Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Hợp Tác Để Tranh Đấu Cho Quyền Lợi CĐ

15/12/200600:00:00(Xem: 7815)

Hợp Tác Để Tranh Đấu Cho Quyền Lợi Cộng Đồng

(Bài 2)

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh và sinh viên UCLA.

Trong buổi họp của Hội Đồng Quản Trị Học Khu Garden Grove ngày 5/12 vừa rồi, LS Nguyễn Quốc Lân được bầu làm Chủ Tịch và LS Nguyễn Quang Trung được bầu làm Phó Chủ Tịch.  Tuy rằng các chức vụ này thường được luân phiên và không tăng thêm quyền hạn hơn là của các ủy viên khác trong hội đồng, người Chủ Tịch có trách nhiệm làm việc sát cánh với Tổng Giám Đốc Học Khu (Superintendent) để soạn đặt các mục tiêu trong chương trình nghị sự cho buổi họp mỗi hai tuần.

Hiện tượng có ba người Việt Nam chiếm đại đa số trong một hội đồng quản trị là một sự hi hữu chưa từng xảy ra ở nơi khác, do đó nếu chúng tôi không biết nắm lấy cơ hội này thì thật là một điều phí phạm và phụ lòng những cử tri đã ủng hộ chúng tôi vào chức vụ này.  Những sự suy tư này làm tôi quyết định đưa ra một số các vấn đề giáo dục vẫn là mối ưu tư của những người gốc Việt trong hệ thống giáo dục dòng chính mà chúng tôi mong hai vị Chủ Tịch và Phó Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Garden Grove cùng hợp tác để tiến hành và đạt được trong nhiệm kỳ còn lại từ đây cho đến kỳ bầu cử 2008.  

Vấn Đề thứ 2: ĐƯA GIÁO TRÌNH NGƯỜI VIỆT TỊ NẠN VÀO HỌC KHU GARDEN GROVE

Bạn sinh ở Việt Nam, nơi đã từng bom đạn triền miên

Hay ra đời dưới vòm trời Mỹ quốc"

Tất cả chúng ta, giờ đây nhập cuộc

Trong một môi trường đa chủng, liên bang.

Bạn rất thân, có bao giờ bạn thấy hoang mang:

Tôi người Việt, hay tôi là người Mỹ"

Bố mẹ ở nhà, thường ôn lại quá khứ kinh hoàng, ước mơ mộng mị

Đến trường, vào đời, chúng ta phải thực tế, tranh đua

Đời ngọt ngào, hay đời lắm cay chua"

Chua và ngọt, bọn chúng ta nếm đủ.

Đất nước này: tự do, dân chủ

Đất nước này: cơ hội thăng hoa.

Nhưng đất nước này: lai lịch bị xóa nhòa

Đất nước này: một "melting pot!"

Đất nước này: chua, cay, mặn, ngọt...

Tất cả... không thiếu một điều chi!

Và đất nước này có một nỗi hiểm nguy:

Nỗi hiểm nguy dễ quên nguồn gốc

Khiến chúng ta không nhớ mình vốn dòng Việt tộc

Có cha ông, tiên tổ hùng anh

Có trai hùng, nữ kiệt liệt oanh

Có chiều dài gần năm ngàn năm lịch sử!

Bạn thân yêu, có bao giờ bạn tự mình hỏi thử:

"Tại sao tôi có mặt ở nơi này"

Tại sao cha hay nhíu mắt, chau mày"

Tại sao mẹ hay thở dài, mắt buồn ngấn lệ"

Tại sao ông, bà hay thở than, kể lể

Những chuyện thật xa xưa"..."

Bạn biết không" Người Việt Nam can đảm có thừa

Cưỡi sóng biển Thái Bình, đi tìm tự do, dân chủ

Nhưng người Việt Nam trước bão dông, sóng dữ

Hiên ngang... mà vẫn có một trái tim

Trái tim mềm, đập thổn thức, không yên

Những nhịp đập của tình đồng hương, máu mủ

Đó là lý do cha chau mày, mẹ thở dài, ông bà kể lể

Thương dân mình quá đỗi đi thôi!

