Hôm nay,  

Tuổi Trẻ, Tình Yêu và Chiến Tranh

30/04/202509:45:00(Xem: 4991)

                          (Ghi lại quãng đường 50 năm di tản)

 

Tran Mong Tu 1976
Nhà Thơ Trần Mộng Tú (1976)



Mỗi con người là một đốm lửa nhỏ nhoi, đốt hân hoan và cháy thống khổ. Cha mẹ, anh em ruột thịt, bạn rất thân có yêu thương mình tới đâu cũng không bao giờ thấu hiểu tận cùng cái đốm lửa đó cháy và tàn như thế nào của mỗi phận người. Hạnh phúc và bất hạnh của mỗi người còn nổi trôi theo hoàn cảnh, vận nước, thời cuộc chung của nhân loại.

Cuối cùng, phần đông người ta chỉ có thể dựa vào lòng tin của tín ngưỡng để tự đứng dậy.

 

Khi chúng tôi yêu nhau thì anh mới ra Đại Học Sư Phạm được hơn 1 năm và đang đi dạy học thì bị gọi Động Viên-Khóa 3/68 Thủ Đức. Anh xin phép Cha Mẹ tôi cho anh được làm hôn thú trước, ngày tháng cưới tính sau vì sợ vào quân đội rồi, xin phép thành hôn sẽ khó khăn. Cha mẹ tôi bằng lòng. Tháng 6/1968 Ba tôi đi cùng tới văn phòng Tỉnh, cho phép chúng tôi làm hôn thú. Mấy ngày sau anh đi trình diện nhập ngũ, tôi thật sự lo sợ nhưng không biết phản ứng thế nào.

Chiến tranh vẫn vào thành phố mỗi đêm qua hỏa châu cùng tiếng súng và ban ngày là những lệnh nhập ngũ lan rộng ở các công tư sở. Sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân của CS vào Huế, những trang báo ngập tràn tin chiến sự, cầm tờ báo lên ngang mặt như ngửi được mùi thuốc súng. Tiếng đại bác đêm đêm vẫn vọng về từ một nơi nào đó và ban ngày thì chiến tranh rải đạn trên những tờ nhật báo. Hàng xóm, người thân, nhà nào cũng có con trai bị gọi nhập ngũ.

 

Rồi những tiếng gõ cửa chợt đến vào bất cứ giờ nào trong ngày, mở cửa ra, nhìn thấy một người ăn mặc quần áo nhà binh, mặt mũi thất thần, ngập ngừng báo tin: Người con / người chồng của Bà đã Tử Trận. Tiếng khóc bật lên, cả nhà giao động, người ôm mặt, người ngất xỉu, người chạy đi báo thân nhân…cả khu phố náo loạn… Mang được xác về hay mất xác thì cũng đau đớn ngang nhau.

Chiến tranh đã bước vào nhà mình, vào ngay nhà hàng xóm và đã đổ ập xuống thành phố.

 

Những tờ nhật báo

mỗi ngày một giống nhau

hôm nay tin địch chết

ngày mai tin ta chết

mẹ già cuối xóm

đi nhận xác con

người vợ trẻ xếp hành trang cho chồng mai đi sớm

tăng thêm quân

tuổi mười tám xếp bút nghiên cầm súng

đào thêm hầm

người chết thiếu chỗ chôn

chung quanh em bỗng thấy

thành phố tắt tiếng cười

chiếc áo em đang mặc mầu xanh

em nhìn thành mầu đỏ

mùi mực in

thành mùi máu tanh hôi

em yếu đuối

em ngơ ngác thất thần

em sợ lắm rồi thây người ngã xuống

 

Không,

không bao giờ em muốn anh đi

 

Anh gạt tay em dấn mình vào lửa

mảnh đạn mảnh bom chặn mất đường về

 

Ngày mai mưa nắng anh không biết

lửa hỏa châu

đốt cháy lời thề. (tmt)

 

Cung bị gọi nhập ngũ (Khóa 3/1968) Thủ Đức

 

