Hôm nay,  

Xóm cũ thương yêu

01/06/202313:43:00(Xem: 3075)
Truyện

IMG_5623


1.

Cuối tuần rảnh, cú phonetalk hai chị em cỡ chừng… hai tiếng chớ nhiêu!
    Chị hơn tôi 8 tuổi, cùng trang lứa với mấy ông anh tôi, nhưng vì hai chị em đã có dịp đi vượt biên (hụt) với nhau một chuyến, có hơn một tuần lễ vi vu Miền Tây, ăn ngủ cùng nhau, tâm sự đủ điều. Nhất là đêm cuối cùng chờ tàu lớn ra khơi, cả hai thao thức suốt đêm, nghe cả tiếng lục bình vật vờ trôi sông, rồi kể nhau nghe “chuyện con tim”…
    Chúng tôi gặp lại nhau tại California năm 2015, vui mừng hết cỡ, và từ đó thỉnh thoảng phone để “tám”. Dù cách xa tuổi tác, nhưng có tình xóm cũ và phát hiện ra những điểm giống nhau, như không biết (và không thích) nấu ăn, không điệu đà thảo mai với áo quần giầy dép túi xách, không mê hột xoàn kim cương (mê dollars thì …có), nên nói chuyện chưa bao giờ cạn đề tài.
    Lần này “tám” chuyện xóm cũ. Chúng tôi lôi từng nhà ra “tám”, bắt đầu từ căn nhà đầu ngõ, lần lượt đến cuối xóm, không tha nhà nào! Rồi đến mục các “cây si” trong xóm của hai chị em, để cùng cười rộn rã “hồn nhiên như ...con điên”. Chúng tôi bảo nhau, sao hồi đó không cưới đại một chàng cây si nào đó trong xóm nhỉ.  Nhiều tiện lợi lắm nhé, nào là khỏi phải tìm hiểu gia đình nhà “hắn”, rồi đám cưới thì khách mời của hai họ đều là hàng xóm, rước dâu khỏi phải mướn dàn xe hơi vì chỉ cần …đi bộ, và đặc biệt là sau khi về nhà “hắn”, nếu có cãi nhau (hay guýnh lộn) thì xách va ly về nhà mình chỉ trong vòng một nốt nhạc!
    Câu chuyện theo tôi vào giấc ngủ mộng mị êm đềm. Không phải mơ thấy… đám cưới với chàng “cây si” hàng xóm, mà mơ thấy trở về xóm cũ, một buổi sáng bước ra chợ (chợ nhỏ xíu, đi ba phút đã về chốn cũ) để ăn quà: nào bún riêu bà Lập, bánh cuốn bà Xinh, bánh cam ngào đường bà Mộc hay chén xôi vò trộn chè bồ cốt của bà Cát … Rồi đến buổi trưa, lại ra chợ tìm nhà bà Bảy Cấn, lấy một bịch chè(táo xọn, hay chè đậu, chè khoai), dốc ngược bịch chè, cắn một lỗ nhỏ ngay góc bịch, rồi nặn món chè ngọt béo vào miệng mà nhâm nhi… Ôi, trên cả tuyệt vời!!!
    Tại sao lại không nhỉ, kiếp sau phải làm dâu… xóm mình thôi!!!
 
