Hôm nay,  

Phải chi ngày ấy...

22/05/202308:52:00(Xem: 4420)
reeducationcamp

Trong thế kỷ qua, ở Việt Nam bỗng từ đâu xuất hiện một con người mà mặt thật được che giấu kỹ dưới nhiều lớp dày mỏng khác nhau, nhiều cách khác nhau. Từ đời sống bản thân, tên họ, tuổi tác. Đều bằng dối trá và bưng bít. Do bản chất của con người gian ác. Điều này, dĩ nhiên là một hiện tượng quái lạ đã khêu gợi sự tò mò của một số người nên đã làm tốn khá nhiều công sức và giấy mực nhưng vẫn chưa phơi bày được đầy đủ sự thật. Thật rùng rợn!
    Con người đó có tên là Hồ Chí Minh. Mà cái tên Hồ Chí Minh cũng do ông chôm của người khác, Cụ Hồ Học Lãm. Và cả cái tên Việt Minh của Cụ Lãm nữa!
    Vì đặc tính không giống ai hết nên tưởng chỉ nói qua «tuổi tác» của ông ta cũng chưa chắc đã rốt ráo. Và ai cũng biết chuyện này cũ như giẻ rách, nói đi nói lại làm gì cho mất thì giờ và còn làm như chuyện này là nặng ký lắm vậy. Đúng. Nhưng nghĩ có nói thêm nhiều nữa thì vẫn chưa đủ. Nó chỉ đủ khi ở Việt Nam có báo chí tự do. Và không còn cái đảng cộng sản ác ôn nữa. Nên có dư thì giờ thì cứ nói cho vài người đừng vội quên sự dối trá của ông ta. Về ngày sinh, tài liệu chánh thức của Hà Nội đều nói ngày sinh của Hồ Chí Minh là ngày 19-05-1890. Hoàn toàn không đúng. Do bịa đặt có dự mưu gian ác. Chuyện này sẽ đề cập tiếp theo. Vậy còn những ngày sinh nào khác cũng chánh thức, cũng do chính đương sự tự tay viết ra khai báo hay không? Có nhiều. Chỉ kể ra những năm sinh khác nhau do chính ông ta khai báo.
    Theo sử gia Daniel Hémery (trong“Hồ Chí Minh, de l’Indochine au Vietnam”, Gallimard, Paris, 1990), trên đơn xin vào trường Thuộc Địa (*) học để sau này trở thành người hữu ích cho chế độ Pháp, do tự tay Hồ Chí Minh viết, ký tên Paul Nguyễn Tất Thành, khai năm sinh là 1892. Đơn gởi từ Marseille, thành phố cảng miền Nam nước Pháp, ngày 15-09-1911, lúc ông vừa tới Pháp để tìm đường cứu thân và cứu cha. Đúng vậy, vì ông đã nhiều lần gởi tiền bằng bưu phiếu (mandat) về nhà cầm quyền Pháp ở Việt Nam và nhờ chuyển cho cha của ông. Nhà cầm quyền thực dân Pháp đã chuyển giao và cha của ông  đã nhận được tiền. Việc làm này rất đáng ca ngợi vì hợp tình hợp nghĩa. Nhưng thời gian sau, việc gởi tiền không thấy nói tới nữa, phải chăng vì ngưng do mất liên lạc?
