Hôm nay,  

Giáo dục Mỹ: Người Việt ở đâu và cơ hội học tập thế nào?

18/07/202513:31:00(Xem: 1888)
BuiVanPhu_2025_0716_NguoiVietDungDau_H01_HuongVu_Family
Tiến sĩ Hương Vũ và gia đình, bạn bè sau lễ tốt nghiệp tại U.C. Berkeley (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Cuối niên học vừa qua, gia đình tôi có bốn cháu tốt nghiệp đại học, là con của các em. Hai cháu ra trường với bằng tiến sĩ: Hương Vũ (U.C. Berkeley), Hannah Nguyễn Lê (University of the Pacific) và hai cử nhân: Jada Gia Cát Lê (U.C. Davis), Audrey Nguyễn Lê (U.C. Santa Cruz). Ba cháu sinh ra lớn lên ở Mỹ, một cháu qua Mỹ 12 năm trước, cả bốn đều là nữ sinh.

 

“Giáo dục là chìa khoá mở cửa tương lai”, câu nói thường nghe được ở Mỹ để khuyến khích trẻ em hãy cố gắng học, lên đại học nếu có thể, không nên bỏ học ở bậc phổ thông.

 

Lãnh đạo Hoa Kỳ gần đây nhất đã khuyến khích người Mỹ theo đường học vấn là Tổng thống Barack Obama. Tháng 7 năm 2009, chỉ vài tháng sau khi vào Bạch Ốc, trong bài diễn văn tại trường đại học cộng đồng Macomb Community College ở thành phố Warren, tiểu bang Michigan ông đã khuyến khích học sinh nên học ít nhất một năm đại học, qua câu nói “Everyone should go to college” (mọi người nên vào đại học) mà những nhà giáo dục sau đó thường dùng để nhắc nhở các em học sinh và những ai muốn tiếp tục con đường học vấn sau khi học hết lớp 12.

 

Trình độ đại học mà Tổng thống Obama nhắc đến là đại học cộng đồng, những trường theo hệ 2 năm để sinh viên lấy bằng AA (Associate of Arts) hay AS (Associate of Science), tiếng Việt gọi là bằng cao đẳng, hay để học nghề. Chính quyền Obama đã chi 16 tỉ đôla giúp cải tiến hệ thống đại học này cho hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của nước Mỹ, khi nhiều việc làm đã theo các công ti ra nước ngoài. Nhưng có ý kiến cho rằng không phải ai cũng thể học đại học mà cần có chính sách hướng dẫn học nghề từ những năm còn ở trung học.

 

Theo số liệu năm 2020 từ Bộ Giáo dục, Hoa Kỳ có 1.022 trường đại học cộng đồng với khoảng 9 triệu sinh viên theo học và ngoài bằng AA hay AS, nay có một số ít đại học cộng đồng cũng đã có chương trình cử nhân.

 

Một di dân vào Mỹ, tiếng Anh chưa biết và đủ 18 tuổi là có thể ghi danh học tại đại học cộng đồng. Học ESL trước và từ đó học nghề, nếu giỏi các môn căn bản để chuyển lên đại học bốn năm cũng sẽ có cơ hội. Nhiều người Việt khi mới qua Mỹ đã vào đại học cộng đồng trước khi chuyển trường để lấy bằng cử nhân, thạc sĩ hay tiến sĩ.

 

Một người cháu của tôi đã vào đại học Mỹ theo đường này và vừa tốt nghiệp tiến sĩ toán thống kê từ U.C. Berkeley sau 12 năm đến Mỹ định cư.

 

Chính sách giáo dục của Hoa Kỳ giúp cho mọi người, không phân biệt màu da, sắc tộc, giới tính, tôn giáo, di dân hợp pháp hay công dân đều có cơ hội học hết bậc cử nhân. Gia đình mà bố mẹ không có bằng đại học thì con còn được nâng đỡ để vào đại học.

 

BuiVanPhu_2025_0716_NguoiVietDungDau_H02_HannahNguyenLe
Tiến sĩ Hannah Nguyễn Lê và gia đình sau lễ tốt nghiệp
tại University of the Pacific (Ảnh: Bùi Văn Phú)



Bang California với 39 triệu dân, đông nhất nước Mỹ, kinh tế phát triển đứng thứ tư trên thế giới (nếu tính là một nền kinh tế riêng biệt) và có nhiều trường đại học danh tiếng như U.C. Berkeley, U.C. Los Angeles, U.C. San Diego là trường công; Stanford, University of Southern California, California Institute of Technology là trường tư. Đây là những trung tâm giáo dục đào tạo chuyên viên kỹ thuật cho bang, cho vùng thung lũng điện tử Silicon Valley nơi đi đầu trong phát triển công nghệ thông tin.

