Hôm nay,  

Đọc “TRỌN ĐỜI YÊU THƯƠNG” của Duy Nhân

14/05/202408:03:00(Xem: 472)
Screenshot 2024-05-15 135511

Tôi vừa được nhà văn Duy Nhân tức Nguyễn Đức Đạo trao tặng tập truyện “Trọn Đời Yêu Thương”. Sách dày 336 trang với trang bìa được trình bày thật đơn giản nhưng nội dung rất súc tích. Tập truyện gồm có 29 bài văn xuôi và 7 bài thơ. Lời văn bình dị dễ hiểu, phong cách viết văn cho thấy bản tính của tác giả Duy Nhân là chân thật và thẳng thắn. Đây là một tập truyện ngắn mà tác giả đã kể về cuộc đời mình và những người thân giống y như một cuốn hồi ký.
    Cuộc sống lúc thiếu thời của tác giả Duy Nhân thật khó khăn, vất vả nhưng tác giả đã không ngừng phấn đấu từ một cậu bé miền quê để vươn lên thành một nhà khoa bảng. Ngoài công tác chuyên môn của một chuyên viên Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam, tác giả còn đọc sách, viết văn và làm thơ. Khi về già, tác giả có một đam mê đặc biệt là nhiếp ảnh. Tác giả đã đi khắp mọi miền, đặc biệt về Việt Nam, để săn lùng những danh lam thắng cảnh đưa vào ống kính.
    Cũng như mọi thanh niên trong hoàn cảnh nước nhà đang có chiến tranh, tác giả Duy Nhân  được động viên gia nhập quân ngũ để thụ huấn khóa 1/72 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và được phân bổ về Tiểu Đoàn Địa Phương Quân 472 đi chiến đấu ở các mặt trận tại tỉnh Vĩnh Bình. Rồi sau đó, khi bị đổi về một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân khác ở tỉnh Kiến Tường thì tác giả Duy Nhân lại tiếp tục đi “hành quân liên miên, toàn những trận đánh lớn.”
    Khi cộng sản xâm chiếm miền Nam, tác giả cũng bị tù “cải tạo” đi lao động khổ sai nhưng không hề than vãn, oán trách hay hận thù mà coi đây như là một thử thách nên tác giả vẫn cứ làm thơ:
 
“Trời sinh ra với tâm hồn nghệ sĩ
Chốn lao tù, ta vẫn cứ làm thơ
Yêu làm sao, áng mây trắng trên trời
Mà mơ đến những bến bờ vô định…”
 
