Hôm nay,  

Chào tháng năm

19/05/202406:57:00(Xem: 3338)
Tùy bút

hoa_quynh
Bảo rằng mới, ừ thì là mới nhưng thật sự thì tháng năm đã từ vô thủy đến giờ. Tháng năm là tháng năm nào? Năm nào cũng có tháng năm, nếu bảo mọi tháng đều là tháng năm thì cũng chẳng sai. Năm, tháng, ngày, giờ… là cái khái niệm con người chế ra, tạm gọi là thế, tạm dùng để đo, đếm cái gọi là thời gian. Bản thân thời gian cũng là một khái niệm như những khái niệm dùng để đo lường nó.
    Bản chất thời gian là gì thì ai mà biết, nó vốn vô hình, vô tướng, vô trọng lượng, vô sắc, vô thanh… Nó không đầu không cuối và dĩ nhiên cũng không thể nào biết đâu là chặng giữa. Con người, vạn vật muôn loài và thế giới này có hình thành hay hoại diệt thì nó vẫn cứ là nó. Nó chẳng sanh ra và cũng chẳng mất đi.
    Chào tháng năm, tháng năm lặng lẽ như nước chảy mây bay, hoa rơi lá rụng. Tháng năm làm cho ta trưởng thành rồi cũng chính tháng năm đưa ta đến già nua và hoại diệt. Mới ngày nào nằm nôi khóc oe oe, rồi thoắt cái thành thiếu niên tung tăng, phát triển thành thanh niên căng tràn nhựa sống, cuối cùng thì chẳng mấy chốc lụm cụm lão niên.
    Tháng năm trôi qua, đời người ngắn lại. Phật bảo mạng sống chúng ta như con cá trong ao mà đang nước bốc hơi cạn dần. Tháng năm trôi qua như nước bốc hơi, mỗi phút giây qua đi là đời ngắn thêm chút nữa. Đời người ngắn lắm, chỉ là sát na ở giữa làn hơi thở vào và thở ra. Trong cái khoảng cách ngắn ngủi ấy lại diễn ra cả một vở tuồng bi hài kịch: buồn-vui, mừng-giận, sướng-khổ, tốt-xấu, thành-bại, đắc-thất, vinh-nhục… Bởi vậy mới khổ!
    Thời gian tháng năm ngắn ngủi lắm vậy phải làm sao? Phải tranh thủ ư? Đã tranh thủ là sai rồi, làm sao mà tranh thủ được? Chắc chắn là không được vì khi cái quả đã thành thì phải chịu thế thôi! Chỉ có cách là tạo nhân tốt để một mai có cái quả khác khá hơn. Trăm năm ngắn tạm khi phước báo chưa hưởng hết,  một ngày dài ghê khi mà phải nhận lấy cái quả xấu, mong nó kết thúc sớm nhưng đâu dễ gì!
Tháng năm vô tận, dòng thời gian miên viễn. Phật dạy đời người ngắn ngủi, hãy sống chánh niệm trong phút giây hiện tại bây giờ và ở đây. Đó là hiện pháp lạc trú. Cái phút giây hiện tại quý báu vô cùng vì quá khứ đã qua, không hối tiếc; tương lai chưa đến, không mong cầu. Kinh Nhất Dạ Hiền Giả viết:
 
“Quá khứ không truy tầm
Tương lai không ước vọng
Quá khứ đã đoạn tận
Tương lai thì chưa đến
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính là đây
Không động, không rung chuyển
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai...”
 
