Hôm nay,  

Đi Tìm Cô Đơn Tích Cực

02/02/202400:00:00(Xem: 1391)

Hình Chính trang nhất_Hanni Vũ ngang
(Ảnh: Hanni Vũ)
 
Thông thường khi nghe hai chữ “cô đơn” chúng ta liên tưởng đến trạng thái tinh thần yếm thế, tâm tư buồn bã, ngày tháng chán chường, thậm chí, cuộc đời trống rỗng. Có lẽ, vì ý nghĩa từ điển của từ vựng này; có lẽ, vì ảnh hưởng văn chương nghệ thuật; có lẽ vì chúng ta đã từ lâu tin như thế, mà không bao giờ đặt một nghi vấn nào.

Đây là định nghĩa của “cô đơn” qua Bách thư toàn khoa Wikipedia:Cô đơn là một trạng thái cảm xúc phức tạp và thường gây khó chịu, đáp ứng lại với sự cách ly xã hội. Cô đơn thường bao gồm cảm giác lo lắng về sự thiếu kết hợp hay thiếu giao tiếp với những cá nhân khác, cả ở hiện tại cũng như trong tương lai. Như vậy, người ta có thể cảm thấy cô đơn ngay cả khi xung quanh có nhiều người. Nguyên nhân của sự cô đơn rất đa dạng, bao gồm các vấn đề về xã hội, tâm thần, tình cảm và các yếu tố thể chất.

Các nghiên cứu cho thấy sự cô đơn là một hiện tượng phổ biến trong xã hội loài người, hiện diện ở những người đã kết hôn, những người đang có các mối quan hệ, các gia đình, các cựu chiến binh, và ngay cả những người đã thành công trong sự nghiệp. Sự cô đơn là một chủ đề văn chương được khám phá trong suốt chiều dài lịch sử con người từ thời cổ đại. Sự cô đơn cũng được miêu tả như một nỗi đau tâm lý, và cũng là cơ chế thúc đẩy một cá nhân tìm kiếm sự kết nối xã hội. Sự cô đơn thường được định nghĩa trong mối liên hệ của một người với người khác, cụ thể hơn là "một trải nghiệm khó chịu xảy đến khi mạng lưới quan hệ xã hội của một người bị khiếm khuyết trên một số phương diện quan trọng.”

Định nghĩa trên bao gồm khá đầy đủ ý nghĩa và phạm vi của cô đơn từ môi trường cá nhân cho đến xã hội, một cách tâm lý và khoa học. Nhưng cô đơn ở đây như một luồng gió lạnh, một cơn mưa, một trận bão, đôi khi là trận động đất… kéo đến và chúng ta sẽ phải gánh chịu. Nếu mưa lớn thì che dù, nếu bão mạnh thì trốn dưới gầm bàn, nếu động đất thì chạy ra giữa chỗ trống, nhảy qua nhảy lại tránh đường nứt… con người thụ động trước cô đơn. Hãy gọi tên loại cô đơn này là ‘cô đơn tiêu cực.’

Loại cô đơn này có thể nói là bẩm sinh. Nó hiện hữu trong nội tâm và chờ chực cơ hội để lộ diện. Khi chúng ta không hài lòng đời sống; khi thua thiệt, thất bại, mất mát; khi cảm nhận được bản chất vô lý của hiện sinh; khi hiểu ra kết quả vô nghĩa của tồn tại; vân vân; cô đơn xuất hiện. Nó tạo ra trạng thái từ buồn bã cho đến trống vắng, từ suy nhược cho đến bệnh tật. Loại cô đơn này có hại nhiều hơn có lợi, nhưng lại được các nghệ sĩ ca ngợi cái bóng dáng đẹp đẽ, cái cảm xúc lãng mạn, khiến chúng ta gần gũi và thân thiện với cô đơn tiêu cực. Hầu hết mọi người đểu cảm thấy thích thú, thi vị, khoan khoái với một chút, đừng quá nhiều, cảm giác cô đơn. Kể cả, giả vờ cô đơn cũng cảm thấy được ngưỡng mộ.

Nếu đã có cô đơn tiêu cực, thì phải có cô đơn tích cực. Nó là gì? Tại sao ít nghe ai nói đến?

Trước hết, có thể hiểu cô đơn tích cực là cảm xúc, cảm giác, trạng thái, tâm tư ngược lại với với cô đơn tiêu cực.

Không đúng. Bản sắc cô đơn luôn luôn là như vậy, bao gồm buồn bã, chán chường, trống rỗng như nhà thơ Huy Cận đã kêu lên: “Chiều ơi, hãy xuống thăm ta với! Thiên hạ lìa xa đời trống không.”

