Hôm nay,  

Tướng Phạm V. Phú, Từ Tiểu Đ0àn 5 Dù Đến Q.đ. 2

10/06/200000:00:00(Xem: 7548)
Cách đây hơn một năm, trong loạt bài viết về 5 tướng lãnh QL.VNCH đã tự sát khi miền Nam bị bức tử trong biến cố 30-4-1975, chúng tôi có ghi lại những giờ phút cuối cùng của thiếu tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh cuối cùng của Quân đoàn 2 & Quân khu 2. Nhân kỷ niệm lần thứ 35 ngày Quân Lực 19-6, và thể theo lời yêu cầu của một số đông bạn đọc đã từng phục vụ tại Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù, Sư đoàn 1 Bộ Binh, các đơn vị thuộc Quân đoàn 2, trong số báo kỳ này, VB xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết cuộc đời binh nghiệp và những chiến trận mà thiếu tướng Phạm Văn Phú đã tham dự từ khi còn là sĩ quan đại đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù đến khi ông trở thành Tư lệnh Quân đoàn 2. Phần này được biên soạn dựa theo tài liệu của Khối Quân sử Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu QL.VNCH, các bài viết của cựu thiếu tá Phạm Huấn, nguyên sĩ quan báo chí của Tư lệnh Quân đoàn, một số bài viết về Điện Biên Phủ của hai cựu sĩ quan Pháp Pierre Langlais và Jules Roy (nhà biên khảo Nguyễn Đông Thành chuyển dịch sang Việt ngữ), và tài liệu riêng của VB.

* Trung úy Phạm Văn Phú, những ngày chiến đấu tại phòng tuyến Điện Biên Phủ
Thiếu tướng Phạm Văn Phú sinh năm 1929 tại Hà Đông, Bắc Việt. Sau khi tốt nghiệp học khóa 8 trường Võ bị Liên quân Đà Lạt vào giữa năm 1953, ông đã tình nguyện phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù. Khi trận chiến Điện Biên Phủ bùng nổ vào ngày 13 tháng 3/1954, lực lượng Nhảy Dù của Quân đội Quốc gia Việt Nam tại chiến trường miền Bắc có 3 tiểu đoàn: 3,5 và 7 Nhảy Dù. Do chưa đủ sĩ quan người Việt nắm giữ các chức vụ chỉ huy trọng yếu, nên một số sĩ quan Pháp được biệt phái sang chỉ huy các tiểu đoàn Nhảy Dù Việt Nam.

Để tăng viện cho phòng tuyến Điện Biên Phủ, đại tướng Navarre, tổng tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương, quyết định cho thành lập một liên đoàn Nhảy Dù gồm 3 tiểu đoàn: tiểu đoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam, hai tiểu đoàn của Pháp là tiểu đoàn 2/1 Kỵ binh Nhảy Dù và tiểu đoàn 6 Nhảy Dù. Trong thành phần tiểu đoàn 5 Nhảy Dù, chỉ có trung úy Phạm Văn Phú là sĩ quan người Việt duy nhất chỉ huy một đại đội và cũng là đại đội trưởng độc nhất của tiểu đoàn mang cấp trung úy, 2 đại đội trưởng khác là các đại úy Armandi, Rouault, 1 đại đội còn do đại phó xử lý thường vụ.

Ngày 14 tháng 3/1954, trong tình hình chiến trường Điện Biên Phủ vô cùng sôi động, trung úy Phạm Văn Phú chỉ huy đại đội 1 của Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù, nhảy xuống Natasha, một vị trí sát phi đạo chính. Sau hơn một hơn tháng liên tục giao tranh với Việt Minh, ngày 16 tháng 4/1954, trung úy Phạm Văn Phú đã chỉ huy một thành phần của Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù cùng với các đơn vị bạn phản công tái chiếm một cứ điểm trọng yếu. Sau trận phản công này, ông được thăng cấp đại úy tại mặt trận khi vừa đúng 25 tuổi, và đến ngày 26 tháng 4/1954, được cử giữ chức tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù.

