Hôm nay,  

Luận Về Trung Lập Pháp Lý

27/10/200600:00:00(Xem: 9292)

Luận Về Trung Lập Pháp Lý

Hai chữ ‘’Trung Lập’’ quả thật đã gây ra nhiều vấn đề vì nội dung của nó khá mông lung, nhất là đối với những người chưa nắm vững các ý niệm về Trung Lập trong Quốc tế Công pháp. Theo tự nguyên thì Trung Lập có nghĩa là đứng ở giữa, tức là không thiên về bên nào. Giản dị là như vậy. Nhưng trên thực tế nó không giản dị như vậy, vì nó bao gồm một ý nghĩa rộng lớn từ một thái độ đứng giữa cho đến một qui chế đứng giữa của một quốc gia.

I/- Ba khái niệm liên hệ đến chữ Trung Lập.

Có ba khái niệm liên hệ đến chữ Trung Lập mà chúng ta cần phân biệt là: Trung lập sách, Trung lập chế, và Trung lập hóa.

A/- Trung lập sách (Neutralism): Đây là chánh sách trung lập, cũng gọi là chánh sách phi liên kết. Ở đây hai chữ cần nhấn mạnh là Chánh Sách. Vì là chánh sách nên có thể thay đổi bất cứ lúc nào theo ý của nhà cầm quyền đương nhiệm, hoặc có thể thay đổi cùng với sự thay đổi chánh quyền, như chúng ta thường nghe nói chánh sách đối ngoại của Tổng Thống Nixon hoặc chánh sách đối ngoại của Tổng Thống Clinton,v.v.. Như vậy chánh sách Trung Lập chỉ nhằm nói lên một chánh sách giai đoạn của một chánh quyền chứ không phải là một qui chế vĩnh cửu của quốc gia.

B/- Trung Lập Chế (Neutrality): đó là qui chế trung lập pháp lý vì nói đến qui chế tức là nói đến một nền tảng pháp lý mà trong đó đương sự có những quyền lợi và cũng có những nghĩa vụ nữa. Một quốc gia đã theo qui chế trung lập pháp lý thì chánh quyền không thể dễ dàng thay đổi qui chế của quốc gia như là thay đổi chánh sách. Qui chế Trung lập pháp lý có thể được thiết lập trong hai trường hợp:

1/- Do quốc gia tự tuyên bố và đòi hỏi các quốc gia trong cộng đồng quốc tế công nhận, như trường hợp của nước Áo năm 1955. Sự tuyên bố và công nhận đó tạo thành một qui chế trung lập pháp lý vĩnh viễn (hay thường trực) của quốc gia. Đây là trường hợp mà GS. Nguyễn Ngọc Huy rất mong muốn cho nước Việt Nam.

2/- Các quốc gia trong Cộng đồng quốc tế (thường là do siêu cường chi phối) quyết định một quốc gia nào đó hoặc một vùng lãnh thổ nào đó đặt dưới qui chế Trung lập pháp lý mà quốc gia đương sự phải chấp nhận. Thí dụ như qui chế trung lập pháp lý của nước Lào theo Hiệp định Geneve năm 1962.

C/- Trung Lập Hóa (Neutralize): đây là tiến trình đưa một quốc gia hay một vùng lãnh thổ vào qui chế Trung lập pháp lý (tất nhiên phải có sự công nhận và bảo đảm của cộng đồng quốc tế).

II/- Nội dung của Qui chế Trung lập Pháp lý.

