Hôm nay,  

Iraq Trên Dòng Potomac

24/11/200600:00:00(Xem: 9763)

Iraq Trên Dòng Potomac

Có ai biết lập trường của thủ đô Mỹ về Iraq là gì hay không"

Câu hỏi ấy có thể gây khó chịu. Sự hiểu biết thông thường đều cho thấy đảng Cộng hoà đã thất cử và Chính quyền Bush mất sự ủng hộ của quần chúng do chuyện Iraq. Nhưng, người ta vẫn cần nêu lại câu hỏi: giới lãnh đạo Hoa Kỳ, từ hai chính đảng qua đến các lãnh vực khác - tôn giáo, kinh doanh, hay nghiệp đoàn - hiện muốn gì tại Iraq"

Chúng ta không rõ. Trong khi cả nước - nhất là truyền thông - bàn tán sâu rộng về chiến tranh Iraq, người ta không đào đâu ra một lập trường mạch lạc hoặc lý luận thuần nhất về lẽ chiến hay hoà ở ngay trung tâm Hoa Kỳ là thủ đô Mỹ, nơi cọ sát sự tác động của mọi trung tâm quyền lực.

Lý do có thể là vì Chính quyền Bush đã thu hút hoặc phóng chiếu ra lý luận căn bản nhất. Nhưng, điều ấy không giải thích tất cả, và có thể giải thích vì sao Iraq sẽ là biến cố làm thay đổi chính trường Mỹ sâu đậm hơn người ta thường nghĩ.

Đầu tiên, hãy xét tới đảng Dân chủ.

Nền tảng lý luận của đảng này ở dưới cơ sở, trong "quần chúng đảng", đã chuyển dịch về cánh tả và phản chiến. Lãnh đạo của đảng ở trên lại cố bám lấy vị trí trung tả nguyên thủy và tránh bị dán nhãn hiệu "phản chiến" hay tháo chạy.

Trong cuộc bầu cử 2004, đảng Dân chủ chọn ứng viên John Kerry cũng vì lối tính toán nước đôi ấy, chủ hoà mà không ra phản chiến! Sau khi thắng cử, đảng này cũng đẩy Dân biểu chủ hoà John Murtha ra biên và đề cử Dân biểu Steny Hoyer của Maryland vào ghế Trưởng khối đa số. Lý lịch tham nhũng của John Murtha - mà truyền thông cố tình bỏ qua không xét hỏi - không giải thích tất cả!

Huống hồ, đảng này đã đẩy Nghị sĩ Joe Lieberman ra ngoài vì ông ủng hộ cuộc chiến Iraq mà cuối cùng, Lieberman lại thắng lớn trong tư thế Độc lập. Đối thủ do đảng này đưa ra tại Connecticut, Ned Lamont, con nhà tỷ phú, thiên tả và phản chiến - tiêu biểu cho xu hướng Dân chủ đáng ghét - đã bị đại bại: lập trường chiến hoà về Iraq không là yếu tố quyết định.

Đây là một nghịch lý rất… hợp lý.

Đảng Dân chủ không muốn trưng bày ra một quan điểm chủ trương rõ rệt về Iraq vì bề nào cũng hốt phiếu phản chiến. Nếu có bày ra lập trường phản chiến quá đáng thì không lấy phiếu được thành phần trung dung ôn hoà bên đảng Cộng hoà. Họ tính rất đúng như kết quả bầu cử cho thấy. Họ chỉ cần đả kích phương thức tiến hành chiến tranh của Chính quyền Bush là đủ ăn tiền. Huống hồ, càng nói nhiều thì càng bị kẹt trong cuộc tổng tuyển cử 2008.

Mà sở dĩ đảng Dân chủ mờ ảo qua sông Potomac và thắng lớn tại Thủ đô trong Quốc hội khoá 110 tới đây vì, ngoài thành phần phản chiến, thì quần chúng của đảng… không mấy quan tâm đến chuyện Iraq.

Quần chúng truyền thống của đảng - là các nhóm đấu tranh cho dân quyền, kể cả quyền phá thai hay hôn nhân đồng tính, là công chức, dân thiểu số, nghiệp đoàn và thành phần bảo vệ môi sinh - đều chia sẻ một ấn tượng chung là ghét Bush nhưng họ theo đuổi những mục tiêu riêng. Họ không cần một chủ trương rõ rệt về Iraq.

Kết cuộc thì đảng Dân chủ tránh không thảo luận trong nội bộ về lẽ tiến thoái tại Iraq và đã thắng lớn nhưng sau đó vẫn chưa có một chủ trương gì về một cuộc chiến đang gây sôi nổi trong cả nước.

Đảng Cộng hoà thực ra cũng chẳng khá hơn.