Thời gian Cung huấn luyện quân sự ở Thủ Đức chúng tôi còn thỉnh thoảng được gặp nhau. Có khi cuối tuần, anh đi theo “xe cơm” ở trong trại ra ngoài, về được 1 đêm, sáng sớm hôm sau tìm taxi về trại. Nhà tôi đến Thủ Đức khoảng 30 cây số. Ba, Mẹ tôi thương lắm! Có khi anh về, gặp mưa ướt hết giầy, áo nhà binh, Ba tôi đưa quần áo của mình cho anh thay, Mẹ tôi phải nói chị giúp việc mang quần áo anh vào trong bếp lửa hong cho khô để ngày mai có áo về trại. Anh được một tối ở lại nhà tôi và được cha mẹ và tôi săn sóc, đêm anh ngủ với Ba tôi trên cái sập gụ giữa nhà. Những lần anh về như thế, chúng tôi được ngồi im lặng bên nhau đến khuya, chỉ cầm tay thôi mà muốn khóc… cũng không hiểu tại sao lại muốn khóc.

Nhưng sáng hôm sau anh đi thì tôi khóc thật, khóc âm thầm một mình sau cánh cửa. Không biết tại sao lại khóc có lẽ vì sợ mà khóc thì đúng hơn. Sợ anh đi rồi đi luôn. Cái sợ đó không lâu biến thành sự thật.

Anh ra Thủ Đức bị chuyển tới Chi Khu Trà Bồng. Một địa danh nghe tên mà ngơ ngác.

Tháng 11/1968 Mẹ chồng tôi mang trầu cau, bánh rượu, sang xin làm Đám Hỏi. (Bà không muốn mất cô con dâu mà con Bà đã yêu quý.) Đám Hỏi không có chú Rể, nghĩ cũng buồn, nhưng thời chiến mà, làm sao được.

 

Sau đó anh được chỉ thị về đóng ở Kiên Giang (Rạch Giá). Sau Lễ Phục Sinh, tháng 4/1969 anh xin phép về 1 tuần cưới vợ. (Mọi việc đều do Mẹ anh thu xếp). Sau đám cưới, anh trở lại đơn vị, tôi vẫn ở nhà với cha mẹ và gia đình mình, đợi Bộ Giáo Dục cho Cung về đi dạy học lại, mới tính chuyện hai vợ chồng trẻ ra ở riêng.

 

Nhưng anh không bao giờ trở lại với tôi nữa, ngày 30/7 anh tử trận ngay lần ra trận đầu tiên ở Xã Vĩnh Thanh Vân- Rạch Giá (Kiên Giang).


Nếu tính ngày: Chúng tôi cưới nhau được 3 tháng và ở với nhau được 2 tuần.


Tôi, Mẹ chồng và người anh ruột của anh cùng đi Kiên Giang đón xác anh về. –

 

Nhà xác Kiên Giang nằm cạnh bờ sông /Con nước đục lờ đờ pha sắc máu.

 

 

HUYỆT MỘ

 

Không bao giờ em quên

đường ba trăm cây số

em đi nhận xác anh

với trái tim thống khổ

 

Không bao giờ em quên

trại lính nghèo xơ xác

nến thắp trên quan tài

nước mắt em mặn chát

 

Không bao giờ em quên

mẹ già đầu nhuốm bạc

người anh trai đau xót

thương thân mình ngày mai

 

Không bao giờ em quên

mắt môi anh ngày ấy

mắt nhìn em đắm đuối

môi còn ấm tình đầy

 

Không bao giờ em quên

trái tim anh lãng mạn

chỉ một bóng hình em

giờ nhận thêm mảnh đạn

 

Không bao giơ em quên

chiếc quan tài màu vàng

lá cờ ba sọc đỏ

anh nằm im lìm đó

                                   chẳng một lời sau cùng

 

Không bao giờ em quên

nghĩa trang ngày hôm đó

nắm đất vun cuối cùng

anh nằm sâu huyệt mộ.