 Nội dung này bao gồm một số quyền lợi và một số nghĩa vụ. GS. Nguyễn Ngọc Huy đã viết về nội dung đó như sau:

‘’Cũng như các qui tắc khác thuộc quốc tế công pháp, các qui tắc dính dáng đến qui chế trung lập pháp lý không phải minh xác và có tính cách cưỡng chế tuyệt đối như các luật lệ nội bộ của một quốc gia. Bởi đó, trong sự áp dụng qui chế trung lập pháp lý, các quốc gia có thể có những lề lối giải thích khác nhau và phạm vi nghĩa vụ và quyền lợi của quốc gia theo qui chế trung lập pháp lý vì đó mà hoàn toàn không phải minh bạch. Tuy nhiên, vẫn có những điểm chánh yếu mà mọi quốc gia đều phải công nhận trên lý thuyết cũng như trên thực tế. Nói chung lại thì các nghĩa vụ và quyền lợi của một quốc gia theo qui chế trung lập pháp lý có thể gom về hai lãnh vực quân sự và kinh tế. Về mặt quân sự, các quốc gia đã có một lập trường như nhau nên phạm vi nghĩa vụ và quyền lợi của quốc gia theo qui chế trung lập pháp lý rất rõ ràng. Nhưng về mặt kinh tế, các quốc gia đã có những lối giải thích rộng hẹp khác nhau về một số nguyên tắc nên phạm vi nghĩa vụ và quyền lợi của quốc gia theo qui chế trung lập pháp lý vẫn còn có những chỗ mù mờ dọn đường cho những sự tranh chấp.’’ 1

Từ nhận định về nội dung đó, GS. Huy đã nói một cách cụ thể hơn cho nước Việt Nam như sau:

‘’LMDCVN chủ trương theo qui chế Trung Lập Pháp Lý như Thụy sĩ, Thuỵ Điển hay Áo. Chủ trương này khác với chủ trưong theo Chánh sách Trung Lập cũng được gọi là Chánh sách phi liên kết. Trong thực tế, các nước tự xưng là theo chánh sách trung lập hay phi liên kết phần lớn đã theo hẳn siêu cường này để chọi siêu cường kia. Trong khi đó, qui chế trung lập pháp lý mà Liên Minh chủ trương là một qui chế được quốc tế nhìn nhận. Quốc gia theo qui chế này không liên minh quân sự với bất cứ nước nào khác, không để cho bất cứ nước nào khác dùng lãnh thổ mình để tấn công nước thứ ba, và đứng ngoài các cuộc tranh chấp võ trang giữa các nước khác. Chủ trương trung lập theo qui chế pháp lý quốc tế phù hợp với chủ trương hòa bình. Nó không ngăn cản dân tộc Việt Nam tự võ trang để tự vệ, chỉ đòi hỏi dân tộc Việt Nam khước từ dùng võ lực để xâm lấn nước khác hay tham dự các cuộc tranh chấp võ trang giữa các nước khác.’’ 2

III/- Lợi ích của qui chế trung lập pháp lý đối với Việt Nam.

Có những lợi ích sau:

1/- Vị trí nước Việt Nam nằm tại ngả tư quốc tế Đông Nam Á, qui chế trung lập pháp lý sẽ tạo một địa bàn mở ngỏ và ổn cố cho các nước đến Việt Nam giao dịch trên mọi phương diện, tạo cơ hội cho nước VN phát triển về mọi mặt trong tương quan đa phương, đa quốc, đa diện, đa sắc, để hình thành một địa vị lý tưởng cho một quốc gia lý tưởng.

2/- Tránh đưa Việt nam vào vị trí tiền đồn chiến tranh trong tương lai (một kinh nghiệm đã quá đau thương trong quá khứ). Ngày nay, mặc dù chiến tranh lạnh giữa Tư Bản và Cộng Sản không còn nữa, nhưng những chiến tranh khác trong tương lai giữa các siêu cường Á Châu với nhau hoặc giữa các siêu cường Á Châu và siêu cường Tây phương có thể xảy ra.

IV/- Sự áp dụng qui chế trung lập pháp lý vào thực tế.