Hành động của con người vừa đối diện vừa cưu mang cô đơn tạo ra tiêu cực hoặc tích cực. Nói một cách khác, cô đơn tích cực là cảm xúc, cảm giác, trạng thái, tâm tư khi hành động ngược lại, chống lại cô đơn tiêu cực.

Không đúng hết. Chỉ đúng một phần.

Hầu hết trong mọi trường hợp, làm ngược lại, chống đối, tranh đấu, vân vân, đều tổn hao sức lực và tâm trí và sự thành công ít lớn lao. Những bậc thượng thừa biết lợi dụng sức mạnh của đối phương để tạo sức mạnh cho bản thân. Như Thái cực quyền, dùng lực đối thủ để đả thương đối thủ. Như Triệt quyền đạo của Lý Tiểu Long, biến sức, ra tay sau mà trúng trước. Như chị tôi mượn sức của “slow cooker” để nấu bún bò, bánh canh, cà ri, vân vân, vừa xem phim tập vừa có món ăn ngon. Như chúng ta biến sức iPhone mà tung hoàng ngang dọc trên không gian ảo. Mượn sức, biến sức là ý niệm khôn ngoan mà từ cổ đại ai đó đã nghĩ ra, và giờ đây, hầu hết mọi hành động thông minh đều là mượn sức hay biến sức.

Bạn cứ quan sát hai tấm hình đại diện bên dưới, sẽ nhận ra: 1- hành động tiêu cực, lấy dù che mưa và 2- hành động tích cực, mượn dù bay theo gió.

Hình 2
Ảnh Pixabay
 
Image by Mohamed Hassan from Pixabay
Ảnh từ Pixabay
                       
Cô đơn tích cực là gì?

Một người tù bị biệt giam và một thầy tu vào hang động sống một mình có gì khác nhau, cả hai đều cô độc và cô đơn trong bóng tối. Sự khác biệt rõ rệt là sự lựa chọn. Người tù không được quyền lựa chọn, trong khi thầy tu thì tự ý tìm đến cô đơn.

Cô đơn tích cực bắt đầu từ ý thức chọn lựa.

Đông lực thúc đẩy tìm đến cô đơn tích cực, có lẽ, đã có từ cá tính và vô thức. Có thể đến từ nhận thức hiểu biết, có thể bừng tỉnh từ kinh nghiệm như một “mặc khải.”, có thể được bậc cao nhân điềm chỉ, có thể đọc từ sách báo rồi nghiệm ra “chân lý.”  Người quyết định bước vào trạng thái hoặc bối cảnh cô đơn tích cực, sẽ hành động với cảm xúc hài lòng, hân hoan, với cảm giác thích thú như một kẻ phiêu lưu tìm báu vật. Người đó có thể không có kế hoạch, nhưng có mục đích rõ rệt. Người đó chọn cô đơn để đánh đổi những thứ gì cao đẹp hơn. 


Loại cô đơn này dường như là thứ gì cần thiết để nảy sinh những thứ khác giá trị hơn. Những nhân vật cao cả như Chúa Jesus, nhập cô đơn 40 ngày trong vườn cây Dầu trước khi nhận gánh chịu thảm hình cứu chuộc. Phật Thích Ca nhập cô đơn dưới cội Bồ đề 49 ngày để đạt đến thông tuệ. Nhiều nhà văn đi tìm những nơi yên tĩnh, cô đơn, để sáng tác những tác phẩm trường sinh. Các triết gia thường là những người cô đơn, những nghệ sĩ cũng vậy. Các nhà bác học vùi mình trong phòng thí nghiệm. Vân vân. Cho dù đời sống bận rộn như thế nào, cho dù ở giữa chợ đời náo nhiệt ra sao, những người tự chọn sống với cô đơn vì mục đích làm cho đời sống tốt đẹp hơn hoặc để tập trung năng lực thực thi điều gì đó mà họ khao khát.

Trong những trường hợp này, về mặt xã hội, cô đơn cho phép chủ thể xa cách đám đông, để hàng ngày không bị vướng bận bởi những phức tạp làm hoang mang hay giảm thiểu sức sống. Cho phép chủ thể chấp nhận chỉ trích, phê phán, thậm chí là chửi rủa của những ai không vừa ý việc làm riêng rẽ của chủ thể

Về mặt tâm tư, cô đơn cho chủ thể được bình an, thời giờ, và sự tập trung vào công việc.Trong hoàn cảnh này, cô đơn mang lại cho chủ thể niềm vui, thoải mái và phát triển óc sáng tạo. Niềm vui này đối với chủ thể, cao hơn những loại niềm vui khác, kể cả những niềm vui tinh thần. Mặc dù, chưa hoàn tất công việc hoặc điều gì ước muốn, nhưng chủ thể cảm thấy thỏa mãn và muốn tiếp tục đeo đuổi. Sartre nói, hãy làm công việc hết sức nhưng đừng hy vọng. Ý niệm này cần thiết để suy nghĩ. Không hy vọng tức là quan tâm đến thành hay bại mà chủ yếu làm hết những gì cần làm. Cũng có nghĩa, không cần thiên đàng hay địa ngục, chỉ cần chú tâm đến hiện sinh.