 

Đa số người Việt đã chọn tiểu bang vàng California để định cư vì ở đây có nhiều cơ hội học hành, nhiều việc làm trong mọi ngành nghề.

 

Gia đình nghèo ở California với tổng thu nhập dưới 80.000 đô la mỗi năm thì con được trợ cấp tài chánh để đi học, dù là học đại học cộng đồng, có 116 trường, hay các đại học trong hệ thống California State University - 23 trường, hay University of California - 10 trường, thì bố mẹ không phải lo chi tiêu về giáo dục vì con em sẽ được trợ giúp từ quỹ liên bang và bang để trả học phí, ăn ở cho hết bậc cử nhân.

 

Nếu thu nhập của bố mẹ trên 80.000 và dưới 150.000 đô la, trợ giúp tài chánh sẽ theo tỉ lệ trong mức đó. Gia đình có thu nhập trên 150.000, con đi học đại học xem như phải tự lo mọi chi tiêu, chính phủ nếu có giúp chút gì thì là cho vay vài ngàn đô mỗi năm.

 

Nhiều gia đình người Việt, sau mấy chục năm ở Mỹ, đã có cuộc sống ổn định, thu nhập ở mức trung lưu nên con cái vào đại học bố mẹ phải lo hết mọi chi phí. Nếu vào học các trường California State University hay University of California phải chi từ 25-30.000 đô la cho một năm ăn học, học 4 năm cần 100-120.000, là số tiền không nhỏ.

 

Hết bậc cử nhân, học lên thạc sĩ hay tiến sĩ thì chi phí cho các đại học công ở California cũng không cao hơn bậc cử nhân nhiều lắm, nhưng chính phủ không còn những trợ giúp tài chánh cho sinh viên, chỉ cho vay tiền để đi học. Sinh viên có thể tìm việc làm trong phòng thí nghiệm, làm phụ giảng để có tiền phụ vào chi phí.

 

Học làm bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ hay luật sư chi phí rất cao, cần khoảng ba trăm ngàn đô la và đa số sinh viên phải vay tiền để đi học.

 

Nhưng giáo dục là đầu tư vào tương lai. Với bằng cử nhân khoa học kỹ thuật, việc làm ở California lương khởi đầu ít nhất cũng 60.000 đô la mỗi năm. Thu nhập của bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, luật sư trăm ngàn đôla mỗi năm nên thời sinh viên có phải vay tiền để đi học, tốt nghiệp ra đi làm thì trả nợ dài hạn cũng không khó khăn gì.

 

Năm 2007 có luật giúp sinh viên xóa nợ vay khi đi học mang tên Public Service Loan Forgiveness. Theo luật này, sau khi tốt nghiệp nếu tìm được việc làm trong các chương trình mà chính phủ xác định có mục đích giúp ích đại chúng, sau 10 năm phục vụ và đã trả nợ tiền vay tối thiểu trong mười năm đó thì số nợ còn lại sẽ được xóa hết.

 

Mảnh bằng đại học giúp có việc làm vững chắc, lương cao, có cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, nhưng không phải ai cũng muốn hay có khả năng học đại học.

 

Số liệu năm 2022 từ AAPIdata.org cho thấy ở tuổi 25 trở lên người gốc Á ở Mỹ có bằng cử nhân hay cao hơn như sau: Đài Loan 82%, Ấn Độ 77%, Malaysia 62%, Hàn Quốc 61%, Hoa 58%, Nhật 55%, Indonesia 53%, Philippines 52%, Thái 48%. Người Việt đạt 34% và chỉ hơn Myanmar 23%, Campuchia 22% và Lào 19%.

 

Dân số gốc Việt đông thứ tư trong nhóm các sắc dân châu Á ở Mỹ, sau người Hoa, Ấn Độ và Philippines, nhưng trình độ giáo dục của cộng đồng Việt không cao, chỉ hơn các sắc dân Myanmar, Campuchia và Lào.

 

Những con số trên cũng phản ánh trình độ giáo dục, mức phát triển kinh tế tại các quốc gia nguồn gốc của di dân.

Đáng chú ý về giáo dục Mỹ là số phụ nữ có trình độ đại học đã tăng lên. Số liệu năm 2020 của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ cho thấy 58% sinh viên đang học đại học là phái nữ.

 

Theo khảo sát năm 2024 của Pew Research Center, phụ nữ ở Mỹ tuổi từ 25 đến 34 có bằng cử nhân chiếm 47%, so với nam giới 37%. Những con số khác biệt về giới tính này cũng tương tự nếu phân chia theo chủng tộc: da trắng 52% nữ và 42% nam có bằng cử nhân, da đen 38%-26%, Hispanic (gốc các nước nói tiếng Tây Ban Nha) 31%-22% và châu Á 77%-71%.