* Các trận cuối cùng của đại úy Phạm Văn Phú và Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù tại phòng tuyến Điện Biên Phủ
Từ 26 tháng 4 đến 6 tháng 5/1954 , địch quân mở những trận tấn công dữ dội vào phòng tuyến Điện Biên Phủ, tiểu đoàn 5 Nhảy Dù và đại úy Phú kịch chiến với địch quân trên từng địa đạo.
Ông Jules Roy, một sĩ quan cao cấp của Pháp tham chiến tại mặt trận Điện Biên Phủ, đã ghi lại trong cuốn “Trận chiến Điện Biên Phủ” (xuất bản ở Paris cuối 1963) về tiểu đoàn 5 Nhảy Dù vào những giờ cuối cùng như sau: Xế chiều ngày 6 tháng 5, địch quân pháo kích kịch liệt cứ điểm Éliane 4. Áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, đến 18 giờ 30 địch quân mới tiến lên, lực lượng chủ công là trung đoàn 98. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù chỉ còn sử dụng khoảng 200 chiến sĩ đã mệt nhừ sau một tuần lễ chiến đấu, đạn dược đã gần cạn mà xin tiếp tế không được. Thiếu tá Botella ra lệnh cho chiến sĩ kháng cự bằng súng cối và đại bác không giật nhưng xạ thủ phải tiết kiệm từng trái đạn một nên địch quân vẫn lại gần. Chiến sĩ tiểu đoàn 5 Nhảy Dù chiến đấu vô cùng dũng liệt, đến 21 giờ đại úy Phạm Văn Phú chỉ còn 30 người để chỉ huy; họ bắn đến mức nòng súng nóng bỏng, và địch tràn vào như thác, nhưng chẳng ai chùn lại. Họ tử chiến để giành với địch quân từng đoạn địa đạo.

Theo lời của chỉ huy Liên đoàn 2 Nhảy Dù lúc đó là đại tá Langlais ghi lại trong hồi ký, thì vào rạng sáng ngày 7 tháng 5, đại úy Phạm Văn Phú mở cuộc phản kích với 100 quân gom góp từ các đơn vị, lực lượng của đại úy Phú đánh cận chiến với địch quân trong thế 1 chọi 10 nhưng vẫn giành lại được hơn 100 mét địa đạo. Nhưng cuối cùng mũi xung phá đó bị đối phương bẻ gẫy với sự áp đảo về quân số và hỏa lực, nhiều chiến sĩ và 3 sĩ quan, trong đó đại úy Phú, đại úy Guilleminot, thiếu úy Lafanne lần lượt bị trúng đạn. Sĩ quan độc nhất còn đứng vững là thiếu úy Makowiak, cùng vài chục chiến binh Nhảy Dù Việt Nam tiếp tục tử chiến trong khu địa đạo dưới sườn đồi phía Đông Nam của phòng tuyến Điện Biên Phủ. Địch phải chùn bước vì mức thương vong quá cao. Nhưng vài chục phút sau, đối phương lại mở trận hỏa tập pháo như mưa, căn cứ chỉ huy của tiểu đoàn 5 Nhảy Dù thất thủ lúc 9 giờ sáng ngày 7-5-1954.

* Sĩ quan Phạm Văn Phú trên chiến trường miền Nam
Sau 20/7/1954 (Hiệp định Genève), ông được trao trả và tiếp tục phục vụ trong Quân đội VNCH. Năm 1960, được tuyển chọn để phục vụ trong binh chủng Lực lượng Đặc biệt. Cuối năm 1962, thăng cấp thiếu tá và giữ chức vụ Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quan sát 77 Lực lượng Đặc biệt. Giữa tháng 5/1964, ông đã chỉ huy liên đoàn này đánh tan trung đoàn 765 CSBV tại Suối Đá, Tây Ninh. Gần cuối năm 1964, ông được thăng trung tá và giữ chức tham mưu trưởng Lực Lượng Đặc biệt, 1 năm sau, ông được thăng đại tá nhiệm chức.

