Hôm nay,  

Bài tựa “Thiền Tông Chỉ Nam” của vua Trần Thái Tông – Phần 3: Vài câu chuyện thiền

1/6/202410:19:00(View: 2855)
Truyện

hung 1

Sau vài câu chuyện về bài tựa “Thiền Tông Chỉ Nam” của vua Trần Thái Tông có liên quan đến Kinh Kim Cang của nhà Phật, mà giáo lý đạo Phật quả thật đối với tôi là một lãnh vực tôi không hiểu biết nhiều, Uyên và Thi hình như cũng cảm nhận ra điều ấy.
    Tuy nhiên, tôi cố giữ phong độ “uy nghi” của mình, nói với hai cô:
    – Kinh sách nhà Phật thì anh không thông hiểu lắm nhưng anh có thể kể cho hai cô những mẩu chuyện về Thiền nghe cho vui nhé!
    Thi tươi hẳn lên:
    – Thích quá! Thế chuyện thiền có giống chuyện cổ tích không?
    Tôi lại véo nhẹ vào má Thi:
    – Chuyện thiền thì nói thiên về chuyện đạo, chuyện cổ tích thì thường nói thiên về chuyện đời. Hai loại chuyện đều có giá trị ngang nhau về mục đích riêng của nó.
     Tôi nhìn sang Thi, âu yếm nói riêng cho nàng nghe:
    – Lớn lên cũng nên biết nhiều chuyện cổ tích để kể cho các con nghe. Có nhiều chuyện cổ tích mang tính chất giáo dục rất cao. Từ từ, thỉnh thoảng nhắc anh, anh sẽ kể chuyện cổ tích cho em nghe. Chịu không? Bây giờ anh kể vài chuyện thiền cho em nghe đã nhé!
    Thi bẽn lẽn cúi xuống mỉm cười, vân vê vạt áo. Uyên với tay qua bàn nắm bàn tay Thi siết nhẹ như để chia xẻ niềm hạnh phúc với cô em mình một cách trìu mến.
    Tôi quay sang nói với Uyên:
    – Uyên thử để ý xem những chuyện thiền anh sắp kể đây có chỗ nào liên quan hay hỗ trợ được cho sự hiểu biết về Kinh Kim Cang mà chúng ta vừa đàm luận không nhé.
     Chuyện thiền thường cũng khó hiểu lắm, nó có ý nghĩa rất sâu xa, ta phải để ý lắm mới tìm ra được ý nghĩa của nó. Nhiều khi, mỗi người lại hiểu nó một cách khác nhau.
    – Vâng ạ! Em sẽ cố gắng!
 
Chuyện Qua Đò
 
Trong chuyến đò chở khách qua sông. Một vị tỳ kheo ngồi trên đò liếc nhìn cô lái đò rồi quay đi. Khi tới bến, cô lái đò lấy mỗi người một đồng, riêng vị tỳ kheo thì cô lấy hai đồng.
    – Sao cô lại lấy tôi hai đồng?
    – Ai bảo lúc nãy Thầy nhìn em!
    Đến khi trở về, sau khi qua đò, cô lái đò lấy mỗi người một đồng, riêng thầy tỳ kheo cô đòi bốn đồng. Vị tỳ kheo lại thắc mắc:
    – Lần đi cô đòi tôi hai đồng vì tôi nhìn cô. Lần về tôi không nhìn cô, khi tới bờ cô lại đòi tôi tới bốn đồng.
    – Lúc đi Thầy nhìn em bằng mắt, em lấy hai đồng vì Thầy nhìn đâu thì thấy đấy. Lúc về Thầy nhìn em bằng ý, bằng tâm, Thầy thấy em tất cả. Thầy phải trả bốn đồng.
    Một hôm vị tỳ kheo lại qua sông. Lần nầy thầy tỳ kheo nhìn thẳng vào cô lái đò. Đò cập bến, nhà sư cười hỏi
    – Lần nầy tôi phải trả bao nhiêu?
    Cô lái đò đáp: 
    – Em xin đưa Thầy qua sông, không thu tiền!
    Thầy tỳ kheo hỏi: 
    – Vì sao vậy?
    Cô lái cười đáp: 
    – Thầy nhìn mà không còn nghĩ tới em nữa ... Do vậy em xin đưa Thầy qua sông mà thôi!
    Kể xong đến đây tôi hỏi Uyên:
    – Uyên hiểu ý nghĩa của câu chuyện này chứ?
    – Vâng ạ! Lần thứ nhất mắt thầy tỳ kheo trụ vào cô lái đò; lần thứ hai thì ý của thầy trụ vào cô lái đò dù là mắt không nhìn. Đâu có phải người mù không thấy là không có chỗ trụ đâu; lần thứ ba, sau thời gian tu tập, thầy buông bỏ được sắc tướng bên ngoài, tâm ý thầy thanh thản, dù có nhìn thẳng vào cô lái đò mà tâm thầy vẫn không bị trụ vào cô ấy.
    Tôi gật gù:
    – Ừ, anh cũng hiểu như Uyên!
    Thi chợt nhìn tôi:
     – Kể từ nay, đứng trước mặt em anh không được nhắm mắt đấy. Nhắm mắt là anh phải trả em bốn đồng.
    Tôi và Uyên cùng cười.
 