Tại nhiều quốc gia châu Á, như Trung Quốc và Việt Nam, trước đây người phụ nữ ít có cơ hội học lên đại học mà thường ở nhà lo cho con, lo cơm nước, chỉ người chồng ra đời làm việc.

 

Qua Mỹ có nhiều cơ hội và nếp sống bình quyền hơn nên phụ nữ đã có thể theo đuổi đường công danh sự nghiệp và đang vượt qua nam giới.

 

Với người Việt ở Mỹ, đi học không phải để ra "làm quan cả họ được nhờ" hay để vinh quy bái tổ "ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau" như có câu hát "Anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng…" mà nhiều người Việt lớn lên tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 hẳn còn nhớ.

 

Thời Việt Nam Cộng hòa có một bài ca trào phúng tên Mảnh bằng chế giễu sự tôn thờ bằng cấp do ban AVT biểu diễn vang vang trên làn sóng Đài phát thanh Sài Gòn: "Cái bằng nó chỉ một gang thôi, mà sao con gái họ mê quá trời." Ca từ nói lên một nét của xã hội, nhưng nếu hát lên ở Mỹ có thể bị cho là kỳ thị giới tính.

 

Thập niên 1990, về nước tôi gặp nhiều người là cán bộ, công nhân viên cũng đang học thạc sĩ, tiến sĩ. Sau khi Mỹ bỏ cấm vận, gặp những phái đoàn doanh nhân Việt qua Mỹ tìm hiểu thị trường, tôi nhận danh thiếp của nhiều người có ghi TS hay PTS là tiến sĩ, phó tiến sĩ.

BuiVanPhu_2025_0716_NguoiVietDungDau_H03_AudreyLe_JadaGiaCatLe
Jada Gia Cát Lê, bên phải, tốt nghiệp U.C. Davis năm 19 tuổi và
Audrey Nguyễn Lê tốt nghiệp U.C. Santa Cruz (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Vì xã hội quá coi trọng bằng cấp, mà phải là văn bằng cao nhất trong sự học nên ngày nay Việt Nam có nhiều tiến sĩ nhưng đóng góp cho đất nước, cho nhân loại không có gì nhiều, vì là tiến sĩ học tại chức, nhiều tiến sĩ về hoạt động, xây dựng và bảo vệ Đảng Cộng sản.

 

Ở Mỹ thỉnh thoảng chúng ta nghe biết đến một vài người Việt có những công trình nghiên cứu nổi bật, hay cá nhân thành công trong các công ty danh tiếng, nhưng trình độ học vấn của người gốc Việt ở Mỹ cũng chỉ bằng với 35% của tổng thể dân Mỹ có trình độ cử nhân hay cao hơn.

 

Theo nghiên cứu năm 2024 của Pew Research Center, số người gốc Việt có bằng cử nhân là 24% và 12% có bằng thạc sĩ hay cao hơn, trong khi nhìn cả cộng đồng châu Á số người có bằng cử nhân hay cao hơn là 56%.

 

Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.

 

Bốn người cháu trong gia đình tốt nghiệp năm nay là cử nhân ngành khoa học môi trường và ngành xã hội học, tiến sĩ là toán thống kê và dược khoa.

 

Cháu tốt nghiệp cử nhân Đại học U.C. Davis năm nay mới 19 tuổi, cũng học phổ thông, nhưng trong chương trình phối hợp giữa sở học chánh và đại học cộng đồng, vì thế các lớp cháu học của đại học cộng đồng đều được tín chỉ tương đương, như sinh viên từ đây chuyển trường vào đại học bốn năm. Bố mẹ đã tiết kiệm được một nửa chi phí vì cháu chỉ học hai năm đã xong cử nhân, thay vì bốn năm.

BuiVanPhu_2025_0716_NguoiVietDungDau_H04_UCB_StatisticsGraduation
Lễ tốt nghiệp 2025 của khoa toán thống kê Đại học U.C. Berkeley (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Nền giáo dục Mỹ rất mở và tự do học thuật là ngọn hải đăng dẫn đường nên đã đào tạo được nhiều người tài giỏi, giúp Hoa Kỳ phát triển và thu hút nhân tài của thế giới.

 

Nay nước Mỹ đang thay đổi theo chiều hướng không còn hấp dẫn cho di dân, du sinh, cho những nhà nghiên cứu từ nhiều quốc gia vì chính quyền Trump đã và đang tạo nhiều áp lực qua việc hủy bỏ chính sách DEI (Diversity, Equity, Inclusive - đa dạng, bình đẳng, hòa nhập), giới hạn tuyển du sinh, giới hạn tự do phát biểu liên quan đến xung đột Israel-Palestine hay những chính sách của Tổng thống Trump.