Đầu năm 1966, không hiểu vì lý do gì, ông bị vị tư lệnh Lực Lượng Đặc Biệt trình bộ Quốc phòng thâu hồi cấp đại tá nhiệm chức và thuyên chuyển ra miền Trung, giữ chức phụ tá tư lệnh Sư đoàn 2BB. Giữa năm 1966, ông là đại tá tư lệnh phó, xử lý thường vụ tư lệnh Sư đoàn này. (Tư lệnh Sư đoàn 2BB là thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm, được cử giữ chức tư lệnh Quân đoàn 1/Vùng 1 chiến thuật vào cuối tháng 5/1966.) Gần cuối năm 1966, ông được điều động ra Sư đoàn 1 Bộ binh làm tư lệnh phó Sư đoàn. Giữa năm 1968, được cử giữ chức vụ tư lệnh Biệt khu 44 (bao gồm các tỉnh biên giới ở miền Tây Nam phần). Năm 1969, được thăng cấp chuẩn tướng tại mặt trận. Đầu năm 1970, chuẩn tướng Phú được cử giữ chức tư lệnh Lực lượng Đặc biệt.
Gần cuối tháng 8/1970, tướng Phú được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh thay thế thiếu tướng Ngô Quang Trưởng, được cử giữ chức tư lệnh Quân đoàn 4. Tháng 3/1971, ông được thăng thiếu tướng tại mặt trận sau cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào (ngoài tướng Phú, có hai đại tá được thăng cấp chuẩn tướng: đại tá Vũ Văn Giai, tư lệnh phó Sư đoàn 1 Bộ binh, đại tá Hồ Trung Hậu, tư lệnh phó Sư đoàn Nhảy Dù). Trong cuộc chiến mùa Hè 1972, ông đã điều động, phối trí các trung đoàn của Sư đoàn 1 Bộ binh giữ vững phòng tuyến Tây Nam Huế. Do điều kiện sức khỏe, đến tháng 9/1972, ông bàn giao Sư đoàn 1BB cho đại tá Điềm, tư lệnh phó, xử lý thường vụ. Từ 1973 đến tháng 10/1974, ông giữ chức chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Tháng 11/1974, thể theo đề nghị của thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Phó Tổng thống Trần Văn Hương, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ký sắc lệnh cử ông giữ chức vụ tư lệnh Quân đoàn 2 và Quân khu 2 thay thế trung tướng Nguyễn Văn Toàn. (Tướng Toàn trở lại binh chủng Thiết giáp, giữ chức chỉ huy trưởng).

* Tướng Phạm Văn Phú và Quân đoàn 2
Nhận chức vụ tư lệnh Quân đoàn 2 không phải do chính Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lựa chọn, hoặc do đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng, đề nghị, nên thiếu tướng Phạm Văn Phú đã gặp nhiều khó khăn trong việc sắp xếp nhân sự cao cấp phụ tá ông để điều hành bộ Tư lệnh. Thông thường, các tư lệnh Quân đoàn được quyền chọn lựa tham mưu trưởng, sau đó, bộ Tổng tham mưu sẽ ban hành quyết định hợp thức hóa, thế nhưng thiếu tướng Phạm Văn Phú đã bị bộ Tổng tham mưu “hạn chế” các quyền hạn dành cho tư lệnh Quân đoàn. Khi tướng Phú nhận chức tư lệnh Quân đoàn 2, vị tham mưu trưởng đương nhiệm là chuẩn tướng Trần Văn Cẩm. (Trong thời gian từ 1967 đến tháng 6/1968, khi tướng Phú còn mang cấp đại tá và giữ chức vụ tư lệnh phó Sư đoàn 1 Bộ binh thì tướng Cẩm là tham mưu trưởng Sư đoàn này ở cấp bậc trung tá.)
Trong những tuần lễ đầu tiên, tướng Phú đã hai lần đề nghị hai vị đại tá giữ chức vụ tham mưu trưởng Quân đoàn thay chuẩn tướng Cẩm (được bổ nhiệm làm phụ tá Hành quân Tư lệnh Quân đoàn 2), nhưng cả hai lần đều bị trung tướng Đồng Văn Khuyên tham mưu trưởng Liên quân trình với đại tướng Cao Văn Viên bác bỏ. Cuối cùng, theo đề nghị của trung tướng Khuyên, đại tướng Cao Văn Viên đã bổ nhiệm đại tá Lê Khắc Lý, nguyên tham mưu trưởng bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 1 giữ chức vụ tham mưu trưởng Quân đoàn 2. Dù vị tham mưu trưởng không do mình chọn lựa, nhưng tướng Phú đã tin dùng và ủy nhiệm cho đại tá Lê Khắc Lý nhiều quyền hạn trong việc điều hành bộ Tư lệnh.