Đảng này không hỏi giấy đảng Dân chủ, như ông Bush thường hỏi ("Thế kế hoạch của quý vị là gì"") và mặc nhiên để chính quyền Bush là phiến nam châm thu hút mọi thịnh nộ hay ủng hộ của quần chúng. Vì sao lại có hiện tượng kỳ lạ ấy"

Vì chiến lược của ông Bush.

Rút kinh nghiệm thất cử của phụ thân năm 1992, vì lý do kinh tế, ông Bush tiến hành chiến tranh mà không muốn quần chúng phải kề vai chia sẻ gánh nặng. Trong tinh thần ấy, ông hành xử như một vị Tổng thống Texas khác là Lyndon B. Johnson trong cuộc chiến Việt Nam. Ông khai chiến, giảm thuế và không một lần phủ quyết việc tăng chi phi lý của Quốc hội do phe Cộng hoà kiểm soát. Trong cuộc chiến đáng lẽ phải của toàn dân vì mang đặc tính toàn diện, ông Bush phó thác cho và tin tưởng vào quân đội và cơ quan tình báo. Còn mọi chuyện khác ở hậu phương thì vẫn là chuyện thời bình.

Việc gì lãnh đạo đảng Cộng hoà phải tranh luận hoặc thảo luận với Hành pháp về Iraq" Đã thế, ngoài Tổng thống, Phó Tổng thống và hai Tổng trưởng Ngoại giao và Quốc phòng, không thấy một nhân viên nội các nào  của ông Bush nói đến chiến tranh hay hy sinh trong thời chiến.

Điểm đặc biệt nữa là doanh trường, nghiệp đoàn và cả các tôn giáo cũng không có lập trường quan điểm gì rõ rệt về Iraq. Chiến hay hoà, tiến hay thoái, và làm sao giải quyết"… là những câu hỏi không được các thành phần ấy nêu ra, trước nhất là trong nội bộ của mình, sau đó là cho chính quyền Bush. Nếu lãnh đạo các thành phần xã hội ấy mà công khai tranh luận và nói thẳng với Tổng thống, rằng quần chúng của chúng tôi có quan điểm khác, hết ủng hộ Tổng thống trong trận Iraq thì sự thể có lẽ đã khác.

Lần duy nhất họ có phản ứng là hôm mùng bảy vừa qua, khi không thèm đi bầu cho đảng Cộng hoà, hoặc bực bội bước qua bầu cho đảng Dân chủ, và chính quyền Bush bị thất bại mà vẫn không biết lòng dân, hoặc ít ra những thành phần quần chúng đó muốn gì tại Iraq!

Thành phần chủ chiến, những người quan ngại cho nền an ninh của Mỹ hoặc thân nhân các chiến binh Mỹ, đã ủng hộ ông Bush đến tận cùng. Quan điểm của họ là phải cần thời gian mới có kết quả tại Iraq. Nhưng cuối cùng thì họ cũng nản chí. Việc ông Bush chuẩn bị một nhóm nghiên cứu về Iraq, với sự tham dự của giới ngoại giao ôn hoà, thực tiễn và ban tham mưu của ông Bush cha, khiến thành phần chủ chiến thất vọng. Việc ông Bush cách chức Tổng trưởng Rumsfeld càng gây thất vọng nặng hơn. Nếu cần thì sao không làm từ trước khi bầu cử, dù bất công thì cũng còn có lợi!

Họ coi là ông Bush đành thỏa hiệp và hy sinh quyền lợi lâu dài của Hoa Kỳ. Họ buồn bã ở nhà không đi bầu hoặc dồn phiếu cho các ứng viên Dân chủ không chủ trương tháo chạy. Jim Webb hốt phiếu khá nhiều của thành phần này tại Virginia. Và họ hoài nghi về chính trường, y như các thành phần bảo thủ và cực hữu của Pháp đã hoài nghi lập trường của Charles de Gaulle về vụ Algéria.

Kết cuộc thì năm năm sau vụ khủng bố, ba năm sau vụ Iraq, truyền thông và dân Mỹ ở khắp nơi đều nói đến Iraq và tương lai của cuộc chiến chống khủng bố nhưng giới lãnh đạo tại Thủ đô vẫn… một ngày như mọi ngày, thao dợt chính trị cho chân trời 2008. Mà không có một chương trình hành động gì về Iraq khả dĩ những người hữu trách có thể tìm hiểu và phân tách lẽ hơn thua.

May ra, khi nhóm nghiên cứu Iraq Study Group trình bày đề nghị của họ như quăng cục đá xuống mặt sông Potomac, dư luận Thủ đô sẽ có vài ngày bận rộn việc tranh cãi đúng sai. Rồi đâu lại vào đấy!

Không ai có thể ngờ một sự thể kỳ lạ ấy.

Và nếu người ta quen nói như vỉa hè Sàigon thời xưa, rằng "Mỹ nó đã tính thế này, thế nọ", chúng ta có thể hỏi lại: "Mỹ nào""

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.