hơn 300 người kể cả ngoại quốc chết. Trong 2 năm qua, 3 vụ đánh bom lớn đã xẩy ra ở Jakarta, cũng bị nghi là do Hồi giáo quá kích đánh. Hiện nay lính Mỹ tiếp tục chết ở Iraq vì các kẻ liên hệ al-Qaida nên người ta không khỏi liên tưởng đến hành động của Hồi giáo quá khích ở Indonesia. Ở nước này mới đây còn có hình ảnh bin Laden in trên áo lót bày bán công khai.

Nhiều nước Hồi giáo vẫn có ác cảm không nhiều thì ít với Mỹ. Tôi rất đồng ý với Ngoại trưởng Colin Powell khi ông nói cuộc viện trợ Indonesia sẽ làm thay đổi hình ảnh nước Mỹ dưới mắt những nước Hồi giáo. Hồi giáo quá khích khác với đạo Hồi, giữa lúc cuộc chiến chống khủng bố đang diễn ra gay go, “giận cá chém thớt” là điều sai lầm lớn. Thù hận không có ích gì cho việc xây dựng tương lai hòa bình thế giới. Lấy đức báo oán là cách tốt nhất để bẻ gẫy lợi khí của những kẻ cuồng tín đang reo rắc hận thù trong khối Hồi giáo để chống lại nước Mỹ.

(GHI CHÚ: Nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh sẽ ra mắt tuyển tập "Những Mùa Xuân Trở Lại" tại Phòng Sinh Hoạt Nhật Báo Người Việt, 14771 Moran St, Westminster, CA 92683. Từ 2 giờ chiều đến 6 giờ chiều ngày Chủ Nhật 8-7-2007.
Buổi ra mắt sách sẽ được bảo trợ bởi Hội Ái Hữu Viện Đại Học Vạn Hạnh Hải Ngoại, Nhật Báo Việt Báo, Nhật Báo Người Việt, Tạp Chí Thế Kỷ 21 và Radio Bolsa.
Với những diễn giả sau đây: Giáo Sư Tôn Thất Thiện (cựu tổng trưởng thông tin/VNCH), nhà báo Trần Dạ Từ (Việt Báo), nhà báo Đỗ Quý Toàn (Người Việt), nhà văn Phạm Phú Minh (Tạp Chí thế Kỷ 21), Đặng Trần Quý (cựu sinh viên Viện Đại Học Vạn Hạnh). M.C của chương trình: Minh Phượng (radio Bolsa). Vaò cửa tự do. Trân trọng kính mời độc giả tham dự.)

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.