Tất nhiên khi ra tù dưới chế độ mới, tác giả không thể nào được tuyển dụng vào cơ quan chính quyền nhưng may mắn được giới thiệu vào làm việc tại Liên Hiệp Xã thành phố là một cơ quan không có tính chất chính trị, chuyên quản lý các hợp tác xã và tổ hợp tiểu thủ công nghiệp. Thế mà đã có người nghĩ sai là tác giả đã cộng tác hay hợp tác với chính quyền mới.
    Vì ra tù quá sớm không đủ điều kiện đi định cư ở Mỹ theo diện HO nên tác giả đã được người em vợ bảo lãnh sang sống ở Chicago trong 23 năm qua cùng với gia đình đều nhập quốc tịch Mỹ và được hưởng mọi quyền hạn cùng phúc lợi xã hội. Tại đây tác giả đã tích cực tham gia các sinh hoạt cộng đồng và các cuộc họp mặt thân hữu. Tác giả sống rất hòa đồng, cởi mở và vị tha nên được nhiều người quý mến.
    Cuộc đời của tác giả gặp được nhiều may mắn mà tác giả coi như một phép lạ: Từ một đơn vị tác chiến nguy hiểm, tác giả được điều động về làm việc tại Tòa Hành Chánh tỉnh mà tác giả thắc mắc không biết do đâu. Sau này tìm hiểu, tác giả mới biết trên một chuyến xe đò, tình cờ ngồi gần và trò chuyện với một cụ già là một chức sắc Cao Đài khiến cụ này mến mộ và ghi vào sổ tay tên Nguyễn Đức Đạo với số quân rồi chính cụ này đã gởi gắm tác giả cho Trung Tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Vĩnh Bình nên mới được như vậy. Tác giả nghĩ rằng cứ ở hiền làm lành thì sẽ có quới nhơn phù hộ! Tác giả còn tin vào số mệnh: Sau khi chấm dứt nhiệm vụ ở Tòa Hành Chánh tỉnh thì tác giả được điều động về làm Trưởng ban Một của một tiểu đoàn tại Ao Bà Om rồi ông Tỉnh Trưởng mới lại ra lệnh thuyên chuyển tác giả về tỉnh Kiến Tường mà tác giả tự hỏi tại sao Tỉnh Trưởng của tỉnh này lại có quyền thuyên chuyển thuộc cấp qua tỉnh khác? Tác giả viết: “Chuyện xảy ra đã mấy chục năm nhưng khi nghĩ tới, tôi vẫn còn thắc mắc vì cho tới nay, chưa có ai lý giải được cho tôi.”  Bỗng vào một ngày cuối năm, tác giả được lệnh trình diện Tiểu Khu Kiến Tường để nhận sự vụ lệnh về Phòng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu đang cần những sĩ quan có trình độ đại học Luật Khoa hoặc Quốc Gia Hành Chánh. Sau một thời gian ngắn phục vụ nơi đây, tác giả lại được biệt phái trở về nhiệm sở cũ là Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Như vậy, tác giả đã gặp từ may mắn này đến may mắn khác. Đúng là con người cũng có số như giày dép!
    Tác giả đã trọn đời yêu thương gia đình, dòng họ, bạn hữu, đồng loại, đồng bào và quê hương đất nước. Tác giả viết: “Khi nhớ về Việt Nam thì tôi nhớ đến những người thân của tôi còn ở đó. Tôi nhớ bà ngoại tôi, ba tôi, anh hai tôi, ba vợ tôi là những người đã mất.” Viết về người cha, tác giả đã thổ lộ: “Từ Sài Gòn, ba được xe của hãng đưa rước đi làm hàng ngày. Mỗi sáng, tôi ra mé lộ trước nhà canh đúng giờ xe chạy ngang qua để xem coi có trông thấy ba tôi không. Khi xe chạy ngang qua, ba tôi thường thẩy xuống cái gói đồ ăn mà má tôi đã làm sẵn cho anh em tôi.”
    Viết về mẹ và bà ngoại, tác giả rất đau buồn mà nói rằng: “Mẹ tôi đã mất khi tôi mới mười một tuổi.” “Ông Trời vẫn còn thương nên thay vào vị trí của Mẹ, đã cho tôi có Bà Ngoại” Tác giả cũng không quên nhắc đến cậu út Tám: “Lúc bốn, năm tuổi tôi thường bị Cậu Tám bắt nhốt vào nhà tắm giữa đêm khuya. Mặc cho tôi gào thét, kêu la cách nào, Cậu Tám vẫn không mở cửa.” Bà Ngoại lại rầy Cậu: “Mày làm nó sợ, lớn lên nó bị tâm thần, nó khật khùng thì làm sao?”Nhắc đến ba của vợ, tác giả viết: “Ông là người kỹ lưỡng, khó tính, rất hoài cổ, yêu thương con cháu, luôn mang nặng trong lòng một tâm tư phiền muộn, nhất là trong những ngày tháng cuối đời. Là con rể nhưng tôi có nhiều thời gian gần gũi với ông, hiểu ông hơn những chàng rể và cô dâu khác, kể cả những người con của ông.”  Đặc biệt về tình yêu thương người anh cả, tác giả Duy Nhân đã nhắc lại những kỷ niệm: “Khi cần tắm giặt, anh tôi dẫn mấy đứa em xuống suối trước nhà, tha hồ đắm mình trong dòng nước trong veo, mát rượi.” “Cũng tại dòng suối này, hai anh em tôi đi hái rau, xúc tép, bắt những con cá nhỏ trong những đám rong rêu hai bên bờ, thỉnh thoảng cũng bắt được những con rắn bông súng, đem về kho mặn thành một món ăn ngon lành.”
“Trong đời, tôi đã chứng kiến nhiều cái chết của người thân nhưng chưa lần nào cảm thấy mất mát và đau khổ nhiều bằng cái chết của anh Hai tôi.”
    Còn đối với người vợ thân yêu thì:
 
“Anh muốn em còn nét ngây thơ
Muốn em tựa cửa đứng mong chờ
Mỗi chiều gió lộng, hoàng hôn xuống
Đôi mắt sầu dâng ngập ý thơ
                   
Anh vẫn nhớ hoài đôi mắt em
Nhớ hàng châu ngọc đọng sau rèm
Một trời thương nhớ màu xanh biếc
Mây có ngừng trôi trong mắt em?”                                                                        