2.
Sau năm 1975, ngoài ông anh Hai đang đi dạy ngoài Cần Thơ, ba ông anh khác của tôi lần lượt vào Đại Học. Các bạn bè của các anh thường ghé nhà tôi cùng nhau học hành và đôi khi đàn ca trong dịp cuối tuần. Cho nên nhà tôi lúc nào cũng dập dìu “trai tài”, chỉ chờ “gái sắc” nữa là trọn vẹn đôi bề.
    Tôi mới học lớp 6–7, còn bé lắm, tính tình hơi tomboy, chỉ biết học và chơi, không biết điệu đà lại càng không quan tâm chuyện “trai gái”. Trong xóm, nhóm bạn hay chơi với tôi, có Linh là một cô gái đẹp, sớm dậy thì. Khi đa số chúng tôi còn mê mệt chơi nhảy dây, bắn bi, banh đũa, nhảy cò cò, thì Linh cũng có tham gia, nhưng lộ rõ bản tính thiếu nữ, ăn mặc fashion bắt mắt hơn chúng tôi. Gia đình của Linh thuộc loại “đẹp đều”, nó thừa hưởng nét đẹp sắc sảo của má nó, mấy đứa em nó dù trai hay gái cũng rất xinh đẹp, và cả mấy ông cậu bà dì của nó cũng đẹp hơn người thường!
    Trong đám “trai tài” của mấy ông anh tôi, có vài người đẹp trai nổi trội, có thể kể đến anh Tuấn. Anh là người gốc Đà Nẵng nhưng gia đình ở Hốc Môn. Vì đạp xe từ Hóc Môn lên Sài Gòn học khá xa, nên anh Tuấn thường túc trực ăn ngủ ở nhà tôi, thân thương như người trong nhà. Anh có dáng người cao, da hơi ngăm đen, mái tóc mềm, và nụ cười đẹp như tài tử xi nê.
Tối hôm đó, chúng tôi tụ tập chơi với nhau như thường lệ ngoài đầu xóm, Linh kéo tôi ra một góc tâm sự:
    – Nè, tao thích anh Tuấn lắm, không biết làm sao để ảnh để ý tao?
    Tôi nhìn nó cười cười:
    – Mày nhỏ hơn tao một tuổi, mà tao còn bị ảnh ký đầu như đứa con nít, thôi đừng mơ nữa mày ơi!
    Rồi tôi bỏ đi, chẳng buồn để ý cảm xúc của Linh ra sao, vì cứ nghĩ nó cũng ham chơi như mình, còn bao nhiêu cuộc vui với lũ bạn cùng xóm, thời giờ đâu mà quan tâm đến chuyện khác?
Vậy mà cỡ chừng vài tháng sau, một buổi tối Linh lại kéo tôi ra ngoài xóm để thầm thì với đôi mắt long lanh rạng rỡ đầy phấn chấn:
    – Ê, mày thấy tao lúc này có gì khác không?
    Tôi nhìn nó từ đầu đến chân:
    – Mày vẫn… đẹp, có thấy khác gì đâu nà!
    Linh phụng phịu:
    – Mày hãy nhìn kỹ vào phần ngực của tào nè: tao đã bắt đầu mặc áo ngực. Tao đã lớn rồi, là thiếu nữ rồi, và tao sẽ chinh phục anh Tuấn!
    Giờ thì tôi mới để ý cái áo nó mặc hôm đó đẹp hơn, và phần ngực nảy nở hơn vì có đệm cái áo ngực, trong khi lũ chúng tôi chưa hề biết “món trang sức” lạ lẫm đó. Đúng lúc ấy, anh tôi và anh Tuấn cùng vài người bạn đang tản bộ về xóm sau trận đá banh, người nào người nấy ướt đẫm mồ hôi, có người còn cởi cả áo thun chỉ còn chiếc quần đùi mà nhìn vẫn …phong độ. Linh và tôi dõi mắt nhìn theo, dáng anh Tuấn cao nhất nhóm, mái tóc mềm lay động theo bàn tay anh vuốt tóc sao mà dễ thương làm Linh say mê không chớp mắt. Rồi họ dừng lại tại quán chè đầu ngõ, chị chủ quán tên Lan xinh đẹp với đôi mắt đẹp hút hồn niềm nở đón mấy anh. Rồi tiếng cười đùa chọc phá nhau trong quán chè, nhất là chị Lan được ghép đôi với anh Tuấn thì e thẹn mắc cỡ, cười duyên khiến chị càng xinh đẹp hơn.
    Chứng kiến tất cả những điều đó, Linh xịu mặt bỏ đi chẳng thèm chào tôi một câu nào, nên tôi không nhìn được nó có khóc hay không, vì đó là một buổi tối cúp điện, và tôi cũng bước về nhà, bỗng thấy buồn, một nỗi buồn chỉ một mình tôi hiểu. Tôi tuy hơi tomboy, nhưng tôi đâu phải gỗ đá, mà không biết… thương anh Tuấn.
    Mãi sau này, khi cả gia đình và tôi đều rời khỏi Việt Nam, chị Hai tôi bên Texas đã gặp lại anh Tuấn. Khi chị ấy tiết lộ tình cảm thầm kín của tôi thuở ấy thì anh Tuấn thẫn thờ, xuýt xoa xin lỗi: “Trời, em đâu có ngờ, em cũng từng mơ được yêu cô bé nhưng ngại tuổi tác, nên không dám đụng đến em gái thằng bạn thân, và chỉ coi cô bé như cô em bé bỏng.” (Nói vậy mà nói được à, anh có nghe bài hát Tuổi 13 của Ngô Thuỵ Miên không đấy?!)
    Hôm nay ngồi viết lại câu chuyện này, tôi thấy nhớ câu thơ của Cung Trầm Tưởng rất đúng với mối tình si của Linh (và của tôi) dành cho anh Tuấn thuở ấy: “Hỡi anh, người xóm học, Sương thấm hè phố đêm, Trên con đường anh đi, Lệ em buồn vương vấn”.
    Hiện tại, sau những đổ vỡ tình duyên (hồng nhan bạc phận), Linh đang yên phận ở Florida với người chồng Mỹ trắng. Anh Tuấn, sau khi anh tôi đi vượt biên qua Thailand, anh cũng đi theo, sau đó qua Wichita Kansas học Kỹ Sư rồi làm cho Boeing cho đến nay, gia đình hạnh phúc và mới được lên chức “ông nội”. Nếu Linh và anh Tuấn có tình cờ gặp nhau trên xứ Mỹ chắc chắn sẽ không nhận ra nhau, và họ cũng chẳng ngờ, tôi, ở xứ tuyết Canada đang nhớ về họ, một phần kỷ niệm “tình tay ba” của Xóm Cũ yêu thương.
 