Trên thực tế, một số quốc gia tuyên bố theo chánh sách trung lập, nhưng thật sự họ đã không giữ thái độ trung lập mà họ đã thiên bên này hoặc thiên bên kia, hậu quả là họ không còn giữ được uy tín trung lập (như Ai Cập, Nam Dương, Nam Tư). Một vài quốc gia khác từ chủ trương Trung lập sách họ muốn tiến tới qui chế Trung lập pháp lý cho quốc gia họ như nước Miên hồi thời Ông Sihanouk còn làm Quốc Trưởng thời trước 1970. Ông Sihanouk đã từng lớn tiếng kêu gọi thế giới phải công nhận và tôn trọng nền Trung lập của nước Miên. Nhưng chính ông đã phản bội nền trung lập đó khi ông chứa chấp Bộ Đội Cộng sản Bắc Việt và MTGPMN lập căn cứ trên đất Miên để chống VNCH, và hậu quả là nước Miên bị sa vào cuộc chiến từ lân bang đưa đến. Nếu ngày xưa, ông Sihanouk thi hành đúng qui chế trung lập pháp lý mà ông đòi hỏi thì  nước Miên đã khác, đã thành một nước huy hoàng, phát triển, hòa bình và thịnh vượng. Việt Nam ta nên học bài học Trung lập pháp lý của ông.

Đối với nước Việt nam ngày nay, sự áp dụng qui chế trung lập pháp lý không phải dễ mà cũng không phải khó.

a)- Các hoàn cảnh trở lực cho sự thực hiện này là:

1/- Đảng CSVN vẫn còn đầu óc lệ thuộc (hết thuộc Nga lại thuộc Tàu, rồi đây sẽ thuộc Mỹ).

2/- Một số người Việt Nam kể cả người Việt quốc gia ở hải ngoại chưa ý thức được tương lai phát triển chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa,.. . của đất nước phải theo phương hướng nào: phương hướng địa lý chính trị tự lập hay phương hướng lệ thuộc Khối. Phương hướng lệ thuộc Khối vẫn còn mạnh mẽ trong tâm lý người Việt. Phương hướng này sẽ biến Việt Nam thành tiền đồn của Khối này để chống lại Khối nọ về đối ngoại. Còn về đối nội, người VN sẽ tiếp tục bị phân hóa trong tiến trình kết Khối để chống nhau đó. Đây là bài học lịch sử quá đau thương mà người Việt Nam cần phải suy nghĩ.

3/- Các siêu cường đang tranh giành Việt Nam (do sự cầu cạnh và hiến mình của CSVN) sẽ không muốn Việt Nam thành Trung lập pháp lý và thoát khỏi tay mình.

b)- Các hoàn cảnh thuận lợi là:

1/- Sau khi CS Liên Xô và Khối Đông Âu sụp đổ, đây là cơ hội để Việt Nam thoát khỏi quỹ đạo kềm kẹp của hệ thống Cộng Sản quốc tế, để tự mình chọn lấy một qui chế địa lý chính trị tự lập cho quốc gia mình và tránh xa tranh chấp của các siêu cường.

2/-Nếu chánh quyền Việt Nam chấp nhận thiết lập qui chế trung lập pháp lý cho quốc gia sẽ được hậu thuẫn của mọi người VN và của quốc tế, đó là cơ hội và cũng là môi trường để thực hiện đại đoàn kết quốc gia, thống nhất dân tộc Việt Nam hiện ở rải rác khắp nơi trên thế giới và đang thuộc nhiều khuynh hướng chính trị, tạo được sức mạnh Phù Đổng của dân tộc để tái thiết đất nước, củng cố thêm vị trí trung lập của mình tại ngả tư Đông Nam Á Châu. (Điều này đòi hỏi CSVN phải đặt quyền lợi đất nước và dân tộc lên trên quyền lợi đảng và quyền lợi bản thân).

3/- Thời cơ thuận lợi nhất là lúc Liên Xô sụp đổ, Trung Quốc và Việt nam còn chống nhau và Việt nam muốn mở cửa giao thiệp với Tây Phương và nhất là còn đang tìm cách xin thiết lập bang giao với Hoa Kỳ (tức là từ 1990 đến 1993). Tuy vậy, thời điểm hiện nay cũng chưa phải là muộn.

