Hôm nay,  

Đọc những vần thơ cho Mẹ

12/05/202408:13:00(Xem: 2933)
Tản mạn -- Ngày Lễ Mẹ

117771775_1818674078301723_2593627914711228905_n

Mẹ đã về cõi vĩnh hằng. Tưởng nhớ mẹ, nhà thơ Trần Thanh Quang gửi tiếng lòng vào một trong những bài thơ dành cho mẹ đầy xúc động. Bài thơ có tựa chỉ một tiếng Mẹ nhưng gói gắm cả bầu trời tâm sự của người con. Anh đã chọn thể thơ lục bát truyền thống để chuyển tải thi ý, nghe giai điệu vọng về như tiếng ru của mẹ thuở nào!
    Mở đầu bài thơ là một lời tâm sự với em -nhân vật trữ tình khác như thể để dặn dò nhân vật em: Em còn có mẹ, ta thì không. Em có mẹ để về, để sà vào lòng mẹ, còn ta mẹ đã đi xa rồi, chỉ còn lại nỗi niềm nhớ thương chất ngất.
 
“Em còn có mẹ để về
riêng ta nặng nỗi ê chề nhớ thương
những điều rất đỗi bình thường
luôn phơi kín suốt con đường ta qua”
 
Hồi ức nhớ lại. Có những điều rất đỗi bình dị trong cuộc sống bây giờ đã thành kỷ niệm. Kỷ niệm đã qua với mẹ với gia đình luôn hiện hữu trong tâm trí. Hình ảnh mẹ, lời mẹ nói, cử chỉ của mẹ,.. luôn là hành trang mang theo trong mỗi chặng đường đời khi vấp ngã hay sóng gió cuộc đời, nghĩ về người mà vượt qua dâu bể.
    Mẹ mất đi, mọi đứa con dù ở độ tuổi nào cũng cảm thấy như bầu trời sụp đổ và cảm giác bơ vơ, đơi côi hơn bao giờ hết. Nỗi nhớ mẹ thường trực trong tâm trí, Tâm trạng người con mất mẹ nhiều khi thờ thẫn, không muốn chấp nhận sự thật là mẹ đã không còn nữa trên đời, ngẩn ngơ nhìn vào cõi mông lung không định hướng, như thể mẹ vừa mới đi đâu. Nhớ mẹ, tác giả nhớ hình dáng mẹ với hình ảnh “ bờ vai khô” là dấu hiệu của tuổi tác, dấu hiệu của thời gian đã bào mòn sức khỏe mẹ.
Hình tượng “bờ vai khô” cũng phần nào nói lên nỗi vất vả lo toan của mẹ. Bờ vai ấy đã gánh những gì:
 
“Bờ vai gánh những xô bồ
những cay đắng bạc áo thô mẹ hiền”
 
Câu thơ hàm súc, ít lời mà nhiều. Cuộc đời mẹ - người phụ nữ Việt Nam chịu thương chịu khó tần tảo sớm trưa, chăm lo gia đình và nuôi dạy con cái. Những cụm từ, “vai gánh xô bồ”; “cay đắng”, “bạc áo thô mẹ hiền” cho ta cảm nhận được mẹ đi qua cuộc đời không ít gian trân, những xô bồ của bộn bề cuộc sống. Nhất là mưu sinh trong thời loạn. Cả những buồn vui của kiếp người, của phù trầm dâu bề mà mẹ từng trải qua. Câu thơ như lời kể trong tiếng khóc thương của người con tưởng nhớ mẹ.
    Tác giả nhớ và tiếc những tháng ngày bên mẹ giờ đã lùi xa vào dĩ vãng, anh dặn dò với “nhân vật em”. Khi còn mẹ dẫu mẹ sức khỏe của tuổi xế chiều, nhưng vẫn còn hiện hữu bên cạnh con thì đó là điều hạnh phúc mà anh không thể có lại được. Vì vậy, tác giả như muốn gửi gắm một cái ôm như anh đã từng ôm mẹ. Anh dặn người em: khi về quê hãy ôm mẹ thật chặt, ôm luôn cả vạt áo. Ai có được vòng tay hơi ấm của mẹ thì bao nỗi nhọc nhằn trên đường đời đều tan biến. Không có gì ấm áp hơn là bên cạnh tình thương yêu của mẹ. Đó là điều quý giá, mà anh đã mất, không dễ gì bù đắp được nên tác giả nhắn nhủ tình cảm ấy cho người em khi về bên mẹ của mình. Thông điệp của câu thơ là hãy trân trọng những giây phút quý giá khi còn mẹ, hãy yêu thương và chăm sóc mẹ khi còn có thể.
 
“Mẹ em dẫu tuổi xế tà
nhưng còn hiện hữu hơn là đi xa
về quê em nhớ ôm bà
ôm thật chặt cả vạt tà phất phơ”

Những vất vả hi sinh của mẹ không giấy bút nào kể hết: Mẹ “gom hết ưu phiền”, “ chịu hết đa đoan” để cho con vui vẻ, hạnh phúc, ăn học trưởng thành đủ đầy nhất có thể. Mẹ bươn chải hết mình và những mong con cái vững bước vào đời, như bao bạn bè trang lứa.
 
“Mẹ ta gom hết ưu phiền
cho ta chân cứng đá mềm bình an
mẹ ta chịu hết đa đoan
cho ta hạnh phúc thênh thang giữa đời.”
 
Nhớ Mẹ với tấm lòng bao dung vô bờ bến và trái tim ấp áp và vị tha. Người ta từng ví trái tim người mẹ như một kỳ quan thế giới: dung dưỡng, yêu thương con cái một cách vô điều kiện. Nhớ đến mẹ là nhớ đến công sinh thành dưỡng dục bao la trời biển của người.
 
“Mẹ ta lòng rộng biển khơi
trái tim hơn cả bầu trời xanh cao
đêm về con ngắm chòm sao
thấy như mẹ vẫn ngày nào bên con.”
 
Ngoài những khi công việc cứ cuốn đi hối hả của bộn bề cuộc sống, thì lúc đêm về tĩnh lặng, nỗi niềm thương nhớ mẹ lại dâng trào. Nhìn đâu cũng không thấy mẹ, không còn hơi ấm của mẹ nữa, thi nhân ngồi ngắm chòm sao, biết đâu mẹ cũng là một vì sao nơi xa đâu đó trên vòm trời đang dõi theo con, che chở cho con trên dặm đời mưa nắng. Ngắm sao, sẽ thấy lòng ấm lại như được ở bên mẹ ngày nào. Đó là niềm an ủi cho thi nhân. Mẹ vẫn còn hiện hữu trong tâm trí thi nhân chưa và sẽ không bao giờ phai nhạt.
    Bài thơ là một nén hương lòng hiếu kính của tác giả dành cho mẹ cũng là nói hộ tấm lòng của những ai mất mẹ và thông điệp nhắn nhủ tới những ai còn mẹ: hãy thương yêu và chăm sóc mẹ khi còn có thể.
 
“Con bảy mươi rồi… khóc nhớ mẹ
Tiếng lòng nghe thảng thốt tâm can
Mẹ không còn nữa - Trời tan nát
“Vũ Trụ” đâu rồi…con đơn côi.”
 
– Hoàng Thị Bích Hà

Ý kiến bạn đọc
12/05/202422:30:56
Khách
Một bài phê bình của nhà thơ- nhà phê bình văn học Hoàng Thi Bích Hà rất hay, với cái nhìn sâu sắc cùng những từ ngữ chọn lọc và những lời bình tuyệt vời làm thăng hoa bài thơ Mẹ
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.