Hôm nay,  

Nguyễn Đình Toàn (1936-2023) – Nét nghệ thuật viễn mơ giờ u uẩn

04/12/202319:40:00(Xem: 1831)
Tưởng niệm Nguyễn Đình Toàn

NGUYENDINHTOAN TCP
Nhạc sĩ Trần Chí Phúc & Nhà văn Nguyễn Đình Toàn (2006).


Thường một nghệ sĩ được gọi chỉ một danh xưng, nhưng đối với Nguyễn Đình Toàn thì phải gọi là nhà văn nhạc sĩ mới đầy đủ; vì ông có nhiều tài năng về văn nghệ. Bao nhiêu người nhắc đến giọng đọc cùng lời văn của ông trong chương trình giới thiệu nhạc chủ đề trên đài phát thanh Sài Gòn trước năm 1975, đã quyến rũ nhiều thính giả.
    Trước năm 1975, bản Tình Khúc Thứ Nhất của Vũ Thành An, phổ thơ Nguyễn Đình Toàn có nét nhạc thanh thoát và lời ca bay bỗng được yêu thích.
    Sau năm 1975, một anh bạn từng là cựu tù cộng sản kể rằng trong lúc cả bọn đang cuốc đất khổ sai, thì một anh dừng cuốc và hát câu “ Đường về quê xa lắc lê thê, trót nghe theo lời u mê” trong bài ca nêu trên mà thấm thía nỗi buồn. Lời ca đó ám chỉ Việt Cộng đã ra lệnh cho các sĩ quan, viên chức chế độ Việt Nam Cộng Hòa thua trận, trình diện học tập chỉ 10 ngày; nhưng đó là lời lừa gạt, vì thực tế ít nhất là 3 năm, có người mười mấy năm, có người bỏ mạng.
    Rồi bản Em Đến Thăm Anh Đêm Ba Mươi có lời ca : “Anh nói với người phu quét đường, xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em” thật lãng mạn, làm say đắm giới học sinh sinh viên thời ấy, sau này tôi mới biết đó là ca từ của Nguyễn Đình Toàn.
    Nguyễn Đình Toàn là nhà văn nhưng cũng là nhạc sĩ viết ca khúc, và đây là ưu điểm giúp ông thực hiện chương trình nhạc chủ đề trên đài phát thanh Sài Gòn được mọi người nhớ mãi.
Sau khi Miền Nam Tự Do với thủ đô Sài Gòn thất thủ thì Nguyễn Đình Toàn bị tù Cộng sản 10 năm - thật là đau đớn vì thơ văn và ca nhạc của ông chỉ là thuần túy văn nghệ viễn mơ. Thử nghĩ ông sinh năm 1936, lúc sa cơ thất thế thì tuổi là 39 - đang thời sung mãn sáng tác của một nghệ sĩ, và gia đình con cái khổ nạn. Nhớ câu người xưa nói “ nước mất nhà tan “ thật là thấm thía!
    Lúc ông còn kẹt ở trong nước thì ca khúc Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên của Nguyễn Đình Toàn được phổ biến rộng rãi ở hải ngoại có câu mở đầu “ Sài Gòn ơi ta mất người như người đã mất tên”, rồi một số ca khúc của ông mang nỗi buồn thân phận quê hương như “ Tôi cố bám lấy đất nước tôi bằng sức người vô hạn...”
    Có lẽ sau này, thấy rằng trải tâm sự mình qua ca khúc thì dễ phổ biến hơn là thơ văn, cho nên ông viết nhiều ca khúc - tài văn chương của ông thể hiện qua những ca từ sâu sắc trong các bài hát - đây là nét riêng của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.
Năm 2006 ông phát hành 2 cuốn sách Bông Hồng Tạ Ơn 1 và 2, ghi vắn tắt tiểu sử và sự nghiệp của mấy trăm ca nhạc sĩ và có ra mắt cuốn này tại thành phố San Jose, California. Là nhà văn nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn từng thực hiện các chương trình nhạc chủ đề, cho nên ông có dịp tìm hiểu và biết nhiều về các ca nhạc sĩ thời đó mà viết cuốn này.
    Trong buổi ra mắt sách này năm 2006, thì nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng có đưa ra lời nhận xét rằng, đây là một tác phẩm không được trau chuốt tỉ mỉ bằng các tác phẩm của Nguyễn Đình Toàn trước đây.
    Hôm nay suy gẫm lại thì theo năm tháng trôi đi với dòng lịch sử nghiệt ngã, dưới sự cai trị của chế độ Cộng Sản lúc nào cũng muốn xóa bỏ dư hương của văn học nghệ thuật Việt Nam Cộng Hòa, thì 2 cuốn Bông Hồng Tạ Ơn, trở thành tài liệu quí giá đóng góp vào thư viện văn học nghệ thuật Sài Gòn của Miền Nam Tự Do mà Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại tiếp tục gìn giữ.
    Trong một lần trao đổi câu chuyện văn nghệ thì anh Nguyễn Đình Toàn nói rằng “ nhạc của cậu là nhạc thời sự ”. Những năm sau này rảnh rỗi, tôi muốn thăm anh để hỏi kỹ càng về một thời văn học nghệ thuật Sài Gòn năm xưa nhưng anh sức khỏe kém và tôi không có dịp; thật là tiếc.
    Anh là nhà văn với nhiều tác phẩm, cuốn Áo Mơ Phai đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc, nhạc của Nguyễn Đình Toàn được hát trên băng nhạc Thúy Nga; hai đêm nhạc Nguyễn Đình Toàn thực hiện tại Quận Cam đông đảo khách tham dự.
    Anh là một nghệ sĩ tài hoa trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của Miền Nam Tự Do - nét viễn mơ lãng mạn đó cũng là nét đẹp của nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng thủ đô Sài Gòn đã thất thủ, kéo theo bao nhiêu thứ tan nát.
    Tôi vẫn nhớ nét mặt suy tư u uẩn của anh; mười năm tù đày, đất nước dân tộc vẫn còn nằm trong chế độ độc tài tham nhũng. Những văn nghệ sĩ một thời hoa mộng lần lượt giã từ nhân thế, còn lại là tác phẩm văn chương âm nhạc, trong đó có nhà văn nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.