4/- Hiện nay, Hoa Kỳ và Trung Quốc đều không muốn đụng độ trực tiếp với nhau, nhưng cả hai đều không muốn mất quyền lợi kinh tế ở Việt Nam.  Nếu Việt Nam biết khai thác hoàn cảnh này để trước một Hội Nghị quốc tế nào đó (như Hội Nghị APEC chẳng hạn) đưa ra chủ trương nước Việt Nam trung lập pháp lý và kêu gọi quốc tế thừa nhận để bảo đảm quyền lợi chung cho tất cả các nước trong tương quan đa quốc.  Đây là một triển vọng, nếu Việt Nam biết nắm lấy.

*  Một câu hỏi đặt ra là:  Nếu Việt Nam không liên kết với Khối Tây Phương nhất là Hoa kỳ thì làm sao Việt Nam có đủ sức chống lại sự xâm lăng của Trung Quốc "

Ai cũng biết rằng Trung Quốc là kẻ mạnh, còn Việt Nam là kẻ yếu nên lúc nào cũng lo sợ kẻ mạnh lấn hiếp. Nhưng nếu đi nhờ Hoa Kỳ (hay nước nào khác) để chống lại Trung Quốc thì coi chừng bị hỏng giò như trường hợp VNCH trước đây.  Câu hỏi là Hoa Kỳ có thực sự muốn đụng độ trực tiếp với Trung Quốc để bảo vệ Việt Nam không"  Câu trả lời có lẽ không khó.

Muốn chống xâm lăng trước hết phải trông cậy ở sức mình, sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế, và sức mạnh chính trị. Muốn có sức mạnh Phù Đổng này cần phải có Chính trị dân chủ và kinh tế tự do để phát triển đất nước và đoàn kết nhân dân. Còn trông cậy Hoa Kỳ (hay nước nào khác) đánh giặc thế cho ta để bảo vệ đất nước ta và sự tự do của ta, đó là một bài học đẫm máu, nước mắt và tù đày mà người Việt Nam đã học trong những thập niên qua. Thử hỏi có bao giờ Hoa Kỳ mang quân đi đánh Trung Quốc để đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam không " Người sáng suốt tất nhìn thấy sự liên minh quân sự chỉ có lợi cho nước lớn mà không có lợi cho nước nhỏ. Nước nhỏ có thể bị bỏ rơi hoặc bị bán đứng vì sự nhượng bộ quyền lợi giữa những nước lớn.

Muốn bảo vệ lãnh thổ hữu hiệu phải lo cho quốc phú dân cường, và đoàn kết được toàn dân dưới lá cờ chánh nghĩa của Quốc gia lý tưởng mà mọi người dân đều mong muốn để phụng sự, chứ không có nước nào muốn liều chết để bảo vệ lãnh thổ cho chúng ta cả. Đó là một chân lý lịch sử.

Thời nhà Trần, thời nhà Lê, và thời Tây Sơn, đâu có cường quốc nào hậu thuẫn chúng ta, thế mà nhờ đoàn kết được toàn dân, tổ tiên chúng ta vẫn chống được kẻ xâm lược.

Nói tóm lại, muốn bảo vệ được đất nước, cần phải phát triển đất nước về mọi mặt: kinh tế, quân sự, ngoại giao, và lãnh đạo được lòng dân. Muốn được như vậy phải có tự do dân chủ là bước đầu tiên; không có bước đầu tiên tốt đẹp này, tương lai đất nước sẽ mịt mờ trước nạn ngoại xâm, và liên minh quân sự sẽ dẫn đến một cái tròng nô lệ khác.

Dương Thái Sơn

GHI CHÚ:

1  Nguyễn Ngọc Huy, Sách Tài Liệu Huấn Luyện LMDCVN, Tổng Bộ Tuyên Huấn ấn hành, Hoa Kỳ, 1990, trang 494.

2  Sách đã dẫn, trang 550.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.