 

Cung tử trận Ngày 30 Tháng 7- 1969 (1)

 

    Thời gian cứ trôi, mây vẫn bay và nước sông vẫn chảy. Tôi khóc cười  theo vận nước nổi trôi. Tôi sống với tình yêu của hai bên gia đình: gia đình tôi và gia đình anh.

Tôi đi làm với sự thương quý, bao bọc của Hãng Thông Tấn The Associated Press, họ là những người đã yêu thương nâng đỡ tôi từ khi tôi còn độc thân, lấy chồng rồi lại độc thân. AP là một gia đình thứ hai của tôi, những người bạn Việt và Mỹ ai cũng yêu thương và hỗ trợ tôi qua thăng trầm của cuộc sống. Họ chia sẻ giọt nước mắt và tiếng cười với tôi.

Thế rồi Tháng Tư ập tới, một cơn hồng thủy hỗn mang. Gia đình, bè bạn, sở làm… tất cả đều tan tác như chim lạc bầy.   

 

Tôi bỏ quê hương ra đi theo sự xếp đặt của AP. Cuống cuồng, hỗn loạn. Tôi cố lo cho đại gia đình mình. Tôi không còn lòng dạ nào nghĩ tới ngôi mộ của Anh nằm cô đơn trong nghĩa trang. Sau này nghĩ lại tôi cũng ân hận mãi là không kịp đến giã từ Anh lần cuối.

 

 

Tạ Tình

Hãy tha thứ cho em
Không một lời từ tạ

Không nụ hôn cuối cùng
Trên mộ anh bia đá

Hãy tha thứ cho em
Không một lời kinh nguyện
Không một đóa hoa hồng
Không một hàng lệ nến

Hãy tha thứ cho em
Để rêu phong lối cũ
Để mộ chí hoen mờ
Để anh sầu trong mộ

Hãy tha thứ cho em
Một đi không ngoảnh lại
Để sỏi đá mỏi mòn
Để cho anh ngóng đợi

Hãy tha thứ cho em
Núi sông ngàn cách trở
Tình đã phụ tình rồi
Xin đừng mong ngóng nữa.

 

tmt- Tháng 4-1975 (*)

Cũng như tất cả những người Việt Nam di tản khác, ai ai cũng mang trong mình những ký ức buồn của kẻ lưu vong. Chúng tôi làm lại đời mình, nhưng làm lại như thế nào cũng không bao giờ quên được ký ức của thời sống trên quê hương mình: Buồn, vui, tiếng cười và nước mắt, vết thương tháng Tư không bao giờ đóng vẩy, không bao giờ khô. Thỉnh thoảng những người tha hương vẫn cúi xuống nhìn vết thương của mình.

 

Anh ạ, tháng Tư mềm nắng lụa

Hoa táo, hoa lê nở trắng vườn

Quê nhà biền biệt sau trùng núi

Em mở lòng xem lại vết thương (tmt) 

 

Vết thương chiến tranh, vết thương di tản dù xảy ra ở bất cứ quốc gia nào, cho bất cứ dân tộc nào cũng là những vết thương khó lành nhất. Mấy chục năm định cư ở xứ người: không bị đói, không bị lạnh, không bị vất vả bản thân, không chạy dưới bom đạn, sao tâm vẫn không thấy hoàn toàn vui, vẫn đau đáu một quê nhà xa lắc, vẫn thấy mất một cái gì quý lắm mà không bao giờ còn lấy lại được và mỗi năm tháng Tư về, thấy mình ngơ ngác đi tìm một cái gì chỉ còn bóng không còn hình.

 

Để rồi, tất cả như một cuốn phim quay ngược lại thời gian:

 

Tháng Tư đi vào trong núi

Tìm con ngựa trận năm nào

Yên cương bây giờ mục nát

Hỏi chàng chàng bặt âm hao (tmt)

 

Tháng Tư 1975- những con người hốt hoảng chạy từ các thành phố, các tỉnh, đổ về Saigon, rồi lại kéo nhau chạy tứ tán ra bến cảng ra phi trường và chạy bất cứ nơi nào có thể chạy. Những sinh linh đáng thương như những con kiến chạy chung quanh miệng chén, chạy một lúc lại trở về chốn cũ. Con mất cha mẹ, vợ chồng mất nhau, anh chị em thất lạc… Mất tất cả như không còn gì để mất.