T
ác giả Duy Nhân rất hãnh diện về các con cháu của mình: “Con trai tôi cũng thừa hưởng cái gen của ông nội là hiền lành quá đỗi!” Còn các cháu nội ngoại Allison, Brandon, Charlie và Emma đều là những đứa trẻ thông minh, giỏi giang và có nhiều tài năng đặc biệt. “Allison tự tin, xách vợt ra sân thi đấu tennis với các bạn cũng như đĩnh đạc ngồi vào chiếc dương cầm biểu diễn trước công chúng.” Brandon “thường một mình múa võ và nói I’m powerful và làm ra vẻ như sẵn sàng vào cuộc.” Khi thành ông nội của Charlie, tác giả mừng ra mặt:
 
“Cháu mình nối dõi tổ tông
Bảy mươi sáu tuổi còn mong nỗi gì”
“Charlie, cháu của nội ơi
Sao con giống nội quá trời con ơi
Với vầng trán rộng thảnh thơi
Sẽ nên nghiệp lớn, rạng ngời nhà ta”
 
Charlie hay tò mò, táy máy các thiết bị, máy móc trong nhà và rất thương mến em Emma.
    Tác giả Duy Nhân cũng không quên đem lòng yêu thương đến các bạn hữu như mỗi lần có ai đau ốm đều đến thăm viếng và an ủi cũng như giúp đỡ khi hữu sự. Đối với bạn hữu, tác giả Duy Nhân có quan niệm:
 
“Cuộc đời rồi cũng phù vân
Sờ lên đầu bạc đa phần trống trơn
Hơi đâu tính chuyện thiệt hơn
Cùng chung ngồi lại sau cơn giận hờn”
 
Trong niềm đam mê nhiếp ảnh, mỗi năm Duy Nhân về Việt Nam một hoặc hai lần và đã kết bạn với những người cùng sở thích cả nam lẫn nữ thuộc mọi lứa tuổi để cùng nhau đi chup hình những danh lam thắng cảnh như làng gốm Bát Tràng, làng văn hóa-du lịch Lũng Cẩm ở Hà Giang, khu du lịch Hoàng Liên Sơn, trung tâm nghỉ dưỡng trên vịnh Nha Trang, bãi biển Sầm Sơn, vịnh Hạ Long, ruộng bậc thang thuộc vùng Tây Bắc, hang Pác Bó, thác Bản Giốc, Phan Rang, miền Tây Nam Bộ v.v…
    Với những bài viết như “Việt Kiều về quê”, “Trưởng Công An Phường”, “Hợp tác xã”, “”Ông Chủ tịch”, “Khẩu K54 trong hộc bàn”,  “Văn hóa và cải cách”, “ Chữ nghĩa của đỉnh cao trí tuệ loài người” và “Người không nhận tội”, tác giả Duy Nhân đã nói lên cảm nghĩ của mình về bản chất của chế độ cai trị hiện thời tại Việt Nam. Tác giả viết: “Hai mươi năm sống dưới chế độ mới có tên gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một thời gian tương đối đủ để cho tôi hiểu chế độ này về mọi mặt từ xã hội đến kinh tế, văn hóa, chánh trị v.v…”
    Trong truyện “Sân khấu cuộc đời”, tác giả đã diễn tả cái hệ lụy của cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn suốt hai mươi năm.
    Nói tóm lại như lời mở đầu của tác giả “mong sao các em, các con và các cháu tôi sẽ đọc, hiểu mà không quên ông bà, tổ tiên, cội nguồn, gốc rễ của mình, nhất là các cháu của tôi đã sinh ra và lớn lên ở Mỹ”. Đây cũng là điều mong muốn đối với tất cả giới trẻ sinh ra và lớn lên tại hải ngoại. Và đây là các bài viết mà những người cùng thế hệ với tác giả nên đọc để ôn lại lịch sử nước nhà và suy nghĩ đâu là chánh, đâu là tà!
 