Chuyện Hãy Bỏ Xuống Đi
 
Một hôm có hai vị sư đi trên bờ sông. Bỗng thấy một cô gái ngã xuống sông kêu cứu. Thấy nơi sông sâu cô gái có thể chết đuối, một thầy nhẩy xuống sông ôm cô gái ấy bơi vào bờ. Khi đem được cô gái lên bờ rồi thì mạnh ai nấy đi. Vị sư cứu người không nói hay đả động gì về cô gái ấy nữa.
    Vị sư thứ hai đứng trên bờ trách vị sư cứu cô gái:
    – Huynh đã tu tập lâu năm mà nay lại phạm giới luật. Mình là người tu hành sao đụng chạm vào thân thể người con gái như thế!
    Vị sư huynh cứ im lặng mà đi không trả lời người sư đệ của mình.
    Vị sư đệ cứ tiếp tục “càm ràm” phiền trách vị sư huynh của mình về sự việc trên cho tới khi về tới cổng chùa. Vị sư huynh mới ôn tồn nói với người sư đệ:
    – Ta đã bỏ cô gái ở bờ sông rồi, tại sao sư đệ vẫn còn cõng cô gái ấy về tới tận đây. Hãy buông cô ta xuống đi!
    Sau khi tôi kể xong câu chuyện giữa hai vị sư. Uyên nói ngay như vừa mới thuộc bài:
    – Vị sư đệ, tuy ngoài miệng phản đối, nhưng trong thâm tâm vị ấy có thể đã trụ vào sắc tướng cô gái đó mất rồi. Thế nên, vị sư huynh mới bảo vị sư đệ là hãy buông cô ấy xuống đi nghĩa là đừng bận tâm tới cô ấy nữa, tâm ý đừng trụ vào cô gái nữa.
    Tôi không góp ý gì thêm với Uyên mà chỉ ngồi cười. Tôi nói với Uyên:
    – Em nói như thế, anh có câu chuyện với ý nghĩa tương tự, anh kể cho em nghe thêm nhé.
 
Chuyện Không Thể Nhắm Mắt
 
Một vị sư tu tại một ngôi chùa nọ. Có một nữ thí chủ thường hay lui tới chùa cúng Phật. Mỗi lần cô gái đó ra về thì vị sư này lấy khăn ra lau, lau đi lau lại thật kỹ cho sạch những nơi cô gái đó ngồi.
    Rồi đến một ngày, vị sư đó qua đời. Hai con mắt thầy cứ mở trừng trừng không làm cách nào để có thể làm thầy nhắm mắt lại được. Cho tới khi cô gái đó tới nắm tay vị sư, vị sư mới nhắm mắt ra đi.
    Tôi cười, nói với Uyên:
    – Uyên thấy không! Bên ngoài thì như thế mà tâm ý vị sư đã trụ vào người nữ thí chủ đó một cách hết sức sâu đậm.
    Thi với nét mặt hóm hỉnh, hỏi tôi:
    – Sao chuyện thiền nào của anh cũng chỉ có “sư” và những “cô gái” thôi vậy?
    Tôi phá lên cười:
    – Em hỏi anh một câu rất hay! Hay quá! Em biết tại sao không? Vì trong lòng anh trụ vào “chuyện trai gái” nên kể toàn chuyện như vậy đó thôi. Đều do tâm mình mà ra cả. Nhân đây, anh kể cho em nghe những câu chuyện thiền khác nói về ông Tô Đông Pha và thiền sư Phật Ấn nhé. Chuyện này xẩy ra giữa các nhân vật đều là đàn ông thôi.
    Tôi quay sang hỏi Uyên:
    – Uyên có biết về nhân vật Tô Đông Pha của Trung Hoa không?
    – Thưa anh em biết ạ! Tô Đông Pha là một danh tài, văn chương lỗi lạc ít ai sánh kịp. Ông là người rất thông hiểu đạo Phật và từng làm quan to ở Hàng Châu dưới thời Bắc Tống.
    – Uyên nhớ đúng rồi đấy!
    Tôi quay sang Thi:
    – Em lắng nghe chuyện thiền anh sắp kể nhé. Anh sẽ hỏi em về ý nghĩa câu chuyện này đó.
    Thi nhìn chị như hỏi ý. Thấy Uyên gật đầu, Thi mới nói:
    – Được rồi anh cứ kể đi! Em không sợ đâu! Nhưng anh phải kể hay cơ đấy.
    Trước khi vào chuyện, tôi không quên nhắc nhở cho hai cô biết về cá tính và sự giao du thân mật của hai nhân vật này.
    Tô Đông Pha là người cao ngạo, nói chuyện với người nào cũng muốn chơi gác, muốn hơn chứ không muốn thua ai. Trong lúc rảnh rỗi, ông thường đến bàn luận về đạo pháp với vị thiền sư Phật Ấn là người bạn rất thân của ông. Phật Ấn, vị thiền sư nổi tiếng thời Bắc Tống. Trong khi đàm đạo, Tô Đông Pha luôn dùng mọi lý lẽ để thắng thiền sư Phật Ấn, nhưng lần nào ông cũng bị thua.
    Tô Đông Pha và thiền sư Phật Ấn có những giai thoại rất hay.
 
