Hôm nay,  

“Người đi qua đời tôi” – Thơ Trần Dạ Từ, Nhạc Phạm Đình Chương

09/12/202307:53:00(Xem: 2033)

Tản mạn về những bài thơ hay phổ nhạc

 

nghieu-de
Tranh Nghiêu Đề.


                                                                                                    (Tặng K.Ng.)


Cơn mưa bất chợt đến mang theo nỗi buồn vô cớ. Nỗi buồn chầm chậm len vào tim vào phổi rồi thoát ra thành hơi thở nóng hòa nhịp tiếng mưa rơi. Tiếng hát Thái Thanh vút lên, dội lại những hình bóng nhập nhòa kỷ niệm. Những hình bóng cũ, những hò hẹn xưa. Ngày mưa tháng nắng theo nhau qua những hàng cây xanh lá mới đến khi lá buồn bã lìa cành. Yêu nhau, xa nhau một ngày tưởng chừng năm dài hiu hắt, vắng nhau một buổi ngỡ đã suốt mùa đếm lá vàng rơi... Có bao giờ nghĩ sẽ xa nhau, thế mà xa nhau thật. Ai đã từng yêu, từng mơ mộng về một tình yêu thánh hóa, nhưng khi cuộc tình qua đi, người tình bỏ đi, để ta lơ ngơ giữa trần gian buồn bã này với bàn tay mềm khói sương. Cơn mưa chợt về khi lòng anh hiu hắt mang hình ảnh một mùa đông sầu của quá khứ.
    “ Người đi qua đời tôi / Trong những chiều đông sầu / Mưa mù lên mấy vai / Gió mù lên mấy trời…”
    Chiều đông sầu. Mưa mù. Gió lộng. Nằm co ro nghe từng giọt mưa buồn bã giăng kín không gian. Mưa trỗi nhạc sầu như nhịp chân xa hút của người tình đã bỏ quên sau lưng kỷ niệm. Tiếng hát Thái Thanh ngân dài lời tình buồn của Trần Dạ Từ trong âm điệu cuốn hút hồn người lên chót vót “ sầu âm đô thứ ” của Phạm Đình Chương. Bài hát như tiếng thở dài của gió đông não ruột. Một nuối tiếc khôn nguôi, hờn trách, kể lể. Người đi qua đời tôi, trong những chiều đông sầu. Tiếng dội tê buốt còn vọng lại ngập hồn. Và đất trời cũng đồng lõa mang gió mưa về vây bủa. Mưa mù lên mấy vai. Gió mù lên mấy trời. Đi qua và không ngoái nhìn lại. Hình bóng người nhòe nhoẹt trong mưa mù lên mấy vai. Tôi còn lại gì ngoài nỗi lòng rét mướt?
    “Người đi qua đời tôi / Hồn lưng miền rét mướt / Đường bay đầy lá mùa / Vàng xưa đầy dấu chân / Lòng vắng như ngày tháng…”
    Chiều đông sầu nằm nghe mưa hòa lẫn tiếng hát. Tiếng hát đem kỷ niệm về trải khắp không gian. Ai không qua thời tuổi trẻ coi đời như bóng mây. Đó là tuổi của những cơn điên dại đầu đời, những thành phố xa lạ, những tháng ngày không tên, những dừng chân không hẹn trước.
    Chiều đông sầu hay thu vàng dấu chân vẫn là hình ảnh của quá khứ, của kỷ niệm. Không gian êm đềm của thu vàng dấu chân hò hẹn và thời gian rét buốt của đông sầu chia cách. Cuộc tình đẹp là cuộc tình chia xa, có phải? Và bây giờ tiếng hát như sợi khói muộn phiền bay tản mạn trong hồn chết lịm: Ôi những melodies đau đớn!
    “ Người đi qua đời tôi / Chiều ầm vang tiếng sóng / Bàn tay mềm khói sương / Tiếng hát nào hơ nóng…”
    Bàn tay mềm khói sương. Tiếng hát phi thời gian kia cũng làm mềm tim người nghe như sương khói. Lời ca đẩy ta rơi hẫng, lửng lơ giữa một vùng khói sương rét mướt. Tiếng hát nào hơ nóng. Hơ nóng một cuộc tình đã xa như dĩ vãng nhưng gần gũi như hơi-thở-khói-sương. Một bức tranh mờ ảo dưới làn sương chiều. Dấu chân người đọng lại tiếng dội thảng thốt buốt nhức bất ngờ.
    “Vàng xưa đầy dấu chân / Đen lối vùng lãng quên…”