Bạn thân yêu, bạn có thấy bồi hồi

Khi cha kể lại những chiến công hiển hách

Của quân lực Việt Nam Cộng Hòa kiêu hùng khí phách

Tung hoành đập tan mưu chước quân thù

Cũng như khi mẹ buồn buồn nhắc lại những ngày đen tối âm u

Ngày cha và chiến hữu ngậm ngùi trong trại giam, tù "cải tạo""

Chưa bao giờ lịch sử Mỹ quốc này phản ảnh tâm tư người Việt Nam hải ngoại

Về cuộc chiến năm xưa

Sách vở trong nhà trường, trong thư viện, dư thừa

Toàn nhắc đến nhãn quan lệch lạc

Của người Mỹ chống chiến tranh và của những người khoác lác

Đang cầm quyền trên đất nước Việt Nam

Giáo trình nào nhắc hết nỗi gian nan

Của người Việt trên hành trình tìm tự do, nhân bản"

Sử liệu nào thực tâm phê phán

Những âm mưu đổi chác trong cuộc chiến Đông Dương"

Bài giảng nào lột được nỗi đau thương

Của những đợt người Việt di dân sang xứ Mỹ

Vậy mà đã vươn lên trong hơn một phần tư thế kỷ

Đóng góp, dựng xây cho đất nước này"

Bạn thân yêu, đó là lý do đến hôm nay

Mình quyết tâm tranh cử

Dù mình chỉ là người phụ nữ

Bé nhỏ, bình thường

Nhưng trong trái tim là dòng máu kiên cường

Của người Việt có cha ông bất khuất

Mình dấn thân, quyết tâm hoàn tất

Việc đưa giáo trình lịch sử Việt Nam

Vào học trình trong trường lớp - dù biết sẽ gian nan

Trước những thế lực tìm mọi đường chống đối

Lịch sử cuộc chiến Việt Nam là một phần lịch sử của toàn thế giới

Cần được nhìn chính xác, công bình

Lịch sử cộng đồng người Việt chúng mình

Cũng phải là lịch sử đất nước này, hiệp chủng.

Và khi đó các em chúng ta sẽ không lúng túng

Khi trả lời câu hỏi "Who am I""

Các em là người Mỹ, hướng đến tương lai

Trong khi có CON TIM VIỆT NAM chói sáng

Và khi đó mẹ, cha, ông, bà sẽ nở nụ cười ngời rạng

Không còn chau mày, ngấn lệ, kể lể, thở than

Vietnamese-American

Chúng ta và các em chúng ta sẽ sang trang

Pho sử mới người Hoa Kỳ gốc Việt

Cộng đồng chúng ta sẽ không còn thua thiệt

Cha ông chúng ta sẽ hãnh diện vì đám cháu con

Thấy chúng tiến lên mà vẫn giữ trái tim son.

GS KimOanh với sinh viên U.C.L.A Graduate Students, Undergradudate students.

Đoạn thơ trên trích từ những dòng tâm sự tôi gửi đến giới trẻ trong cuộc bầu cử vào Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Garden Grove năm 2004.  Nó phản ảnh tâm tư của tôi về tầm quan trọng trong việc giúp giới trẻ có cơ hội tìm hiểu, học hỏi về nguồn gốc người Việt tị nạn.  Đối với cá nhân tôi, một người làm việc trong hệ thống giáo dục và tiếp xúc thường xuyên với các em học sinh và sinh viên, vấn đề này có tầm mức ảnh hưởng cộng đồng người Việt hải ngoại rất sâu rộng.  Việc vinh danh Cờ Vàng có tác dụng mạnh mẽ trên tâm lý người Việt tị nạn vì sự liên hệ tinh thần (emotional connection) và các biến cố lịch sữ (historical events) của chúng ta đã trải qua với đất nước Việt Nam Cộng Hòa. Đối với con em chúng ta thuộc thế hệ sau, sinh ra và lớn lên tại Việt Nam hay tại Hoa Kỳ sau 1975, phần lịch sử và liên hệ tinh thần này không phải là một phần kinh nghiệm sẵn có của các em. 

