Hôm nay,  

Những thi khúc về Mẹ

13/05/202321:57:00(Xem: 2235)

mother 2 


Mẹ là biểu tượng cho vẻ đẹp trường cửu. Một vẻ đẹp không thể nghĩ bàn. Chỉ có thể thẩm thấu trọn vẹn bằng cảm xúc của trái tim và hạt lệ, để biết rằng, với mẹ, ta đã được hưởng tình thương yêu, bao dung độ lượng đến ngần nào! Chỉ trong vòng tay mẹ, ta mới rung động được với nhịp giao hòa của bao la trời đất, ta mới cảm hết biên giới của ấm áp. Điều ấy, chúng ta sẽ thấy được nơi thơ của các nhà thơ Du Tử Lê, Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễn Xuân Thiệp, Đỗ Hồng Ngọc, Pháp Hoan, Nguyễn Đức Cường, Hoàng Xuân Sơn, Vũ Hoàng Thư, Trangđai Glassey Trầnguyễn, Nguyễn thị Khánh Minh, Trịnh Y Thư. (NTKM).

 

***

 

DU TỬ LÊ (1942-2019)

 

Cõi Mẹ Về

(Trích đoạn)


em đâu biết, tôi có những giấc mơ
tỉnh ra còn ngỡ
như có chuyến xe lửa vừa mới khởi hành
về Hà Đông
nơi mẹ tôi được sinh ra, lớn lên,
rồi theo chồng đi miết.
quê ngoại với tôi tới giờ vẫn còn là niềm bí mật
như những sợi tơ giăng khắp bầu trời
tôi từng vói, mà, chưa lần nắm được.

em đâu biết tôi có những giấc mơ
thấy rõ mẹ về
đắp lại tôi, tấm chăn
vuốt lại tôi, mái tóc...
đã bao năm mất hút sau lưng,
mà, mẹ tôi vẫn không thể tin rằng mái tóc xanh của con bà đã bạc
những đường kẻ dọc, ngang vầng trán tối
đôi mắt nay đã mờ
(đôi mắt trong veo nhìn theo mẹ tôi những ngày họp chợ)
đôi mắt giờ sụp lở nắng, mưa.

mẹ tôi hỏi sao tóc con lại trắng?
những sợi gân nào lấp ló dưới da nhăn?
tôi hỏi bà, lúc rày người có khỏe?
mẹ tôi cười
quết trầu đỏ,
đôi làn môi cắn chỉ
bà vẫn buồn như thuở bố đi luôn…

 

– Du Tử Lê

(Trích từ tập thơ  Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu,

Văn Học Nhân Chứng xuất bản, 1989)

 

***

 

NGUYỄN LƯƠNG VỴ (1952-2021)

 

vâng thưa mẹ con đã về bên mẹ
ngồi bên hiên nhà cũ thấm ân tình
trời xuống thấp đất lên cao nắng xế
chiều u trầm chiều êm như trang kinh

 

mẹ rất mỏng như không gian rất mỏng
con rất ngây như thời gian rất ngây
và đôi tay rất ấm trong đôi tay
và đôi mắt rất nồng trong đôi mắt

 

con nhìn mãi chiều thu xa xa lắc
nhìn rất lâu lâu lắm giữa chiều phai
chiều huyễn ảo mẹ đẹp như trăng cài
trên đỉnh núi trên đỉnh trời chói rạng

 

con nhìn mãi chiều thu xa xanh lắm
tiếng hát xanh xanh đất ấm trời êm
như lá nõn như cành non mướt đêm
mẹ ấp ngực ru con theo dòng sữa

 

vâng thưa mẹ con đã ngồi bên cửa
bên niềm vui bên nỗi nhớ đong đầy
mây trắng xóa mắt nhòa theo bóng mây
tim bỗng nhói chiều bỗng gầy heo hút

 

mẹ rất đẹp như đất trời bất tuyệt
như hồn quê như cánh bướm dâng mùa
bông cúc trắng bông cúc vàng đong đưa
nụ cười hiền mẹ vẫn ngồi thinh lặng