3. EM VỀ XÓM CŨ
 
Hôm nay em về thăm xóm cũ
Cho chị gửi theo chút kỷ niệm thôi
Dù biết hành lý em đã nặng rồi
(Thâm tình, ân nghĩa với người thân, bè bạn)
 
Chùa Vĩnh Quang nằm ở đầu ngõ hẹp
Sư cô Huyền giờ cũng đã già hơn?
Cây hoa Ngọc Lan còn toả mùi thơm
Như những chiều xưa chị dừng chân bước?
 
Còn đêm giao thừa vườn Chùa náo nức?
Nhộn nhịp khói nhang, người hái lộc đầu năm?
Tuổi đôi mươi, chị đứng đó bâng khuâng
Nghe xao xuyến cả trời xuân rực rỡ
 
Giáo xứ Đức Tin, ngôi giáo đường bé nhỏ
Xóm đạo hiền hoà ghi dấu tuổi mộng mơ
Thánh lễ cuối tuần, tiếng chuông nhà thờ
Bài thánh ca rót vào hồn êm ái
 
Giờ tan lễ, áo dài khoe sắc mới
Xóm mình có bao nhiêu chị đẹp xinh
Là bấy nhiêu gã trai trẻ …vô tình
“Phố vắng em rồi” mới ngẩn ngơ, tiếc nuối
 
Căn nhà của chị, đã thay mấy chủ mới?
Hàng rào trước sân, giàn hoa giấy còn không?
Thuở nao bốn mùa xuân hạ thu đông
Là mái ấm gia đình, là một thời tuổi trẻ
 
Nắng có vàng trên con đường Đất Đỏ
Dẫn đến Mộng Thành, Xóm Thuốc, Xóm Mô?
Nơi ấy chị có một lũ học trò
Giờ chúng đã là những chàng trai, thiếu nữ
 
Chợ Đồng Tâm còn rộn ràng khắp ngõ
Bánh cuốn, bún riêu, (và nhiều món chị đã quen)
Nếu mưa có rơi, bong bóng bập bềnh
Em hãy chờ tiếng rao bánh mì quen thuộc
 
Chị nhớ lắm, xóm lên đèn, chiều vào tối
Là một ngày bận rộn vừa đi qua
Chị ngôi bên cửa số trước hiên nhà
Tìm những vần thơ viễn vông, lãng mạn
 
Cho chàng sinh viên miền Trung siêng học
Vào Sài Gòn tìm tươi sáng ngày sau
Trang giáo án chị dở dang (vì câu thơ đến mau!)
Đêm yên bình, vấn vương nụ cười răng khểnh
 
Còn nhiều em ơi, nhưng chị không nhắc nữa
Dòng đời bể dâu, cảnh vật cũng đổi thay
“Người muôn năm cũ” phiêu bạt đó đây
Kỷ niệm xưa chỉ còn là quá khứ
 
Chị em mình trôi theo dòng viễn xứ
Một chốn quê nhà vẫn giữ trong tim
Dẫu không về, chị cũng vẫn đi tìm
Trong giấc mộng, Xóm Cũ một đời yêu dấu!

 

– Kim Loan

(Edmonton, Tháng 5/2023)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.