Việc giúp các em có cơ hội học hỏi về nguồn gốc Người Việt Tị Nạn bắt đầu ở cấp bậc trung học rất quan trọng vì trong giáo trình học sử, học sinh lớp 8 học về lịch sử Hoa Kỳ và lớp 10 về lịch sử thế giới.  Trong cả hai giáo trình cấp 8 và 10, một số tài liệu sử dùng giảng dạy cho học sinh có nói đến cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á, sự tham gia của quân đội Mỹ, và những diễn tiến sau cuộc chiến.

Phần sử liệu này nằm trong phần nói về Chiến Tranh Lạnh – the Cold War - xảy ra sau Đệ Nhị Thế Chiến và các thuyết nói về vai trò Hoa Kỳ trong việc chặn đứng sự bành trướng chế độ cộng sãn trên thế giới để trở thành đồng minh quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Nếu tham khảo các tài liệu này một cách khách quan, chúng ta sẽ thấy quan điểm của các sử liệu này khác hẳn hoặc có phần đối chọi (contradictory) với quan điểm và kinh nghiệm của người Việt Tị Nạn nói riêng và người tị nạn Đông Nam Á, bao gồm Việt, Miên, và Lào nói chung.

Chính vì sự đối chọi này mà một số các học sinh trung học Đông Nam Á đã gặp khó khăn trong vấn đề xáo trộn nội tâm.  Trong khoảng thời gian ba năm (1998- 2001) số học sinh Đông Nam Á tại học khu Fresno Unified đã có mức tự tử cao gấp ba lần các nhóm học sinh khác.  Điều này khiến một số nhân viên trong ngành giáo dục, xã hội, và tâm lý trị liệu đã ngồi lại với các vị lãnh đạo cộng đồng Đông Nam Á, phụ huynh, và giới trẻ để tìm hiểu và giải quyết vấn đề. 

Một trong những nguyên nhân chính mà xác định được là sự lạc lõng của một số học sinh trung học trong tiến trình trưởng thành của các em (identity formation).  Các em không biết gì về nguồn gốc gia đình, chủng tộc và quê hương.  Trong gia đình thì các em bị buộc phải theo một số những quy luật và ràng buộc văn hóa mà không được giải thích tường tận.  Tại trường học thì các em không được chúng bạn hoàn toàn chấp nhận vì sự khác biệt màu da và mạo diện.  Trong giáo trình học thì các em không tìm thấy một chỗ đứng, một sự liên kết, thông cảm và chấp nhận mặc dầu các em sinh ra tại đây và đã hoàn toàn hội nhập vào dòng chính.  Những yếu tố này cộng vào những xáo trộn lứa tuổi thanh thiếu niên thường phải trải qua dễ làm cho các em mất thăng bằng trong cuộc sống.

Kết quả cuộc của nghiên cứu được đúc kết và một số đề nghị được đề xướng lên giới chính quyền địa phương.  Theo đó, chính quyền địa phương đã làm việc với chính quyền tiểu bang và một dự luật được thông qua để cải tiến tình hình.  Dự luật AB 78 (có dân biểu Lou Correa đồng tác giả) do cựu thống đốc Gray Davis ký nhận vào tháng 7 năm 2003 có những lời lẽ “khuyến khích” học đường thực hiện những điều sau đây:

• Nên có phần dạy về Chiến Tranh Việt Nam và những chiến tranh bí mật (“secret wars”) tại Lào trong giáo trình sử lớp 7- 12.

• Phải có sự tìm hiểu và học hỏi về vai trò, quan điểm và kinh nghiệm của những người tị nạn Đông Nam Á trong cuộc chiến và sau khi cuộc chiến chấm dứt cũng như về tiến trình tị nạn của các nhóm người này.

• Nên xử dụng các lời khai của nhân chứng qua các cuộc phỏng vấn hoặc thâu phim, ảnh để làm tài liệu giảng dạy.