 

con nhìn mãi những chiều xa bay trắng
âm bay nghiêng hơi ấm mẹ trong đời
đời nghiêng ngửa đời ly tan lâu rồi
huyết âm mẹ trong con riu ríu lửa

 

con nhìn mãi giọt lệ khô chan chứa
biển rèm vang đồng vọng núi mênh mang
ôi thời gian thời gian ôi thời gian
con ôm mẹ giữa chiều ngân giọng sáo

 

vâng thưa mẹ con lần theo nếp áo
áo sờn vai hai bóng một vuông chiều
chiều rất thẳm chiều rất trầm yêu dấu
như chưa từng… thưa mẹ biết bao nhiêu.

 

– Nguyễn Lương Vỵ
(Trích từ trường ca Âm Tuyết Đỏ Thời Gian,

Văn Học Press ấn hành năm 2019)

 

***

 

NGUYỄN XUÂN THIỆP

 

Hỏi thầm giọt mưa. và nói giùm tôi

(Trích đoạn)

 

Tôi sinh ra dưới cội nghèo.

ngôi nhà ẩn trong xóm cỏ.

mẹ tôi răng đen. mắt hạt nhãn.

thời trẻ tiếng ca xanh dòng sông

mẹ lấy cha. rồi yên phận

nuôi heo. nuôi gà. nuôi con

Ơi em bé. hái búp sen mùa hạ

sen thì hồng. mà tay nhỏ xanh xao

em hái sen. chiều nay ra chợ bán

hương hạ nồng. cùng sợi khói nhà sau

mẹ già tưới cây chanh bên bờ giậu

để một mai đời ngát lộng hương chanh

mẹ còng lưng. mà trời cao vời vợi

dẫu một ngày. giọt nắng rụng xa cành

mai mốt. mẹ qua vùng thảo nguyên

mẹ. ánh trăng vàng trong truyện cổ

lặng soi bên mặt nước hồ gương

đi lang thang qua vùng bia mộ

khi cúi nhìn một cụm hoa lan

thương ôi. mắt nhung xưa. còn mở

 

– Nguyễn Xuân Thiệp

 

***

 

ĐỖ HỒNG NGỌC

 

Bông hồng cho Mẹ

 

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực
Ngoại chờ bên kia sông

– Đỗ Hồng Ngọc

(Bài thơ này nhạc sĩ Võ Tá Hân đã phổ nhạc, ca sĩ Thu Vàng hát).

 

***

 

PHÁP HOAN

 

Mẹ tôi kể

 

Mẹ tôi kể

khi cỏ cây thôi xao động trong vườn

khi con chim ngủ yên trong tổ ấm.

Mẹ kể về những trái bom

giội lên những mái nhà

như táo mùa thu chín rụng.

Mẹ kể về những người lính

nằm chết trên cánh đồng

mạ non mọc ra từ cổ họng.

Mẹ kể về những dòng sông

về đất nước thời tuổi thơ của mẹ

nơi những ký ức vẫn âm thầm ngủ

như trái bom ngủ quên trong vườn

mỗi đêm nằm trên giường

tôi luôn nghe thấy tiếng đập của nó

sâu trong lòng đất đá

bốn mươi bảy năm qua

trong khu vườn những giấc mơ của mẹ.

 

– Pháp Hoan

(Nguồn: vanviet.info)

 

***

 

NGUYỄN ĐỨC CƯỜNG

 

Mẹ là ngôi chùa nhỏ

 

Con ngồi đây lặng lẽ,

Thương nhớ hoài mùa Xuân.

Con ngồi đây quạnh quẽ,

Riêng Mẹ đã bao lần.

 

Mẹ là ngôi Chùa nhỏ,

Đón con về nương thân.

Mẹ là đôi mắt tỏ,

Tha cho con lỗi lầm.

 

Mẹ là Xuân bay qua,

Nuôi đời con khôn lớn.

Mẹ là hương sen ngát,

Về trong mộng hiền lành.

 

Như bầu trời lồng lộng,

Là mặt đất bao la,

Là mưa rào tuôn xuống,

Cho đường con thắm hoa.