Trước khi cuộc chiến Cao nguyên bùng nổ, tướng Phú được đại tá Trịnh Tiếu, trưởng phòng 2 Quân đoàn trình bày về các khả năng Cộng quân sẽ mở cao điểm tại Ban Mê Thuột, thế nhưng không hiểu vì sao, tướng Phú không tin và nhận định rằng Pleiku mới là chiến trường trọng điểm, còn Ban Mê Thuột là mặt trận phụ mà Cộng quân muốn tạo thế trận nghi binh. Như VB đã trình bày trong loạt bài “Chiến trường Việt Nam”, trận chiến Ban Mê Thuột đã bùng nổ vào rạng sáng ngày 10 tháng 3/1975. Bốn ngày sau, vào trưa ngày 14 tháng 3/1975, trong một cuộc họp đặc biệt tại Cam Ranh, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho thiếu tướng Phạm Văn Phú triệt thoái toàn bộ Quân đoàn 2 khỏi Cao nguyên.

* Những ngày cuối cùng của thiếu tướng Phú tại Quân khu 2
Sau khi lực lượng Quân đoàn 2 triệt thoái khỏi Nha Trang, 1 giờ 45 trưa ngày 2 tháng 4/1975, thiếu tướng Phạm Văn Phú và vài sĩ quan thân tín đã bay đến ngọn đồi “Lầu Ông Hoàng” để chờ thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu, tư lệnh phó Quân đoàn 3, tới nhận bàn giao phần lãnh thổ cuối cùng của Quân khu 2 được lệnh sát nhập vào Quân khu 3. Vào giờ phút đó, quanh tướng Phú chỉ có: đại tá Đức, nguyên phụ tá Tư lệnh Quân đoàn 2 đặc trách lực lượng diện địa; thiếu tá Vinh, chánh văn phòng; thiếu tá Hóa, sĩ quan tùy viên, và thiếu tá Phạm Huấn, sĩ quan Báo chí. Chính tại đây, tướng Phú đã có quyết định tự sát, nhưng đại tá Đức đã kịp thời cản ông. Theo lời kể của thiếu tá Phạm Huấn, vào lúc 2 giờ 12 phút cùng ngày, thiếu tá Hóa tới trình cho tướng Phú là trực thăng của tướng Hiếu sắp đáp xuống. Khi đó, thiếu tá Huấn đứng gần tướng Phú, thấy đôi mắt tướng Phú như muốn tóe lửa. Và sau khi thiếu tá Hóa quay gót, tướng Phú vất điếu thuốc lá đang cầm trên tay xuống đất. Rất nhanh, ông rút khẩu súng ngắn nòng ra khỏi vỏ. Nhưng tiếng hét thất thanh của đại tá Đức: “Thiếu tướng”. Khẩu súng trên tay tướng Phú bị gạt bắn xuống đất. Sự việc này xảy ra quá bất ngờ…