Lý do họ dùng chữ “khuyến khích” (encourage) là vì dự luật này không quy định ngân quỹ phụ trội trang trải cho việc soạn thảo giáo trình và kiểm soát áp dụng.  Mọi chuyện tùy thuộc vào cấp học khu.  (Quý vị có thể đọc nguyên văn dự luật này ở phần cuối.)

Cũng trong thời gian ấy, cơ quan OCAPICA (Orange County Asian Pacific Islander Community Alliances) vừa hoàn thành giáo trình Người Việt Tị Nạn, ấn bản đầu tiên.  Cơ quan Nghiên Cứu về Giáo Dục Học Sinh thuộc các Ngôn Ngữ Thiểu Số tại CSU Long Beach đứng ra bảo trợ việc soạn thảo giáo trình cho các cộng đồng Đông Nam Á người Mỹ gốc Cambode, Lào, và Hmong.  Chúng tôi cũng hổ trợ việc hiệu đính giáo trình Người Việt Tị Nạn của OCAPICA để theo đúng tiêu chuẩn của bộ giáo dục tiểu bang. 

Hiện tại, giáo trình này đã được bộ giáo dục tiểu bang chính thức đưa vào tài liệu giáo dục phụ trội (supplementary instructional materials) mà các học khu có quyền xử dụng ngân quỹ giáo dục để mua cho trường lớp.  Giáo trình này giúp cho các giáo chức người Hoa Kỳ và học sinh có một khái niệm tổng quát về lịch sử Việt Nam và các biến cố dẫn đến việc lũ lượt thoát ly (exodus) của người Việt tị nạn.  Giáo trình khuyến khích giáo chức ra những bài tập mà đòi hỏi học sinh phải nói chuyện, phỏng vấn, và trao đổi với các “nhân vật lịch sử sống” (living historical witness) trong cộng đồng.  Điều này sẽ tạo cơ hội tốt cho các em nói chuyện với cha mẹ, ông bà, họ hàng và những nạn nhân của chiến tranh Việt Nam.

Giáo Trình Người Việt Tị Nạn của OCAPICA cũng đã được cơ quan Tolerance, một cơ quan bất vụ lợi có mục đích tạo sự thông cảm và tương kính giữa các sắc dân trong xã hội Hoa Kỳ đăng trên trang nhà internet của họ (www.tolerance.org) để được phổ biến rộng rãi hơn.  Ngoài các học khu thuộc các thành phố có đông học sinh Á Đông theo học, một số các trường trung học lớn của Hoa Kỳ để ý đến vấn đề giao tương thế giới (global issues) cũng dùng giáo trình này trong các lớp của họ.

Trong học khu Garden Grove, hai giáo viên gốc Việt đang phụ trách chương trình Việt ngữ tại trường trung học La Quinta và Bolsa Grande có dùng tài liệu này.  Một giáo viên da trắng dạy tại Pacifica, một trường rất ít học sinh gốc Việt cũng đã dùng tài liệu này trong nhiều năm qua trong phần dạy sử Hoa Kỳ và đã có những buổi thảo luận hào hứng và những bài văn sâu sắc. Theo lời chia sẻ của giáo viên này, học sinh càng hiểu về sự đa dạng của cộng đồng, càng có khả năng thông cảm và tương kính những người khác màu da và sắc tộc.  Tuy nhiên đa số các giáo chức khác trong học khu hầu như không biết đến giáo trình này hoặc có nghe đến nhưng không quan tâm. 

Mỗi cuối hè trước khi bắt đầu niên khóa mới, học khu GGUSD có một số các workshops để giáo chức trau dồi kiến thức và bồi dưỡng khả năng sư phạm.  Theo sự khuyến khích của chúng tôi, học khu đã ghi vào chương trình một khóa huấn luyện cách dùng giáo trình Người Việt Tị Nạn trong hai năm vừa qua.  Tuy nhiên kết quả vẫn không khả quan và số giáo chức ghi danh rất ít vì tầm quan trọng của giáo trình chưa được ban điều hành và ban quản trị học khu đánh giá đúng mức.