    Tình yêu trở thành cái bóng chập chờn bao quanh người đứng nhìn lại kỷ niệm. Thơ Trần Dạ Từ đã là một tiếng thở dài bi thiết. Nhạc sầu của Phạm Đình Chương đẩy tiếng vọng đó vượt lên thành tiếng xoáy lốc giữa chín tầng cao ngất mây đùn gió tạt. Và linh hồn dài tiếng ru của phi lao, của đường về nghĩa trang buồn thảm, của mộ phần tối đen.
    “Người đi qua đời tôi / Nghe những lời linh hồn / Phi lao dài tiếng ru / Êm ái lòng hối tiếc / Trên lối về nghĩa trang / Trên mộ phần tối đen...”
    Còn lại gì? Câu hỏi chợt đánh thức người tình ở lại như tiếng sấm vang dội đất trời giữa một đêm đông mù mịt. Đó có phải là tiếng gọi từ cõi ngoài nào xa lắc. Chạy vòng về quá khứ tôi bắt gặp tôi năm mười chín tuổi, ngày lủi thủi đi về căn phòng quạnh quẽ bên những ngôi mộ cổ hoang phế. Những chiều mưa, nước ngập quá gối, bì bõm trở về nghe như có tiếng thở dài trong mưa gió vọng từ những ngôi mộ kia (mà tôi vẫn nghĩ, một cách lãng mạn, là họ bỏ đi để đến cái cõi nào đó từ nguyên nhân những cuộc tình đổ vỡ.) “ Nghe những lời linh hồn… Trên mộ phần tối đen”. Đó có phải là nỗi chết êm đềm? Chết là một biểu tượng thiết tha của rời bỏ, chia lìa tự một thân yêu. “Êm ái lòng hối tiếc”. Thơ Trần Dạ Từ của “ Thuở làm thơ yêu em ” nói chung và bài “Thơ cũ của nàng” (tức Người đi qua đời tôi) nói riêng, đã là một nhắc nhở êm ái cái thuở ban đầu mật ngọt; thuở biết buồn khi nghe một nốt nhạc trầm, khi đọc một câu thơ ướt…Và với nhạc Phạm Đình Chương âm thanh bật lên rướm máu. Ôi trái tim tưởng đã khô khi lá chết nhưng thật ra vẫn âm ỉ nhựa sống của sương đêm và trăng lạnh.
    Người tình đã quay mặt, anh còn hỏi có nhớ gì không. Ôi hàng muôn ngàn cuộc tình đổ vỡ vẫn mang dáng dấp và âm điệu ấy nhưng là những lập lại mới mẻ. Rất mới. “Người đi qua đời tôi / Không nhớ gì sao người?” Hỏi, với một hờn lẫy. Hờn lẫy của tuyệt vọng, của bám víu vào hư không. Không cần - hay biết chắc không được trả lời. Vì còn đâu nữa, nụ cười, tiếng nói, dáng hình vừa thoáng qua mất hút vào sương khói phũ phàng. Biết, nhưng vẫn cứ muốn nhắc lời một lời vô vọng, cũ càng. Đường xưa đầy lá úa, vàng xưa đầy dấu chân. Đó là thảng thốt cuối cùng. Để rồi sau đó im lặng. Tiếng gọi thảng thốt cuối cùng bao giờ cũng chân thành muốn khóc, hờn giận vu vơ hay tràn đầy bao nhiêu cũng bay đi. Còn lại thiết tha cuối cùng và đầu tiên.
    Tiếng hát mở ra một cánh đồng bát ngát kỷ niệm, những hạnh phúc và đớn đau đầu đời, những chân trời mộng mơ dựng nên một thuở.
    Tiếng hát cũng bủa xuống những đám sương mù che khuất dáng người tình và khép lại bằng nghẹn ngào ập tới. Đời sống thở bằng hương thơm của mưa bụi và hương lá úa ngầy ngật êm ả. “Em đi qua đời anh / Không nhớ gì sao em?” Nhớ… Nhớ… Nhớ… Tiếng hát mang “ nỗi sầu mineure” đau buốt trái tim tôi. Chỉ một mélody này, Phạm Đình Chương đã đẩy thơ Trần Dạ Từ lên tới tuyệt đỉnh rung cảm người thưởng ngoạn và cũng chỉ hai câu thơ cuối bài “Người đi qua đời tôi” đã đủ khiến những trái tim tưởng khô héo vụt hồi sinh như những giọt mưa đầu mùa đã làm những hàng cây héo khô nẩy mầm xanh lá mới. Nửa thế kỷ trước, tiếng hát Thái Thanh đã mở ra một chân trời tím như tựa cuốn phim bà hát lồng tiếng cho nữ tài tử Kim Vui đóng vai nữ ca sĩ xa cách người yêu lính chiến.
    Và hôm nay nghe lại ca khúc “Người đi qua đời tôi” thơ Trần Dạ Từ - Phạm Đình Chương phổ nhạc với giọng hát “phi thời gian” của người nữ ca sĩ quá cố nhưng tiếng hát còn sống mãi, vẫn rung động kỳ diệu, buốt nhức khi giọng cao vút uốn cong âm nhớ trong câu hát “không nhớ gì sao em?”

– Phạm Chu Sa

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.