Chuyện Đống Phân Bò
 
Một hôm Tô Đông Pha ngồi tọa thiền cùng thiền sư Phật Ấn. Tô Đông Pha hỏi:
    – Thiền sư nhìn xem tôi giống cái gì?
    Phật Ấn trả lời:
    – Ông ngồi giống như Đức Phật!
    Phật Ấn hỏi lại:
    – Thế ông nhìn xem tôi giống cái gì?
    Tô Đông Pha trả lời:
    – Ông ngồi giống như đống phân bò!
    Tô Đông Pha rất đắc ý với câu trả lời của mình vì đã hạ được thiền sư Phật Ấn một vố đau. Không cần hỏi gì thêm, Tô Đông Pha liền đứng dậy đi về lòng vui phơi phới vì nghĩ lần này đã hạ được sư Phật Ấn.
    Trên đường về, gặp ai ông cũng khoe. Dọc đường ông gặp người em gái của ông là Tô Tiểu Muội, ông liền hí hửng lại đem câu chuyện ấy ra khoe. Khi ông vừa kể dứt câu chuyện, cô em gái liền nói:
    – Anh lại thua thiền sư Phật Ấn rồi!
    – Thua ở chỗ nào? Thắng rõ ràng mà!
    Cô em gái mới giải thích cho ông nghe:
    – Tâm của thiền sư là tâm Phật nên nhìn thấy anh ngồi như Phật. Còn tâm anh giống như đống phân bò nên mới nhìn thấy ông ấy giống đống phân bò.
    Tôi vừa kể xong câu chuyện thiền về “đống phân bò”, liền hỏi Thi:
    – Anh ngồi giống cái gì?
    Thi giả vờ đưa tay bóp trán, ngẫm nghĩ trước khi trả lời:
    – Anh giống ... Anh giống ... anh Nam (tên tôi)!
    – Anh hỏi anh giống cái gì cơ mà?
    – Anh giống ... Anh giống ... cái quạt!
    – Cái quạt?
    – Tại vì em đang nực (nóng) mà!
    Thi ngồi thẳng lên, uỡn ngực, hai tay chống nạnh, hỏi tôi:
    – Em ngồi trông giống cái gì?
    Tôi trả lời trêu:
    – Không nói ... Không nói! (cũng là tựa đề một câu chuyện thiền khác)
    – Anh ăn gian! Phải nói ... Phải nói!
    – Không nói ... Không nói!
    Thi nhõng nhẽo:
    – Anh ăn gian! Không chơi với anh nữa đâu!
    Tôi cười:
    – Thôi để anh nói! ... Em giống múi mít!
    Thi cầm múi mít đưa cho tôi:
    – Anh khôn quá à!
    Uyên liếc nhìn tôi, tay bụm miệng cười dí dỏm.
    Tôi nhờ Uyên giải thích cho Thi về ý nghĩa của câu chuyện thiền vừa rồi.
Uyên nhìn Thi nói:
    – Câu chuyện này chứa một đạo lý rất sâu sắc. Tâm mình thanh tịnh thì cảnh vật chung quanh đều thanh tịnh, hay ngược lại. Tâm mình ra sao thì nhìn cảnh vật ra vậy.
    Thi bỗng đập hai tay xuống bàn rồi vỗ tay:
    – Anh ăn gian! Anh nói trong chuyện chỉ có đàn ông thôi. Sao bây giờ lại có cô em gái của ông Tô Đông Pha? Em phạt anh!
     Tôi cười:
    – Ừ nhỉ? Thôi để anh kể đền cho em một câu chuyện thiền khác vậy, tuyệt nhiên không có một cô con gái nào trong đó. Chịu không?
    – Em chịu! Mà cũng phải hay như chuyện trước cơ!
    Uyên lườm yêu cô em:
    – “Ăn mày còn đòi xôi gấc”! Đã được nghe kể chuyện lại còn đòi phải là chuyện hay nữa cơ!
    – Nghe chuyện không hay thì chán lắm!
    Tôi vuốt tóc Thi:
    – Chuyện này bảo đảm hay hơn chuyện trước, nhưng chỉ sợ em không hiểu thôi!
 