Song song với việc đẩy mạnh giáo trình Người Việt Tị Nạn, chúng tôi cũng ủng hộ giáo trình nói về lịch sử tranh đấu của người gốc Latino cho sự công bằng trong hệ thống giáo dục dòng chính.  Giáo trình Mendez v. Westminster Board of Education bao gồm một cuốn phim tài liệu soạn thảo rất công phu bởi một phụ nữ trong Quận Cam, đoạt được nhiều giải thưởng giá trị trong ngành phim ảnh và giáo dục.  Giáo trình này giúp cho tất cả học sinh và sinh viên hiểu rõ thêm và quý trọng hơn sự đóng góp của các sắc dân gốc Latino, Do Thái, Nhật, Phi Châu trong vấn đề tranh đấu cho công bằng xã hội và giáo dục. Giáo trình này hiện đang được dùng trong một số trường trung học tại Anaheim, Fullerton, Orange, Los Angeles, San Diego và là tại liệu dùng trong các chương trình sư phạm tại đại học Chapman, CSU Fullerton, UC Irvine va CSU Long Beach.  Tuy nhiên, tại hai học khu Westminster và Garden Grove, hai học khu bị nêu tên ra trong cuốn phim thời sự Mendez là có chính sách kì thị chủng tộc nặng nhất vào thời ấy, giáo trình này hoàn toàn không được chú trọng.

Ngoài hai môn Anh Văn và Toán là hai môn đang được mọi giới trong giáo dục chú ý và đẩy mạnh để nâng cao điểm thi, chúng tôi tin là môn sử không kém phần quan trọng.  Sử học giúp học sinh biết suy nghĩ chính chắn, biết dùng các dữ kiện để phát triển khả năng phân tích và tổng hợp để có một sự suy nghĩ độc lập, không bị lệ thuộc vào những định kiến hoặc truyền bá. Các giáo trình nói về lịch sử và tiến trình hình thành các cộng đồng thiểu số trong xã hội Hoa Kỳ phải là một phần của giáo trình sử cho tất cả các khối học sinh.  Mặc dầu tiêu chuẩn giáo trình dạy sử của tiểu bang không những cho phép mà còn khuyến khích điều này, mỗi học khu được quyền quyết định trên việc áp dụng.

Trong kỳ họp tại San Francisco của hội CSBA vừa qua, tôi được biết các học khu vùng San Francisco, Oakland, và San Jose, nơi có đông học sinh từ các cộng đồng gốc Á Châu, đặc biệt là Trung Hoa, đang đẩy mạnh giáo trình về Angel Island. Đối với người Mỹ gốc Âu Châu, Ellis Island, nơi có tượng Nữ Thần Tự Do,  có tầm mức lịch sử rất quan trọng vì đó là nơi ông bà, dòng dõi của họ đặt chân đến đầu tiên và trải qua các thủ tục nhập tịch tại đó. Đối với người Mỹ gốc Á Châu, Angel Island thuộc vịnh San Francisco miền bắc California cũng có tầm mức quan trọng như thế vì ông bà, cha mẹ của họ đã bắt đầu cuộc sống di dân xuất xứ từ địa điểm ấy.  Họ đã gây quỹ lập ra một bảo tàng viện ghi lại di tích của các nhóm di dân đa số từ Á Châu, và một số khác từ  Úc Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh đã từng đi qua đó. Họ cũng vừa hoàn tất một giáo trình về Angel Island và đang vận động để được đưa vào các trường lớp dòng chính.  Một người ủy viên giáo dục gốc Trung Hoa phát biểu trong buổi họp,