    Năm 1922, tại Paris, Hồ Chí Minh nhờ một người thợ kim hoàn tên Boulanger giới thiệu vào « Hội kín Thợ Hồ » (Franc-maçonnerie), ông lấy tên Nguyễn Ái Quốc chớ không phải Nguyễn Tất Thành vì tên này được nhiều người biết do ký tên dưới những bài «phong» trên tờ « Le Paria » (Người Cùng khổ). Biết là tên chung (Nguyễn Le Patriote, trước kia là tên Nguyễn Ố Pháp) của các Cụ viết cho Le Paria nhưng ông vẫn tự tay khai năm sinh của mình là 1895 để hợp thức hóa luôn cái tên Nguyễn Ái Quốc (Jacques Dalloz, Les Vietnamiens de la franc-maçonnerie coloniale, Revue d’Histoire d’Outre-Mers, 3è Trimestre 1998, Paris, Société Française d’Histoire d’Outre-Mers). Tới với Thợ Hồ chỉ trong thời gian ngắn, có lẽ vì ông  không hội đủ tiêu chuẩn hội viên, nhất là về trình độ học vấn. Như luật sư Phan văn Trường là hội viên.
    Riêng năm sinh 1891 rất có thể đúng vì do bà Thanh, chị và ông cả Khiêm, anh của ông, xác nhận rất cụ thể, với dẫn chứng. Trong quyển « Đèn Cù », tác giả Trần Đĩnh có nhắc lại, với cả lời phủ nhận của Hồ Chí Minh «Của người ta sao, cứ để nguyên như vậy… » Cứ để nguyên như vậy, tức ngày 19-05-1890!
    Phải chăng vì ngày này mang ý nghĩa vô cùng quan trọng với ông mà ông không muốn thay đổi để lấy lại ngày sinh thiệt của mình?
    Hồ Chí Minh về Hà nội, qua năm sau, ngày mùng 06-03-1946, ông ký với Pháp Hiệp ước Sơ bộ, đưa Việt Nam trở lại Liên Bang Đông Dương thuộc Liên Hiệp Pháp. Theo Hiệp ước, Việt Nam tương đối độc lập vì có chánh phủ riêng, có Nghị viên, có tài chánh riêng nhưng vẫn kẹt trong Liên Hiệp Pháp. Hồ Chí Minh sẵn sàng đón rước nhà cầm quyền Pháp tới thay thế quân đội Trung Hoa để giải giới quân đội Nhật sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh.
    Đô đốc d’Argenlieu, Toàn quyền Đông Dương, sau khi rời Lào, chiều ngày 18-05-1946, qua Hà Nội. Trong quan hệ chánh phủ với chánh phủ, d’Argenlieu là Đại diện Chánh phủ Pháp tới, Việt Nam phải tổ chức lễ đón rước có cờ quạt đúng theo nghi lễ. Hồ Chí Minh không thể làm khác hơn được. Ông bèn bảo Cụ Vũ Đình Huỳnh (**), thân phụ của nhà văn Vũ Thư Hiên: « Chú hãy kêu gọi dân chúng treo cờ trước nhà, cán bộ treo cờ ở cơ quan, để đón rước Toàn quyền d’Argenlieu, nói là mừng ngày sinh của tôi. Nói thật ra, chẳng những chúng không thèm làm mà còn chửi cho mang nhục».
    Ký Hiệp ước Sơ bộ, còn long trọng đón rước Quan Toàn Quyền Đông Dương tới là biểu hiện tinh thần đầu hàng giặc, là phản quốc trong lúc dân chúng trên cả nước đang hừng hực tinh thần đánh Tây giành Độc lập. Chắc chắn dân chúng Hà Nội chưa kịp quên hôm 02-09-1945, Hồ Chí Minh trong diễn văn mừng ngày lễ độc lập đã long trọng tuyên thệ: «Nếu Pháp đến xâm lăng lần nữa thì chúng tôi xin thề: không đi lính cho Pháp, không làm việc cho Pháp, không bán lương thực cho Pháp, không đưa đường cho Pháp ».