Nước mắt, máu và những tiếng súng…. Thành phố thân yêu không còn là thành phố mà giống như một miếng mồi khổng lồ cho báo, cho cọp và cả những con chó già xác sơ ở đâu tới, vào giật xé, chiếm đoạt.

 

Tháng Tư những tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa tuẫn tiết theo thành, đã có những vị chỉ huy, quay súng tự bắn mình… họ không muốn chết dưới tay Cộng Sản Bắc Việt và để cho lính của mình được an tâm di tản với gia đình.

Tháng Tư, các công tư sở, các trường học, bệnh viện, các cửa hàng mua bán lớn nhỏ đóng những cánh cửa thật chặt, nhưng chặt cách mấy cũng bị đập, bị phá vỡ, bị chiếm đoạt… bởi những con người chưa từng được sống trong một “thành phố” thật sự bao giờ.Với những người Cộng Sản miền Bắc từ núi, từ rừng đi ra thì Saigon là một thiên đàng.

 

Những người quốc gia của Việt Nam Cộng Hòa hơn hai mươi năm trưởng thành xây dựng trong thành phố đó, họ đang bị “giải phóng” bởi những người ở rừng, ở hang đá vừa mới chui ra. Những con người nhìn những cuốn sách toàn chữ là chữ, không ích lợi gì ngoài việc dùng nhóm lửa. 

Thật đáng thương cho một thế hệ không được trưởng thành, được giáo dục bằng đạo đức và bằng tinh hoa của ngôn ngữ.

 

Những người Quốc Gia bỏ chạy chỉ lo thoát thân, họ không cần đem theo tài sản vật chất vì họ đã có cái vốn văn học, vốn giáo dục 20 năm thẩm thấu vào đời sống họ. Vật chất có mất đi họ có thể kiếm lại. Vốn liếng giáo dục và học vấn không ai lấy ra khỏi được ở con người Quốc Gia.Có mất mát vật chất nhưng không đáng để phải đau lòng. Mất thân nhân, ruột thịt, bạn hữu và mất cả một nền văn hóa tốt đẹp mới đáng kể.

 

Tháng Tư và những tháng tiếp theo của năm 1975, bao nhiêu người bị bắt, bị nhốt, bị tù đầy, bị đuổi ra khỏi chính căn nhà của họ đã gây dựng từ bao nhiêu năm tháng để rồi chết trong những bìa rừng, trong những cái trại có cái tên hoa mỹ là “Cải Tạo”. Bao nhiêu chiếc thuyền ra cửa biển không phải chỉ một tháng Tư mà những năm tháng kế tiếp đó. Thuyền chìm, thuyền cứ chìm, cứ mất tích, cứ bị hải tặc, người vẫn bỏ đi.

Bỏ đi vì chính quyền Cộng Sản mới đã tước đoạt đến tận cùng những gì thuộc về người Quốc Gia…Người Cộng Sản dùng chữ “Giải Phóng” hoa mỹ thay cho chữ “Chiếm Đoạt” Họ chiếm tất cả nhà cửa, tài sản vật chất của người quốc gia, nhưng họ không bao giờ chiếm được di sản văn hóa đạo đức của Việt Nam Cộng Hòa. Họ không chiếm được vì họ không đủ kiến thức, hiểu biết để chiếm đoạt và hưởng lợi ích.

 

Tháng Tư 1975 và những năm tháng kế tiếp sau này đã cả triệu người của Việt Nam Cộng Hòa bỏ nước ra đi, hiện sống rải rác trên thế giới. Họ bỏ đi vì không muốn con cháu họ lớn lên trong xã hội Cộng Sản. Họ đi, mang theo cái di sản văn hóa tốt đẹp mà họ đã được hấp thụ truyền xuống con cháu họ ở hải ngoại. Thế hệ nối tiếp đã làm được nhiều điều tốt đẹp trên những quê hương họ di trú.Tháng Tư của 50 năm sau, những bậc phụ huynh một phần đã qua đời theo tuổi tác, những người còn lại không còn trẻ nữa, cúi nhìn xuống đời mình, lòng vẫn nặng tình quê.