Thời gian đời người ngắn ngủi, tranh thủ công danh sự nghiệp, tên tuổi, cơ đồ… không thể được! Đó là cái quả trổ thành nhờ phước báo gieo trồng từ quá khứ, khi không có phước báo thì không thể nào tranh được! Cái duy nhất có thể tranh thủ là thiện pháp, thiện hành. Tất cả lời Phật dạy là thiện pháp, làm theo lời Phật dạy là thiện hành. Việc gì lợi người, lợi vật là thiện pháp, thiện hành. Tất cả việc gì có thể làm giảm thiểu tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến… là thiện pháp, thiện hành. Phật pháp mênh mông như biển cả, hàng Phật tử sơ cơ như chúng ta qủa thật quờ quạng mù mờ, bởi vậy phải tranh thủ học để biết được giáo lý căn bản, có nắm bắt được pháp học căn bản thì mới biết đâu là chánh-tà, chơn-ngụy… và từ đó mới có thể noi theo thiện pháp, thực hiện thiện hành.
    Pháp học căn bản mà Phật dạy cũng chẳng có gì cao siêu, thâm sâu hay phi phàm. Đó là khổ, nguyên nhân khổ, con đường thoát khổ. Con đường thoát khổ chính là bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Thiện pháp, thiện hành: Làm tất cả các điều thiện, không làm các điều ác, là việc gì ác chưa sanh đừng cho phát sanh, đã sanh rồi thì làm cho tiêu trừ. Việc gì thiện chưa sanh thì làm cho sanh khởi, đã sanh rồi thì làm cho tăng trưởng. Nhiêu đó thực hiện trong từng phút giây, làm trong một đời và nhiều đời nữa cũng không xong (nếu xong thì đâu còn sanh tử luân hồi).
    Tháng năm trôi qua như chớp mắt, cái cần tranh thủ chính là những thiện pháp, thiện hành, bởi một mai hết số thì chỉ có nghiệp thiện-ác mang theo. Chính cái nghiệp thiện-ác này quyết định ta tái sanh như thế nào, trong thân phận nào, ở cảnh giới nào. Kinh suy niệm về nghiệp viết: “Tất cả chúng sanh là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc cho vạn loài. Chính nghiệp phân chia sự dị biệt cao thấp trong đời. Chính mình làm việc ác nên mình bị uế trược, chính mình làm việc thiện nên mình thanh tịnh. Thanh tịnh hay uế trược đều do mình, không ai có thể khiến người khác thanh tịnh hay uế trược”
    Việc thiện-ác với hàng Phật tử sơ cơ chúng ta nhìn nhận cũng rất mơ hồ, phân biệt không rõ ràng, nhiều khi ác cho là thiện và thiện cho là ác. Cũng tại vì thiếu pháp học căn bản, thiếu hiểu biết giáo lý, chẳng rõ lời Phật dạy nên cứ hùa theo đám đông chê thầy này, khen thầy kia, theo tà sư loạn pháp, theo gian nhân ác đảng, loạn cửa chùa gây bè phái… Bởi vậy việc học giáo lý căn bản rất quan trọng và cần thiết biết bao.
    Tháng năm không đợi ai, chẳng nể Phật, càng coi thường Diêm Vương. Vì vậy Phật tử sơ cơ chúng ta  phải tranh thủ trang bị pháp học căn bản để nhận biết thiện pháp, làm thiện hạnh.
    Tháng năm xanh biếc lá ngàn, cây đời sum xuê, đời khổ nhưng vẫn đẹp và an lạc ở cái phút giây hiện tại bây giờ và ở đây. Người nào nếm được phút giây an lạc này là do tự thân họ chứ chẳng có ai ban phát, chẳng có ai có khả năng làm cho ta an lạc, dù đó là Phật, Bồ Tát, thánh thần. Phút giây an lạc là tự thân của mỗi người, cho dù có thiện ý hảo tâm cũng không thể nào đem tặng được, dù đó là cha mẹ, anh me, vợ chồng, con cái, bằng hữu… Mỗi người tranh thủ thiện pháp, thiện hành để nếm cái phút giây an lạc hiện tiền, người dù có thương nhau ra rít nhưng tự thân mỗi người hưởng cái phút giây an lạc chứ không làm sao san sẻ được!
    Tháng năm vô tận, đời sống mong manh, phút giây hiện tại bây giờ và ở đây là cái phút giây ai cũng có thể có được. Mục đích tối thượng của Phật pháp là dạy người thoát khổ, liễu sanh thoát tử, chứng đắc tịch tịnh niết bàn. Tuy nhiên căn cơ con người vốn khác biệt, năng lực có hạn, ý chí non nớt vô chừng, tín tâm trồi sụt… Hàng Phật tử sơ cơ chúng ta chưa thể cao vọng huyễn hoặc nói càn về mục đích tối thượng này. Hẳn nhiên theo lời Phật dạy thì húng ta có thể sống an lạc, có phút giây an lạc hiện tiền ngay trong đời, diệu dụng của Phật pháp là ở chỗ này. Luân hồi sanh tử bất tận, đời nối tiếp đời dằng dặc chưa thể chấm dứt sanh tử luân hồi thì sống với phút giây an lạc hiện tiền.
    Chào tháng năm, dấu ấn vô hình trên dòng thời gian vô thủy vô chung. Tháng năm hữu hạn của đời người. Tháng năm với phút giây lạc trú hiện tiền, bây giờ và ở đây.
 

– Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 0524

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.