Mượn như Thái cực quyền, biến như Triệt quyền đạo; mượn và biến nỗi buồn cách ly, nỗi mỏi mệt chung đụng với người xung quanh, nỗi trống trải phi lý vô nghĩa, thành một thế lực giúp đả thông công việc hoặc lý tưởng đang nhắm tới.

Trong tác phẩm “Zarathustra Đã Nói Như Thế”, Nietzsche gửi một trong vài thông điệp là sức mạnh của ý chí, mà về sau ông đã hoàn tất thành học thuyết “Ý Chí Thành Quyền Lực” (Will To Power). Một thông điệp khác là con người như một cây cầu bắt từ thú vật lên đến ‘người siêu phàm’ (over man). Con người sẽ phải cưu mang và đối diện với cô đơn, ít hoặc nhiều, nhẹ hoặc nặng, không ai tránh khỏi. Đối với Nietzsche, với mãnh lực của ý chí, con người có thể tạo ra quyền lực để vượt mọi cảnh ngộ khó khăn, trong đó có “cô đơn tiêu cực.” Nói theo triết gia này, ý chí có khả năng biến cô đơn tiêu cực thành cô đơn tích cực.

Phẩm chất của cô đơn.

Ảnh từ Unplash
Ảnh từ Unplash
Nhưng trước khi lên đến người siêu phàm, người cây cầu cần phải biết rõ con người. Trong khái niệm này, cô đơn là một món quà, có thể gọi là ân sủng, đã cách ly tâm và trí của chủ thể ra khỏi thế giới nhiễu nhương, để người này có cơ hội nghiền ngẫm tìm hiểu về mình, về cái ‘tôi’, về những gì mà bình thường đời sống che mù không nhìn thấy. Không có khám phá nào cần thiết hơn là tự khám phá bản thân. Mỗi ngày có bao nhiêu lần mỗi người tự khám phá về mình? Càng hiểu mình càng nhiều càng hưởng thụ được phẩm chất của cái cô đơn.   
 
Phẩm chất của cô đơn tích cực là tuy cô đơn nhưng không cô đơn, vì con người cô đơn này dù lặng lẽ, dù xa cách, dù một mình, vẫn luôn luôn trò chuyện với chính bản thân. Những thắc mắc, những thao thức, những biện giải, những lý luận, những tranh cãi, vân vân, liên tục xuất hiện bên trong nội tâm, tạo ra một thế giới riêng biệt, thành thật, sống động, và có thể nói là thích thú. Ở quan điểm này, cô đơn tích cực hoàn toàn ngược lại với cô đơn tiêu cực. Những cuộc tự trò chuyện của cô đơn tiêu cực thường dẫn đến trạng thái mệt mỏi, suy nhược, xuống tinh thần.
 
Trong khi những cuộc tự trò chuyện của cô đơn tích cực chẳng những mang lại sự thích thú mà còn luyện tập năng lực tưởng tượng và vô thức. Người cô đơn tích cực gần gũi và náo động với tưởng tượng. Những hình ảnh, những khúc phim sinh hoạt, những ý nghĩ bất ngờ biến hóa xuất hiện tấp nập theo từng chủ đề trầm tư hoặc theo những ý nghĩ ngẫu nhiên. Khả năng tưởng tượng được hư cấu thành những sáng tạo, thường khi là ngoạn mục. Được thực tập hàng ngày và có khi vào tận chiêm bao, khả năng tưởng tượng bành trướng. Nghĩa là, vô thức nhạy cảm hơn, được kích thích để cung ứng dữ liệu cho ý thức, tạo điều kiện và năng lực cho sáng tạo thành hình.

Quá trình này được chứng minh qua thời gian và khả năng tư duy của triết gia, khoa học gia, nhà văn, nghệ sĩ, nhà thiết kế, kỷ sư, nhà quảng cáo thương mại, chính trị gia, vân vân, và những người trong các ngành nghề cần phát minh và sáng kiến.

Những nghệ sĩ luôn luôn là tình nhân của cô đơn tích cực. Nó mang đế cảm xúc và hiệu quả sáng tạo để cấu thành tác phẩm. Nhà thơ Huy Cận dù than thở, “chiều ơi hãy xuống thăm ta với …” nhưng thật ra ông rất thích thú, say sưa với nỗi trống vắng đó, và khi làm xong bài thơ “Tâm Sự”, ai biết được ông sung sướng đến ngần nào?
 
Ngu Yên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.