Hôm nay,  

“Người đi qua đời tôi” – Thơ Trần Dạ Từ, Nhạc Phạm Đình Chương

09/12/202307:53:00(Xem: 3771)

Tản mạn về những bài thơ hay phổ nhạc

 

nghieu-de
Tranh Nghiêu Đề.


                                                                                                    (Tặng K.Ng.)


Cơn mưa bất chợt đến mang theo nỗi buồn vô cớ. Nỗi buồn chầm chậm len vào tim vào phổi rồi thoát ra thành hơi thở nóng hòa nhịp tiếng mưa rơi. Tiếng hát Thái Thanh vút lên, dội lại những hình bóng nhập nhòa kỷ niệm. Những hình bóng cũ, những hò hẹn xưa. Ngày mưa tháng nắng theo nhau qua những hàng cây xanh lá mới đến khi lá buồn bã lìa cành. Yêu nhau, xa nhau một ngày tưởng chừng năm dài hiu hắt, vắng nhau một buổi ngỡ đã suốt mùa đếm lá vàng rơi... Có bao giờ nghĩ sẽ xa nhau, thế mà xa nhau thật. Ai đã từng yêu, từng mơ mộng về một tình yêu thánh hóa, nhưng khi cuộc tình qua đi, người tình bỏ đi, để ta lơ ngơ giữa trần gian buồn bã này với bàn tay mềm khói sương. Cơn mưa chợt về khi lòng anh hiu hắt mang hình ảnh một mùa đông sầu của quá khứ.
    “ Người đi qua đời tôi / Trong những chiều đông sầu / Mưa mù lên mấy vai / Gió mù lên mấy trời…”
    Chiều đông sầu. Mưa mù. Gió lộng. Nằm co ro nghe từng giọt mưa buồn bã giăng kín không gian. Mưa trỗi nhạc sầu như nhịp chân xa hút của người tình đã bỏ quên sau lưng kỷ niệm. Tiếng hát Thái Thanh ngân dài lời tình buồn của Trần Dạ Từ trong âm điệu cuốn hút hồn người lên chót vót “ sầu âm đô thứ ” của Phạm Đình Chương. Bài hát như tiếng thở dài của gió đông não ruột. Một nuối tiếc khôn nguôi, hờn trách, kể lể. Người đi qua đời tôi, trong những chiều đông sầu. Tiếng dội tê buốt còn vọng lại ngập hồn. Và đất trời cũng đồng lõa mang gió mưa về vây bủa. Mưa mù lên mấy vai. Gió mù lên mấy trời. Đi qua và không ngoái nhìn lại. Hình bóng người nhòe nhoẹt trong mưa mù lên mấy vai. Tôi còn lại gì ngoài nỗi lòng rét mướt?
    “Người đi qua đời tôi / Hồn lưng miền rét mướt / Đường bay đầy lá mùa / Vàng xưa đầy dấu chân / Lòng vắng như ngày tháng…”
    Chiều đông sầu nằm nghe mưa hòa lẫn tiếng hát. Tiếng hát đem kỷ niệm về trải khắp không gian. Ai không qua thời tuổi trẻ coi đời như bóng mây. Đó là tuổi của những cơn điên dại đầu đời, những thành phố xa lạ, những tháng ngày không tên, những dừng chân không hẹn trước.
    Chiều đông sầu hay thu vàng dấu chân vẫn là hình ảnh của quá khứ, của kỷ niệm. Không gian êm đềm của thu vàng dấu chân hò hẹn và thời gian rét buốt của đông sầu chia cách. Cuộc tình đẹp là cuộc tình chia xa, có phải? Và bây giờ tiếng hát như sợi khói muộn phiền bay tản mạn trong hồn chết lịm: Ôi những melodies đau đớn!
    “ Người đi qua đời tôi / Chiều ầm vang tiếng sóng / Bàn tay mềm khói sương / Tiếng hát nào hơ nóng…”
    Bàn tay mềm khói sương. Tiếng hát phi thời gian kia cũng làm mềm tim người nghe như sương khói. Lời ca đẩy ta rơi hẫng, lửng lơ giữa một vùng khói sương rét mướt. Tiếng hát nào hơ nóng. Hơ nóng một cuộc tình đã xa như dĩ vãng nhưng gần gũi như hơi-thở-khói-sương. Một bức tranh mờ ảo dưới làn sương chiều. Dấu chân người đọng lại tiếng dội thảng thốt buốt nhức bất ngờ.
    “Vàng xưa đầy dấu chân / Đen lối vùng lãng quên…”