Chuyện Bát Phong Xuy Bất Động tức Tám Ngọn Gió Thổi Không Động
 
Ông Tô Đông Pha là người mộ đạo Phật. Sau những năm tu tập, ông nghĩ mình đã ngộ đạo nên làm một bài kệ gửi đến thiền sư Phật Ấn nhằm mục đích nhờ thiền sư ấn chứng cho sự chứng đắc của ông. Bài kệ rằng:
 
Khể thủ thiên trung thiên
Hào quang chiếu đại thiên
Bát phong xuy bất động
Đoan tọa tử kim liên.
(“thiên trung thiên” tức là Phật, bậc Giác Ngộ)
 
Tạm dịch là:
 
Đảnh lễ bậc Giác Ngộ
Hào quang chiếu vũ trụ
Tám gió thổi chẳng động
Ngồi vững tòa sen vàng.
 
Ý nói bây giờ ông đã ngộ đạo, đã nhận ra con người chân thật của ông ở giữa cõi thế gian này. Con người chân thật đó, cũng như Phật, tỏa sáng hào quang khắp cả đại thiên thế giới. Bây giờ dù có “bát phong xuy bất động” tức “tám ngọn gió độc” cũng không thổi động tới tâm ông được.
    Thiền sư Phật Ấn thấy bài thơ có ý tứ rất hay do “văn hay chữ tốt”. Nhưng thiền sư biết tâm tính của người bạn mình chưa đạt được ý nghĩa sâu xa của Phật pháp, nên thay vì khen ngợi, ông phóng bút phê trên bài kệ hai chữ “phóng thí” tức “đánh rắm” (hạ phong) rồi gửi trở lại cho Tô Đông Pha.
    Nhận được lời phê “đánh rắm” của Phật Ấn, Tô Đông Pha tức tốc bơi thuyền qua sông gặp thiền sư để hỏi cho ra lẽ. Khi vừa bơi thuyền tới bờ sông, Tô Đông Pha đã thấy thiền sư Phật Ấn đứng đợi ở đó.
    Tô Đông Pha liền hỏi:
    – Bài kệ của tôi hay như vậy sao Thầy không khen mà lại phê bình như vậy?
Thiền sư Phật Ấn mới nhẹ nhàng trả lời:
    – Ông nói gì trong bài kệ vậy? Tám gió không động mà bây giờ mới có một ngọn gió nhẹ đã thổi ông từ bên kia sông sang bên này sông. Như vậy là tâm ông động rồi.
    Đến đây, Đông Pha mới chợt hiểu ra mình chưa bất động.
    Uyên hỏi tôi:
    – Tám ngọn gió là những ngọn gió nào vậy anh?
    – Tám ngọn gió đó là lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc. Lợi: Khi được lợi thì vui mừng hớn hở. Suy: Khi bị mất mát, tổn hại thì buồn rầu, nuối tiếc. Hủy: Khi bị chê bai, chỉ trích thì cảm thấy khó chịu. Dự: Khi được khen ngợi thì vui thích, hài lòng. Xưng: Khi được mọi người xưng tụng, tung hô thì hả hê, vui sướng. : Khi bị chế diễu, vu khống thì hậm hực, khó chịu không yên. Khổ: Khi gặp những điều không như ý thì đau khổ, buồn bực. Lạc: Khi mọi việc đều thuận lợi như ý thì mừng rỡ, vui vẻ.
 