 

Mẹ là nắng thênh thang,

Bình minh xưa chói rạng.

Là mây chiều lãng mạn,

Những ngày Thơ huy hoàng.

 

Mẹ là đêm thức giấc,

Đêm xanh biếc ngàn sao.

Là vô cùng đôi mắt,

Có sương mù trên cao.

 

Mẹ đi suốt mùa Hè,

Qua hối hả mùa Thu,

Và mùa Đông tất tả,

Riêng cho con mùa Xuân.

 

– Nguyễn Đức Cường

(Trích từ tập thơ Chân Dung)

 

***

 

TRANGĐÀI GLASSEY TRẦNGUYỄN

 

Mừng tuổi con

 

khi yêu một người/ là ta được chiêm ngắm dung nhan của Thượng Đế/ mẹ cũng vậy/ trong phút đầu gặp con/ con chào đời/ trời đất thở ra tơ... (Mùa Yêu Con)

 

 

mừng Con chưa đầy tuổi

phúc, lộc, thọ, khang, ninh

má hồng xinh hơn mai

môi tươi hơn đào thắm

 

Con về ươm Xuân lạ

én xếp nhạc cành xa

tình bao kiếp giao hòa

mùa đông thôi ở giá

 

mùa Xuân còn ngáy ngủ

nằm lún vào má Con

cái đồng tiền thật tròn

mỗi lần con nhóp nhép

 

lún luôn vào tim Mẹ

tròn giếng sữa cho con

sữa chảy từ trái tim

tỏa ra hai bầu ngực

 

sân trời mai vàng rực

Mẹ kín một lộc non

mùa Xuân mới cho Con

Mẹ chảy vào trời đất

 

– TrangĐài Glassey Trầnguyễn

 

***

 

HOÀNG XUÂN SƠN

 

Tháng 7 nhớ Mẹ

                                               

tháng 7 tôi ngồi trong kệ

nghe ra trời đất tụng kinh

lung linh đại thừa bóng mẹ

nhìn vô. chỉ thấy một mình

 

chỉ thấy sương chiều bạc tóc

buộc một con sông mấy đò

trôi đi ngả nào không biết

chỉ biết mình ngồi co ro

 

chợt nhớ khi còn quyến luyến

thương làm sao khúc túy ân

say say một hồn vô ngã

chìm trong xứ mẹ ân cần

 

mà tôi vẫn còn lóng ngóng

lân tuất áo mẹ phương nào

giọt nước mắt chìm trong ngấn

chìm khuất                   

                  bóng mẹ

phương                        

                                  nào…

 

– Hoàng Xuân Sơn

 

***

 

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

 

Mẹ

 

Đầy tay mẹ dậy thơ thơm ngát

Đời hồng trong những áng văn chương

Mẹ cười, nhân ái bừng xuân sắc

Bao nỗi đau kia cũng nhẹ thường

 

– Nguyễn thị Khánh Minh

 

***

 

VŨ HOÀNG THƯ

 

Ngày Lễ Mẹ

 

Rách da bật máu thân mình

Mẹ đau quằn quại cho hình con ra

Vá trời thân một Nữ Oa

Oan khiên Mẹ chịu, hải hà Mẹ kham

 

Thăm Mẹ

 

mẹ nằm ngó biển xa xăm

trầm hương xin đốt lệ đằm tình thâm

mẹ ơi lỗi hẹn bao lần

mộ phần ngả bạc theo màu tóc phai

 

– Vũ Hoàng Thư

 

***

 

TRỊNH Y THƯ

 

Về Mẹ

 

Mẹ dòng nước mắt chia hai

Mẹ trong huyền sử mẹ ngoài trùng dương

Mẹ từ khung gác miếu đường

Mẹ qua biển lớn thịt xương nát lìa

Mẹ tân khổ

Mẹ đầm đìa

Mẹ chào tay vẫy những chia ly đời

Mẹ giam tủi nhục trong người

Mẹ ôm hơi thở thốt lời từ bi

Mẹ nhìn theo lũ con đi

Mẹ soi ký ức những khi khóc thầm.

 

– Trịnh Y Thư

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.