 

Tháng Tư, tôi bỏ nước ra đi dắt theo cha mẹ già và cuốn Chinh Phụ Ngâm, cuốn Kiều trong túi hành trang. Tôi đến Camp Pendleton vào một buổi tối

 ngày 21 tháng 4 năm 1975.

 

BÀI THƠ VIẾT Ở Pendleton,California

 

(Viết tặng những người di tản, ngày đầu đến trại Tỵ Nạn)

 

            Khi tôi đi một mặt trời vừa rụng

            Một kinh thành vừa sụp đổ sau lưng

            Một quê hương vừa thở nhịp cuối cùng

            Một dân tộc vừa ly khai dân tộc

 

             Khi tôi đến mặt trăng xanh vừa mọc

             Từng đoàn người già trẻ níu ôm nhau

             Ai gọi tên ai tiếng nấc nghẹn ngào

             Lều vừa dựng đứng chờ hồn thất lạc

         

             Khi tôi đi một cuộc tình vừa rạn

             Những đóa tường vi gục khóc trong bình

             Nụ hôn đau trao vội vã người tình

             Gói trong aó một cành hoa nước mắt

 

             Khi tôi đến... Ôi! một tôi đổi khác

             Áo khăn người nghe lạ tủi trên thân

             Chăn chiếu người đắp mãi vẫn lạnh căm

             Ly nước ngọt trên môi nghe muối mặn

 

             Khi tôi đi cả dòng sông đứng lặng

             Những vai cầu khuỵu xuống buổi tiễn đưa

             Nón bài thơ thả trên dòng nghinh lũ

             Sóng tang thương nức nở mấy cho vừa.

 

             Ngày 21 Tháng Tư/1975

 

             VIẾT TIẾP SAU 20 NĂM

 

             Hai mươi năm sau mở trang thơ cũ

             Giấy ố vàng... vẫn chẩy một dòng sông

             Tôi úp mặt vào thơ tìm tiếng sóng

             Hồn cỏ lau.  Ôi! bãi nhớ mênh mông

 

            Tháng Tư/1995

 

            VIẾT TIẾP SAU 45 NĂM

 

           Bốn mươi lăm năm nhìn bàn tay mở

           Thời gian trôi vớt được giọt nào không

           Dòng sông nào chẩy hoài trong ký ức

           Cửu Long ơi sao sóng cạn giữa lòng.

 

           Tháng Tư/2020

 

          VIẾT TIẾP VÀO NĂM 50

 

           Sợi tóc nào vừa nhuộm

           Vẫn trắng với thời gian

           Giọt nước mắt nào tan

           Vẫn đầm đìa muối mặn

           Quê hương còn… mà mất

           Hận thù vẫn không vơi

           Lá cờ nào xé đôi

           Cũng hai màu vàng đỏ

           Màu đỏ là của máu

           Màu vàng là của da

 

           Một mai khi nằm xuống

           Cờ nào phủ thịt da

           Một mai khi nhắm mắt

           Ta có xót thương Ta

 

          Tháng Tư /2025

 
Tôi đã đi qua 50 năm ở quê người, mỗi năm đều có 1 Tháng Tư, như vậy là tôi đã cõng trên lưng 50 Tháng Tư. Chao ơi là nặng!

 
Bao nhiêu giọt lệ bao nhiêu tiếng cười, (Giọt lệ luôn đi trước tiếng cười), bao nhiêu đổi thay trong cuộc sống.Từ độc thân, lập gia đình, có con, có cháu ngoại, cháu nội… Từ môi thắm, má hồng thành da mồi, tóc bạc và buồn hơn nữa là càng nhiều tuổi và không còn bận mưu sinh, càng thấy như mình vẫn chạm tay vào một vết thương không bao giờ đóng vảy.