hung 2
 
Thi uể oải vươn vai nhõng nhẽo:
    – Anh còn có chuyện thiền nào nữa không?
    Uyên lừ mắt nhìn Thi:
    – Chuyện đâu mà lắm thế! Cái cô này lúc nào cũng hay đòi hỏi!
    Thi liếc nhìn tôi sau câu nói của Uyên:
    – Anh hết chuyện thiền rồi hả? Chuyện cổ tích cũng được. Lúc nẫy anh hứa mà!
    Tôi mỉm cười:
    – Chuyện thiền thì anh còn nhiều lắm, nhiều ngang với chuyện cổ tích. Nhưng anh chỉ sợ em chẳng hiểu gì cả rồi lại hỏi anh những câu vớ vẩn.
    Thi vênh mặt:
    – Nếu em không hiểu thì đã có chị Uyên giảng cho em.
    Uyên nhìn cô em:
    – Nhỡ chị cũng không hiểu thì sao?
    Thi lại vênh mặt nhìn tôi:
    – Thì ... thôi ...!
    Chữ “thôi” của Thi kéo dài ra làm tôi bật cười. Tôi đành phải kể cho Thi nghe thêm một giai thoại nữa về Tô Đông Pha. Tôi biết Thi chẳng thể hiểu nổi chuyện này, nhưng tôi hy vọng Uyên sẽ khá hơn để hiểu được nó.
 
Chuyện Ngồi Đâu
 
Một hôm nọ thiền sư Phật Ấn đang ngồi ở trên pháp tòa giảng pháp. Ông Tô Đông Pha đến trễ. Từ trên pháp tòa thiền sư Phật Ấn đưa mắt nhìn thấy Tô Đông Pha tới mới nói một câu:
    – Ở trong này không còn chỗ ngồi!
    Đây là một câu thử, ý nghĩa rất sâu xa. Ông Tô Đông Pha trả lời:
    – Nếu trong ấy không còn chỗ ngồi thì tôi mượn thân của ngài để ngồi lên được không?
    Lợi dụng câu đó để hạ thiền sư Phật Ấn. Thiền sư không cần suy nghĩ nói:
    – Bây giờ tôi xin hỏi ông một câu, nếu như ông trả lời được thì tôi sẽ đem cái thân này cho ông ngồi. Còn như ông trả lời không được thì ông cởi “ngọc đáy” để lại đây. (ngày xưa các quan đeo ngọc đáy ở quanh lưng).
    Tô Đông Pha tự tin vào trình độ tu hành và kiến thức của mình không thua ai nên trong lòng ông rất tự đắc:
    – Xin thiền sư cứ hỏi!
    Tô Đông Pha vừa dứt lời, thiền sư liền hỏi:
    – Tứ đại vốn không, ngũ ấm vô ngã, thân này là không. Vậy ông ngồi chỗ nào?
    Tô Đông Pha không trả lời được. Phật Ấn dùng đạo lý để hỏi chứ không dùng tướng thân để hỏi. Ý nói thân tôi tứ đại (đất, nước, gió, lửa) đều là không. Bây giờ nói là không thì ông lấy gì ông ngồi.
    Cuối cùng Tô Đông Pha phải cởi “ngọc đáy” để lại cho chùa Kim Sơn làm kỷ niệm.
Đối với người giác ngộ thì thấy thân này là giả nên mọi chuyện xẩy đến người ta hóa giải được dễ dàng.
    Thi đứng dậy vỗ tay hoan hô.
    Tôi trợn mắt nhìn Thi một cách ngạc nhiên:
    – Em hiểu hả? Nói cho anh nghe đi!
    Thi giơ cả hai tay thẳng lên trời như biểu lộ sự khẳng định:
    – Ông Tô Đông Pha lại thua nữa rồi! Ai bảo lúc nào cũng cứ tưởng mình là giỏi nhất!
    Tôi và Uyên nhìn nhau cười. Hóa ra Thi vỗ tay chỉ vì ông Tô Đông Pha lại thua thiền sư Phật Ấn thêm một lần nữa.
    Bỗng Uyên chạy lại phía sau lưng Thi, ôm cô em, quay mặt về phía tôi hát nhẹ:
    – Em còn son, anh vẫn còn son. (trích từ bài hát dân ca quan họ)
    Tôi nhìn Thi âu yếm, nắm vai nàng và cũng hát nhẹ như lời thủ thỉ:
    – Anh về thưa với mẹ cha, cho đôi ta được làm con một nhà ... Cho đôi ta được làm con một nhà.
    Thi biết mình bị trêu nên cứ lấy hai tay che mặt nhưng nàng không thể che giấu nổi sự xúc động trước câu hát đầy yêu thương của tôi.
    Tôi nhớ lại hôm ấy chưa lâu, nhân dịp thầy mẹ tôi sang nhà Thi ăn giỗ đã ngỏ lời xin nàng cho tôi trước mặt đông đủ họ hàng.
    Tôi nhìn Thi mỉm cười, lòng tràn đầy hạnh phúc.
 

– Nguyễn Giụ Hùng

 

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.