 

Hôm dự lễ tốt nghiệp khoa toán thống kê của người cháu tại Đại học U.C. Berkeley, có một điều đáng chú ý mà từ trước đến nay tôi không thấy có trong các lễ ra trường là trước khi khai mạc, người dẫn chương trình đã xác minh những phát biểu của diễn giả đều mang tính cách cá nhân, không phản ánh quan điểm của nhà trường.

 

Dù thế, một sinh viên đại diện cho các bạn tốt nghiệp đã nói về hành trình du học Mỹ của mình và phê bình việc đối xử với du sinh, di dân của chính phủ hiện hành. Một bạn khác phàn nàn về chính sách trao đổi sinh viên của trường vì có quá nhiều du sinh. Trong số 142 sinh viên nhận bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, hơn 80% mang tên gốc Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ. Việt Nam có ba.

 

Trong lễ tốt nghiệp của một cháu khác ở Đại học U.C. Santa Cruz, khi hiệu trưởng là Tiến sĩ Cynthia Larive phát biểu, đa số sinh viên đã lo ó phản đối. Tại sao thế? Vì từ khi có xung đột Israel-Palestine, bà đã giới hạn tự do biểu đạt trong trường và không quan tâm đến những đòi hỏi của sinh viên muốn nhà trường rút đầu tư khỏi các công ty hỗ trợ cho Israel chiếm đóng Gaza. Trong lễ tốt nghiệp năm ngoái, bà cũng đã bị la ó phản đối.

 

Bùi Văn Phú

*  Tác giả Bùi Văn Phú tốt nghiệp U.C. Berkeley, hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
Vào những ngày cuối tháng Tám của năm 2025, tôi cùng hai đồng nghiệp đã quyết định từ bỏ chức vụ tại Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC). Chúng tôi ra đi vì không thể tiếp tục im lặng khi chứng kiến tính liêm chính khoa học ngày một xói mòn, còn cơ sở hạ tầng y tế công cộng của quốc gia cứ dần rệu rã dưới sự lãnh đạo của Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Bộ Y tế và Nhân sinh (HHS). Khi đó, chúng tôi đã khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội, các tổ chức chuyên ngành và các bên liên quan trong lĩnh vực y tế công cộng hãy can thiệp trước khi xảy ra những thiệt hại không thể cứu vãn. Tôi rời đi với niềm tin mọi thứ rồi sẽ được chấn chỉnh.
Khi nhìn bản đồ thế giới và duyệt xét lịch sử hình thành, chúng ta nhận thấy có rất nhiều điểm tương đồng giữa Canada và Úc Đại Lợi.
Người Việt miền Nam từng trải qua một bài học cay đắng: sau 1975, những lời nói về “thống nhất” và “hàn gắn” không bao giờ đi cùng sự nhìn nhận. Không một lời chính thức nào nhắc đến các trại cải tạo, những cuộc tước đoạt, hay những đời sống bị đảo lộn dưới tay những người nhân danh chiến thắng. Không có sự thật, hòa giải chỉ là chiếc khẩu hiệu rỗng. Câu chuyện nước Mỹ hôm nay, khi chính quyền muốn làm mờ các chứng tích về chế độ nô lệ, cho thấy một điều quen thuộc: không quốc gia nào trưởng thành bằng cách giấu đi phần tối. Sự thật không tự biến mất chỉ vì người ta muốn quên.
Hai mươi năm trước, Thống đốc Jeb Bush ký đạo luật “stand your ground” (đứng vững tại chỗ), được giới ủng hộ xem là một biện pháp chống tội phạm dựa trên “lý lẽ thường tình”. Lời hứa khi ấy: bảo vệ người dân tuân thủ pháp luật khi họ dùng vũ lực để tự vệ. Sau vụ George Zimmerman được tha trong cái chết của Trayvon Martin, đồng bảo trợ dự luật, dân biểu Dennis Baxley, vẫn bảo rằng “trao quyền” cho người dân sẽ giúp chặn bạo lực.
“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56 Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại. Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.
Một nhóm sử gia, thủ thư và tình nguyện viên đang gấp rút chạy đua với thời gian – và với chính quyền Trump – để giữ lại những mảnh ký ức của nước Mỹ.Từ hình ảnh người nô lệ bị đánh đập, các trại giam người Mỹ gốc Nhật trong Thế Chiến II, đến những bảng chỉ dẫn về biến đổi khí hậu ở công viên quốc gia, tất cả đều có thể sớm biến mất khỏi tầm mắt công chúng. Trong vài tháng gần đây, hơn một ngàn sáu trăm người – giáo sư, sinh viên, nhà khoa học, thủ thư – đã âm thầm chụp lại từng góc trưng bày, từng bảng giải thích, để lập ra một kho lưu trữ riêng tư. Họ gọi đó là “bản ghi của công dân” – một bộ sưu tập độc lập nhằm bảo tồn những gì đang tồn tại, trước khi bị xoá bỏ bởi lệnh mới của chính quyền.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.