Phan Lục

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi thích đọc “thơ ngắn” của Đỗ Nghê. Những bài thơ “ý tại ngôn ngoại,” đọc đi đọc lại, mỗi lần đọc đều nhận ra thêm một cái gì mới, khác, mở ra những chiều kích bát ngát hương thơm...
Cầm trên tay tập thơ “Thơ hai dòng & cỏ biếc” của anh Trần Hoàng Vy gởi tặng mà thấy vui chi lạ. Tập thơ đẹp, trang nhã và tươi rói như còn thơm mùi mực. Tập thơ dày 148, được ấn hành bởi nhà xuất bản Nhân Ảnh, tháng 4/2024...
Lịch sử Phật Giáo thế giới hơn hai mươi lăm thế kỷ qua không thiếu những câu chuyện có sức thu hút đặc biệt về những đấng minh quân đem Chánh Pháp của đức Phật ra để trị quốc. Chẳng hạn, Vua A-dục (Aśoka – 304-232 BC) ở Ấn Độ, Vua Lương Võ Đế (464-549) ở Trung Hoa, Vua Songtsän Gampo (thế kỷ thứ 7 Tây lịch) ở Tây Tạng, Thánh Đức Thái Tử (574-622) ở Nhật Bản, Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) ở Việt Nam, v.v…
“Chân dung” do Ngô Thế Vinh vẽ ra không giống các chân dung của các tác giả khác. Đặc biệt là với các cây viết đã khuất núi, anh phân tích chi tiết căn bệnh đưa tới sự ra đi của các bạn này. Như bệnh ung thư cột sống sarcoma của Nguyễn Xuân Hoàng, ung thư gan của Nguyễn Mộng Giác, ung thư mắt của Cao Xuân Huy, ung thư tụy tạng của Nghiêu Đề, ung thư tuyến tiền liệt của Đinh Cường. Những chi tiết này sẽ là những tài liệu quý báu cho văn học sử sau này.
Tập “Thơ Khánh Trường” ra đời chỉ để “Vui thôi mà”, gồm ba phần: Phần 1: Ngẫu Hứng. Phần 2: Mai Anh Về Miền Trung & Những Bài Thơ Khác; và Phần 3: Khổ Lụy. Ngẫu Hứng là phần tôi thích nhất, tập hợp những bài thơ ngắn “bất chợt nẩy ra trong đầu”. Thơ được viết tự nhiên, không màu mè, không cơ bắp, không gồng, không làm dáng. Là phần mở đầu, Ngẫu Hứng cũng là phần tách riêng khỏi tập thơ, ở một vùng đất cao hơn, trên một khí hậu tươi mát, có nhịp sống tâm linh riêng. Trong khuôn khổ bài này xin chỉ đọc phần “Ngẫu Hứng”.
Lịch sử không mắc kẹt trong Nguyễn Thanh Việt, tác giả cuốn tiểu thuyết The Sympathizer (Cảm tình viên, Kẻ hai mặt, Kẻ nằm vùng, Kẻ nội tuyến) xuất bản năm 2015, nó bùng nổ dữ dội với nỗi phẫn nộ rát bỏng hiếm thấy trên một trang viết văn học nào...
Alexander Solzhenitsyn sau 8 năm lao tù (1945-1953) trong chế độ Cộng Sản Liên Xô đã ghi lại hình ảnh kinh hoàng, đau thương đó trong các tác phẩm The First Circle (Tầng Đầu Địa Ngục), One Day in The Life of Ivan Denitsovich (Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denitsovich), Khu Ung Thư (Cancer Ward), Tầng Đầu Địa Ngục (The First Circle), Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago)… Những tác phẩm này đã được dịch sang Việt ngữ, ấn hành trước năm 1975 ở Sài Gòn...
Hồi ký "Người muôn năm cũ" của nhà văn Phạm Gia Đại dày trên 500 trang gồm có 17 chương, mỗi chương với vẻ riêng, đặc sắc của từng chương. Cuốn sách đưa chúng ta trở về những năm tháng tươi đẹp đầy kỷ niệm thương yêu của Sài Gòn, của miền Nam và những ký ức đau buồn sau ngày mất miền Nam, và những năm tháng sống trở lại với cuộc đời mới trên miền đất tạm dung...
Tuyển tập Những Mẩu Chuyện Đời của Đào Ngọc Phong là những dòng chữ phần lớn rất buồn, kể lại chuyện đời của anh, chuyện đời của những người anh gặp trong đời từ Việt Nam cho tới xứ người, chuyện của những người trong thế hệ của anh bị cuốn vào cuộc chiến phân đôi, chuyện của những người xa xứ đang ra sức mưu sinh, và chuyện vui buồn của một kiếp người. Chuyện rất buồn xen lẫn với chuyện rất vui. Và hầu hết là giữa những dòng chữ vẫn có các niềm vui có hậu.
Chủ Nhật (2PM-5PM), 24 tháng 3 năm 2024, GS Trần Gia Phụng từ Canada sang thuyết trình “Những Học Thuyết Chính Trị Hoa Kỳ Về Chiến Tranh Việt Nam” tại Viện Việt Học, 15355 Brookhurst St, Suite 222, thành phố Westminster và tham dự Giỗ Lễ Nhà Cách Mạng Phan Chu Trinh Lần Thứ 98 cùng ngày của Hội Ái Hữu Phan Chu Trinh Đà Nẵng (ông là giáo sư dạy sử của trường nầy)...