    Trong Nam, cán bộ chính trị của Hà Nội gởi vào để kè Nam Bộ kháng chiến, hỏi Bảy Viễn tại sao không thi hành lệnh ngưng chiến, Bảy Viễn chửi thề: “ĐM. Không ngưng bắn c.c gì hết. Chưa có Độc lập, cứ oánh nữa. Chừng nào có Độc lập mới thôi”.
    Vậy là cờ đỏ sao vàng được treo lên trong ba ngày, từ ngày 18-5 đến hết ngày 20-5. Từ đó cứ tới cái ngày 19/5 là Hà Nội lại ra lệnh dân chúng treo cờ mừng sinh nhật của Hồ Chí Minh. Ngày bịa đặt ra để phục vụ cho ý thứ đồ đen tối nhưng cứ lặp đi, lặp lại, với cả bộ máy tuyên truyền cồng kềnh, phải trở thành như thiệt. Ngày sinh của Bác!
    Thậm chí năm nay, 19/05/2023, Sứ quán VC Hà Nội ở Paris tổ chức kỷ niệm ngày 19/05 lần thứ 133 trong khuôn viên của Tòa Thị xã Montreuil, ngoại ô phía Đông Paris. Thị xã này vẫn còn là sào huyệt của cộng sản Pháp tuy đảng cộng sản Pháp ngày nay chẳng còn được mấy ngoe.
    Nhưng Hồ Chí Minh khi rước Tây trở lại còn âm mưu cùng với Tây đi hành quân lên miền bắc tảo thanh các lực lượng đảng phái Quốc gia yêu nước đánh Tây vì Việt Minh lúc đó còn yếu để giành quyền lãnh đạo kháng chiến. Một mai kháng chiến thành công, với tư thế lãnh đạo kháng chiến, sẽ đưa Việt Nam lệ thuộc Bắc Kinh như Hồ Chí Minh đã thỏa thuận với Mao (Jung Chang và Jon Halliday,“MAO: The Unknown Story”,2005,Anchor Books và Random House).
    Việt Nam ngày xưa thật sự có sinh nhựt không? Có, nhưng chỉ trong phạm vi tín đồ Thiên Chúa giáo hoặc trong giới trưởng giả Tây học mà thôi. Người Thiên Chúa giáo không có ngày giỗ, chỉ có sinh nhựt và họ ăn mừng sinh nhựt. Còn đại đa số dân chúng Việt Nam thì chỉ trọng ngày giỗ kỵ vì ngày giỗ kỵ mang đầy tính văn hóa dân tộc. Từ giỗ tưởng nhớ người thân trong gia tộc, ra tới cúng tế Thần Hoàng, cúng tế những vị anh hùng dân tộc, tới Thần cho cả nước là Quốc tổ.
    Hồ Chí Minh có chấp nhận sinh nhựt, cũng không có gì đáng ngạc nhiên bởi ông là cộng sản tinh ròng. Mà cộng sản Liên Xô là Âu châu, con đẻ của Đế quốc tư bản cũng Âu châu. Riêng cộng sản ở Việt Nam là con đẻ của thực dân Pháp. Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh không còn là Việt Nam, mà là thành phần của giai cấp vô sản quốc tế.
    Nói rõ vấn đề này, xin nhắc lại lời của Hồ Chí Minh: « Cái danh từ Tổ quốc là do các chính trị gia đặt ra để đè đầu nhân dân, để buộc những người vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của giai cấp tư sản. Thực ra, chẳng có Tổ quốc, cũng chẳng có biên giới ». (Báo Thanh Niên, phát hành tại Quảng Châu, 20-12-1926).
    Khi có dịp nhắc tới ngày sinh của Hồ Chí Minh, chắc nhiều người chưa quên bài thơ “Hôm nay 19-05”của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện:
 