Cha mẹ và một vài người thân ruột thịt, vài người bạn quý đã qua đời. Thân xác họ nằm trong đất hay lênh đênh trên bọt sóng, tất cả đều để lại tiếng dội trong lồng ngực gày, để khi nào lòng quê chợt động, tôi mang ra tự vỗ về tôi.

Hình như có sống xa quê, người ta mới biết cái tình quê hương nó sâu đậm đến thế nào trong trái tim mình. Nhất là thức giấc vào một đêm tháng Tư thì khó tìm lại được giấc ngủ. Bao nhiêu hình ảnh đau buồn thi nhau kéo về, mình không khóc nhưng sao lòng im ắng thế, như nghe được tiếng thở của đêm và hình như tháng Tư đang khóc.

 

Em nằm im lặng nghe đêm thở

Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm

Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc

Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)

 

Tôi tự nói với mình: 50 năm rồi đấy, sao mình có thể sống ở ngoài quê hương lâu đến thế nhỉ! Ngày xưa còn nhỏ, cứ nghe thấy người bỏ làng, bỏ quê đi làm ăn xa, họ phải mau mau trở về nguyên quán khi tuổi đời đã cao, họ muốn được sống những ngày cuối đời ở quê nhà, và khi chết,được chôn cất trong làng trong quê mình. Bây giờ mình không chỉ xa quê, xa làng, mình còn xa cả nước. Mình đã rơi vào câu nói: “Sống nơi đất khách/Thác chôn quê người”

 

Có người bạn nói: “Đây là quê hương thứ hai của mình.” Thật vậy sao!

Tôi chỉ nghe nói Quê Nội, Quê Ngoại, nhưng không có nghĩa là hai tổ quốc, hai quê hương, vì làm sao một con người mà có tới hai quê? Chao ôi! Sao mà khó thế!

 

50 năm cũng cho tôi nhiều người bạn mới thành những người bạn lâu năm, những người bạn Việt Nam cùng chia xẻ được những ký ức về nguồn cội, về văn chương, văn hóa của quê nhà, để đôi khi cùng nhau ngậm ngùi hay hạnh phúc. Những người bạn khác quốc tịch, khác văn hóa trên mảnh đất Hợp Chủng này đã cho tôi học được rất nhiều điều: từ kiến thức và lòng nhân ái của họ, để thấu hiểu câu: “Cũng nhân tâm ấy há thiên lý nào” (2) của người xưa để lại.

 

Năm mươi năm đôi khi nghĩ lại giật mình, sao mà dài thế, nhưng đôi khi lại thấy ngắn như một tiếng thở dài.

 

Anh ạ tháng Tư sương mỏng lắm

Sao em nhìn mãi chẳng thấy quê

Hay sương thành lệ tra vào mắt

Mờ khuất trong em mọi nẻo về. (tmt)

 

Tháng Tư khi nghĩ về quê nhà, nghĩ về một Saigon thân thương với bao nhiêu kỷ niệm đầu đời, từ thuở còn đi học cho đến lúc trưởng thành, nhưng hình ảnh sâu đậm nhất để lại trong tâm vẫn là hình ảnh pho tượng người lính VNCH trước Nghĩa Trang Quân Đội. Người ta có thể kéo pho tương xuống, đập tan tành nhưng không đập được linh hồn của pho tượng đó trong tâm khảm của người quân, dân Việt Nam Cộng Hòa.

 

Tháng Tư của 50 năm sau. Chúng tôi, những người sống còn trong cuộc chiến ”máu đỏ da vàng” này, luôn luôn kính trọng và ghi ơn những Tướng, Tá, những Người Lính trong hơn 20 năm của VNCH đã vị quốc vong thân, và những quân nhân còn sống sót lưu vong đến ngày hôm nay, họ là những pho tượng không bao giờ vỡ dưới thời gian hay bất cứ bạo lực nào.

 

Trần Mộng Tú- Tháng Tư-1975-2025

 

(*) Thơ- Tạ Tình- Phạm Anh Dũng phổ nhạc

(1)(Chi tiết chuyến đi đón xác ghi lại ở bài: Bình Thủy 1969)

(2)Gia Huấn Ca.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.