27 ngày sau, vào ngày 29 tháng 4/2000, tại nhà riêng ở đường Gia Long, thiếu tướng Phạm Văn Phú đã dùng một liều thuốc mạnh để tự tử. Người nhà đã đưa ông vào bệnh viện Grall để cấp cứu, đến trưa 30/4 ông tỉnh dậy và thều thào hỏi: Tình hình đến đâu rồi. Bà Phạm Văn Phú ngồi cạnh ông buồn bã nói: Tướng Dương Văn Minh mới ra lệnh Quân đội bỏ súng, bộ đội Cộng sản đã vào tới Sài Gòn. Nghe xong, tướng Phú nhắm mắt rồi “ra đi”...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sky River Casino vô cùng vui mừng hào hứng tổ chức chương trình Ăn Tết Nguyên Đán với những giải thưởng thật lớn cho các hội viên Sky River Rewards. Chúng tôi cũng xin kính chúc tất cả Quý Vị được nhiều may mắn và một Năm Giáp Thìn thịnh vượng! Trong dịp đón mừng Năm Mới Âm Lịch năm nay, 'Đội Múa Rồng và Lân Bạch Hạc Leung's White Crane Dragon and Lion Dance Association' đã thực hiện một buổi biểu diễn Múa Lân hào hứng tuyệt vời ở Sky River Casino vào lúc 11:00 AM ngày 11 Tháng Hai. Mọi người tin tưởng rằng những ai tới xem múa lân sẽ được hưởng hạnh vận.
Theo một nghiên cứu mới, có hơn một nửa số hồ lớn trên thế giới đã bị thu hẹp kể từ đầu những năm 1990, chủ yếu là do biến đổi khí hậu, làm gia tăng mối lo ngại về nước cho nông nghiệp, thủy điện và nhu cầu của con người, theo trang Reuters đưa tin vào 8 tháng 5 năm 2023.
(Tin VOA) - Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) vào ngày 13/9 ra thông cáo lên án Việt Nam tiếp tục lạm dụng hệ thống tư pháp để áp đặt những án tù nặng nề với mục tiêu loại trừ mọi tiếng nói chỉ trích của giới ký giả. Trường hợp nhà báo tự do mới nhất bị kết án là ông Lê Anh Hùng với bản án năm năm tù. RSF bày tỏ nỗi kinh sợ về bản án đưa ra trong một phiên tòa thầm lặng xét xử ông Lê Anh Hùng hồi ngày 30 tháng 8 vừa qua. Ông này bị kết án với cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’ theo Điều 331 Bộ Luật Hình sự Việt Nam
Từ đầu tuần đến nay, cuộc tấn công thần tốc của Ukraine ở phía đông bắc đã khiến quân Nga phải rút lui trong hỗn loạn và mở rộng chiến trường thêm hàng trăm dặm, lấy lại một phần lãnh thổ khu vực đông bắc Kharkiv, quân đội Ukraine giờ đây đã có được vị thế để thực hiện tấn công vào Donbas, lãnh phổ phía đông gồm các vùng công nghiệp mà tổng thống Nga Putin coi là trọng tâm trong cuộc chiến của mình.
Tuần qua, Nước Mỹ chính thức đưa giới tính thứ ba vào thẻ thông hành. Công dân Hoa Kỳ giờ đây có thể chọn đánh dấu giới tính trên sổ thông hành là M (nam), F (nữ) hay X (giới tính khác).
Sau hành động phản đối quả cảm của cô trên truyền hình Nga, nữ phóng viên (nhà báo) Marina Ovsyannikova đã kêu gọi đồng hương của cô hãy đứng lên chống lại cuộc xâm lược Ukraine. Ovsyannikova cho biết trong một cuộc phỏng vấn với "kênh truyền hình Mỹ ABC" hôm Chủ nhật: “Đây là những thời điểm rất đen tối và rất khó khăn và bất kỳ ai có lập trường công dân và muốn lập trường đó được lắng nghe cần phải nói lên tiếng nói của họ”.
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cử hành Ngày Quốc tế Nhân Quyền Lần Thứ 73 và Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam lần thứ 20.
Sau hơn 30 năm Liên bang Xô Viết sụp đổ, nhân dân Nga và khối các nước Đông Âu đã được hưởng những chế độ dân chủ, tự do. Ngược lại, bằng chính sách cai trị độc tài và độc đảng, Đảng CSVN đã dùng bạo lực và súng đạn của Quân đội và Công an để bao vây dân chủ và đàn áp tự do ở Việt Nam. Trích dẫn chính những phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam, tác giả Phạm Trần đưa ra những nhận định rất bi quan về tương lai đất nước, mà hiểm họa lớn nhất có lẽ là càng ngày càng nằm gọn trong tay Trung quốc. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Tác giả Bảo Giang ghi nhận: “Giai đoạn trước di cư. Nơi nào có dăm ba cái Cờ Đỏ phất phơ là y như có sự chết rình rập." Tại sao vậy? Để có câu trả lời, mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của nhà văn Tưởng Năng Tiến.
Người cộng sản là những “kịch sĩ” rất “tài”, nhưng những “tài năng kịch nghệ” đó lại vô phúc nhận những “vai kịch” vụng về từ những “đạo diễn chính trị” yếu kém. – Nguyễn Ngọc Già (RFA).. Mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của phó thường dân/ nhà văn Tưởng Năng Tiến để nhìn thấy thêm chân diện của người cộng sản.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.