 “Bố tôi lúc ấy là một nhân công làm đường rầy xe lửa tại Sacramento.  Ông tốn rất nhiều năm dành dụm để mua vé tàu thủy cho mẹ tôi sang. Mẹ tôi đã đặt chân đến đó nhưng bị giữ lại hai năm vì lúc khám bệnh bà đang bị cảm lạnh.  Họ sợ bà bị ho lao nên bắt ở lại đó cho họ theo dõi.  Vì thiếu người xúc tiến hồ sơ và vì không biết tiếng Anh nên bà bị bỏ quên gần hai năm mới được cho ra. Khi bố tôi đón bà về, bà chỉ còn da bọc xương. Mỗi lần nghĩ đến chuyện này tôi rất đau lòng. Tuy nhiên đối với các con tôi, đã qua hai thế hệ, chúng không hề màng đến chuyện này.  Tôi nghĩ khi có dịp học hỏi và đi fieldtrip với trường đến đó, chúng sẽ cảm được phần nào và ý thức được sự hy sinh của các thế hệ đi trước. Có như vậy, chúng mới biết quý trọng những gì đang có và không lãng phí tương lai.”

Chúng ta vẫn hay nghe thành ngữ “Một con én không làm nên mùa Xuân.”  Đúng như vậy! Bản thân tôi dầu có cố gắng hết sức cũng không thể đạt được mục tiêu giúp cho học sinh có cơ hội học hỏi thêm, tìm hiểu thêm về nguồn gốc, gia đình và các giá trị văn hóa lịch sử của cộng đồng, nếu không có sự hậu thuẫn của hai Chủ Tịch và Phó Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Nguyễn Quốc Lân và Nguyễn Quang Trung.  Cơ hội học hỏi này không chỉ dành riêng cho học sinh một nhóm nào hết mà cho tất cả khối học sinh trong trường.  Điểm lợi hơn nữa là để đạt được điều này, chính các giáo viên trong học khu cần phát triển kiến thức và học hỏi về các vấn đề này.  Tôi tin là sự học hỏi sẽ đem đến sự thông cảm và tương kính cao hơn giữa các giáo chức với học sinh và gia đình thiểu số. Tôi mong là với tinh thần hợp tác và làm việc sát cánh với ban điều hành học khu, chúng tôi có thể đạt được kết quả tốt hơn và hoàn tất trọng trách cử tri gốc Việt giao phó.

(Phần 3:  Tạo Cơ Hội cho Học Sinh Đạt Được Sự Thành Công Khi Lên Cấp Đại Học).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Từ Văn phòng Viện Tăng Thống, tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trong phận sự bảo trì ấn tín của Viện Tăng Thống, kế thừa tâm nguyện của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống qua phú chúc di ngôn của Ngài trước ngày thị tịch; chúng tôi trên nương tựa uy đức Tăng già và đạo lực gia trì của Chư tôn Trưởng lão, kính gởi đến Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng tọa, Đại đức Tăng-già nhị bộ, cùng tất cả bốn chúng đệ tử, tâm nguyện Bồ-đề được thể hiện qua các kỳ họp đã nêu, ước mong tất cả bằng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, bằng đức lực, trí lực, và tài lực, với hằng tâm và hằng sản, đồng tâm nhất trí góp phần công đức vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh mà Chư Thánh Đệ tử, Lịch đại Tổ sư, bằng hùng lực và trí tuệ, bằng từ bi và nhẫn nhục, khoan dung, trải qua vô vàn gian nan chướng duyên trở ngại, đã mang ngọn đèn chánh pháp đến những nơi tăm tối, cho những ai có mắt để thấy, dựng dậy những gì đã sụp đổ, dựng đứng những gì đang nghiêng ngả.
Ngày Phật đản sanh là ngày vui, ngày thiêng liêng và trọng đại của nhân loại. Dù là với truyền thống nào, tông môn pháp phái nào, dù ở quốc độ nào… Người con Phật cũng đều hoan hỷ và thanh tịnh thân tâm để tưởng niệm đức Phật.
Thì tôi cũng nói cho hết lẽ như thế. Chớ bao nhiêu lương dân ở Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Lộc Hưng… đang sống yên lành mà Đảng & Nhà Nước còn có thể nhẫn tâm biến họ thành những đám dân oan (vật vã khắp nơi) thì cái chính phủ hiện hành có xá chi đến những khúc ruột thừa ở Cambodia.
Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.