                                                                        

– Trần Chí Phúc

(Đầu tháng 12-2023)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Kế hoạch của anh ấy thật là hợp lý: anh ấy sẽ giấu tôi phía sau cốp xe Austin-Healey, một chiếc xe dạng rất thấp mà anh vừa mới mua bên Áo và đã tháo kính che gió ra. Chúng tôi chỉ cần đi qua bên dưới rào chắn, trong khi mấy tên cảnh sát nhân dân Vopo*2/ thì bận lo kiểm tra giấy tờ như thường lệ. Rolf đã tính toán nhiều lần, tính đi tính lại, anh lại còn xì bớt hơi các bánh xe: như thế cái xe sẽ không vượt quá 90 cms bề cao. Anh chỉ cần cúi đầu xuống, nhấn mạnh vào cần tăng tốc, thế là chúng tôi sẽ qua bên kia địa phận đất Mỹ! Một "bờ thành" nhỏ làm bằng gạch sẽ bảo vệ tôi khỏi những lằn đạn có thể xảy ra. Và rồi sau đó là tự do...
(Viết cho bằng hữu tháng tư 1954. Chúng tôi 300 thanh niên trình diện trại Ngọc Hà động viên vào Đà Lạt cùng hát bài ca Hà Nội ơi, năm 20 tuổi chưa từng biết yêu. Sau 21 năm chinh chiến, tháng tư 75 khóa Cương Quyết hát tiếp. Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay theo mây chiều. Ngày nay, tháng 7-2024 vào nursing home thăm bạn cùng khóa. Ba anh bạn đại tá lữ đoàn trưởng mũ xanh mũ đỏ cùng đại đội võ bị ra đánh trận Quảng Trị chỉ còn Ngô Văn Định. Ghé lại bên tai nghe Định hỏi nhỏ. /Bên ngoài còn mấy thằng,/ Còn liên lạc được 4 thằng. Ngoài 90 cả rồi.Tôi báo cáo./ Thằng Luyện mới đến thăm./ Định nói./ Luyện nhảy Bắc 21 năm biệt giam mà còn sống. Hay thật./ Tôi nói./ Bạn yên tâm. Ngoài này còn thằng nào chơi thằng đó./ OK bạn còn sống lo cho anh em.)
Năm Giáp Ngọ 1954 có thể gọi là năm đại diện cho tuổi thơ tôi. Chỉ trong một năm 1954 đã có quá nhiều biến cố xảy ra dồn dập trước mắt chú bé mười hai tuổi mà suốt trong đời chưa có thời điểm nào đặc biệt như vậy...
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.