    Tình yêu trở thành cái bóng chập chờn bao quanh người đứng nhìn lại kỷ niệm. Thơ Trần Dạ Từ đã là một tiếng thở dài bi thiết. Nhạc sầu của Phạm Đình Chương đẩy tiếng vọng đó vượt lên thành tiếng xoáy lốc giữa chín tầng cao ngất mây đùn gió tạt. Và linh hồn dài tiếng ru của phi lao, của đường về nghĩa trang buồn thảm, của mộ phần tối đen.
    “Người đi qua đời tôi / Nghe những lời linh hồn / Phi lao dài tiếng ru / Êm ái lòng hối tiếc / Trên lối về nghĩa trang / Trên mộ phần tối đen...”
    Còn lại gì? Câu hỏi chợt đánh thức người tình ở lại như tiếng sấm vang dội đất trời giữa một đêm đông mù mịt. Đó có phải là tiếng gọi từ cõi ngoài nào xa lắc. Chạy vòng về quá khứ tôi bắt gặp tôi năm mười chín tuổi, ngày lủi thủi đi về căn phòng quạnh quẽ bên những ngôi mộ cổ hoang phế. Những chiều mưa, nước ngập quá gối, bì bõm trở về nghe như có tiếng thở dài trong mưa gió vọng từ những ngôi mộ kia (mà tôi vẫn nghĩ, một cách lãng mạn, là họ bỏ đi để đến cái cõi nào đó từ nguyên nhân những cuộc tình đổ vỡ.) “ Nghe những lời linh hồn… Trên mộ phần tối đen”. Đó có phải là nỗi chết êm đềm? Chết là một biểu tượng thiết tha của rời bỏ, chia lìa tự một thân yêu. “Êm ái lòng hối tiếc”. Thơ Trần Dạ Từ của “ Thuở làm thơ yêu em ” nói chung và bài “Thơ cũ của nàng” (tức Người đi qua đời tôi) nói riêng, đã là một nhắc nhở êm ái cái thuở ban đầu mật ngọt; thuở biết buồn khi nghe một nốt nhạc trầm, khi đọc một câu thơ ướt…Và với nhạc Phạm Đình Chương âm thanh bật lên rướm máu. Ôi trái tim tưởng đã khô khi lá chết nhưng thật ra vẫn âm ỉ nhựa sống của sương đêm và trăng lạnh.
    Người tình đã quay mặt, anh còn hỏi có nhớ gì không. Ôi hàng muôn ngàn cuộc tình đổ vỡ vẫn mang dáng dấp và âm điệu ấy nhưng là những lập lại mới mẻ. Rất mới. “Người đi qua đời tôi / Không nhớ gì sao người?” Hỏi, với một hờn lẫy. Hờn lẫy của tuyệt vọng, của bám víu vào hư không. Không cần - hay biết chắc không được trả lời. Vì còn đâu nữa, nụ cười, tiếng nói, dáng hình vừa thoáng qua mất hút vào sương khói phũ phàng. Biết, nhưng vẫn cứ muốn nhắc lời một lời vô vọng, cũ càng. Đường xưa đầy lá úa, vàng xưa đầy dấu chân. Đó là thảng thốt cuối cùng. Để rồi sau đó im lặng. Tiếng gọi thảng thốt cuối cùng bao giờ cũng chân thành muốn khóc, hờn giận vu vơ hay tràn đầy bao nhiêu cũng bay đi. Còn lại thiết tha cuối cùng và đầu tiên.
    Tiếng hát mở ra một cánh đồng bát ngát kỷ niệm, những hạnh phúc và đớn đau đầu đời, những chân trời mộng mơ dựng nên một thuở.
    Tiếng hát cũng bủa xuống những đám sương mù che khuất dáng người tình và khép lại bằng nghẹn ngào ập tới. Đời sống thở bằng hương thơm của mưa bụi và hương lá úa ngầy ngật êm ả. “Em đi qua đời anh / Không nhớ gì sao em?” Nhớ… Nhớ… Nhớ… Tiếng hát mang “ nỗi sầu mineure” đau buốt trái tim tôi. Chỉ một mélody này, Phạm Đình Chương đã đẩy thơ Trần Dạ Từ lên tới tuyệt đỉnh rung cảm người thưởng ngoạn và cũng chỉ hai câu thơ cuối bài “Người đi qua đời tôi” đã đủ khiến những trái tim tưởng khô héo vụt hồi sinh như những giọt mưa đầu mùa đã làm những hàng cây héo khô nẩy mầm xanh lá mới. Nửa thế kỷ trước, tiếng hát Thái Thanh đã mở ra một chân trời tím như tựa cuốn phim bà hát lồng tiếng cho nữ tài tử Kim Vui đóng vai nữ ca sĩ xa cách người yêu lính chiến.
    Và hôm nay nghe lại ca khúc “Người đi qua đời tôi” thơ Trần Dạ Từ - Phạm Đình Chương phổ nhạc với giọng hát “phi thời gian” của người nữ ca sĩ quá cố nhưng tiếng hát còn sống mãi, vẫn rung động kỳ diệu, buốt nhức khi giọng cao vút uốn cong âm nhớ trong câu hát “không nhớ gì sao em?”

– Phạm Chu Sa

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.