Hôm nay 19-05
Tôi nằm
Toan làm thơ chửi Bác
Vần thơ mới hơi phang phác
Thì tôi thôi
Tôi nghĩ Bác
Chính trị gia sọt rác
Không đáng để tôi
Đổ mồ hôi
Làm thơ
Dù là thơ chửi Bác
(Hà Nội,1964)
 
Ngày nay, người ta cũng đã phơi bày khá nhiều sự gian dối của ông về vợ con, tình nhân từ lúc còn «bôn ba» ở Paris, ở Tàu, ở Nga cho tới hang Pắc Pó và về Hà Nội. Ở Tàu, Hồ Chí Minh đã chính thức cưới bà Tăng Tuyết Minh, y tá đỡ đẻ. Từ giã vợ, rời lục địa, ra ở Hồng Kông, ông bị Cảnh sát Anh xét khách sạn vào 6 giờ sáng, bắt cùng với Nguyễn thị Minh Khai, hai người còn nằm trên giường, không y phục trên người. Và Nguyễn thị Minh Khai cũng thừa nhận mình là vợ của Hồ Chí Minh. Trong tờ khai tại Đại hội Quốc tế cộng sản năm 1935 ở Moscou, Nguyễn thị Minh Khai khai rõ bà là vợ của Hồ Chí Minh.
    Chuyện vợ chồng này được đảng hợp thức hóa. Khi ngồi vào mâm đông đủ mọi người, Hà Huy Tập đứng dậy, trịnh trọng tuyên bố: « Hôm nay Đảng làm lễ thành hôn cho anh Vương và chị Duy. Hiện nay Đảng ta còn nghèo, lại hoạt động trong vòng bí mật, không cho phép tổ chức lễ cưới lớn cho hai anh chị được, nhưng chúng ta vẫn rất vui. Chúng tôi chúc mừng cô dâu chú rể cộng sản bách niên giai lão». (Theo Nguyệt Tú, tác phẩm Chị Nguyễn thị Minh Khai, xb Phụ Nữ, Hà Nội, 1980).
    Chuyện chủ hôn này cũng lôi thôi. Vẫn theo tác giả Nguyệt Tú (vợ của Lê Quang Đạo, từng làm Chủ tịch Quốc Hội ở Hà nội), sách in lần I, thì Huỳnh Văn Nọn (Cao Bằng) làm chủ hôn, in lần II, thì Hà Huy Tập làm chủ hôn. Vậy xin liệu mà tin Việt Cộng!
    Minh Khai sau đó lấy Lê Hồng Phong. Người con gái của bà tên Hồng Minh. Không biết đây là con của Hồ Chí Minh hay của Lê Hồng Phong? Cũng lại một bí ẩn nữa.
    Tại sao cả chuyện vợ con chính thức như vậy mà Hồ Chí Minh vẫn giấu như mèo giấu cứt? Phải chăng vì ông ta tuổi Tân Mão, cầm tinh con mèo? Vả lại chuyện vợ con, cả mèo chuột, có gì là xấu hổ? Giấu làm gì, ăn quịt mới là xấu hổ chớ.
    Phải chi ngày ấy...
    Ngày nay dân chúng trong nước, nhất là lớp trẻ miền Bắc, lần hồi biết rõ chân tướng Hồ Chí Minh. Dỉ nhiên không mấy ai còn kính trọng ông như trước đây vì bị bưng bít và nhồi sọ. Nhắc về Bác, có một bài thơ châm biếm, nguyền rủa đúng hơn, đầy cay đắng, uất hận:
 
Phải chi ngày ấy bến Nhà Rồng đóng cửa
Nó lang thang quay trở lại Nghệ An
Làm giáo làng hay một chân thư lại
Thì ngày nay dân đã thoát lầm than.
 
Phải chi ngày ấy, sông Sài Gòn nổi sóng
Nó đang leo bỗng rớt mẹ xuống sông
Bấy sấu đói đã reo mừng ruớc bác
Thì ngày sau xương đâu trắng cánh đồng
 
…Nếu nếu nếu, thêm một ngàn lần nếu
Bác chẳng đi! Đi chẳng có ngày về!
Về, thượng mã phong bờ hang Pác  Pó
Thì ngày nay đâu có lũ u mê!
Caubay (theo caphevanhanh, internet)
 
-- Nguyễn thị Cỏ May
 
Ghi chú :
 
(*) Nguyễn Tất Thành viết đơn xin vào học trường Thuộc Địa bị từ chối, vì thủ tục, phải qua chính quyền địa phương chuyển đơn. Và về trình độ, thí sinh phải có văn bằng Tú Tài. Qua vài năm sau, xin vào học, phải qua kỳ khảo hạch (Examen, theo Étienne Aymonier, nguyên Giám đốc Trường Thuộc Địa, đổi qua Hà Nội làm việc, viết tựa cho cuốn sách « La psuchologie du peuple annamite » của  Paul Giran. Và trong « Revue d'Histore moderne et contemporaine », 40-2, avril-juin 1993, Paris).
 
(**) Theo lời kể của ông Vũ Thư Hiên với tác giả sau buổi lễ truy điệu tướng Trần Độ ở thành phố Jena, do anh em gốc sinh viên, công nhân ở Đông Đức cũ tổ chức, để xác nhận lời kể của tác giả về giai thoại này tác giả được nghe các Cụ cán bộ VNQDĐ ở Sài Gòn kể lại.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.