Hôm nay,  

Giới thiệu sách "Việt Nam Tân Sử" của Christopher Goscha

22/04/202313:55:00(Xem: 3966)
Điểm sách

gosha

Vietnam, A New History (Việt Nam Tân Sử), trên 500 trang, Basic Books (2016) của Christopher K. Goscha, giáo sư ở Đại Học Québec tại Montréal, Montreal, Canada.


Tác giả (sinh 1965) từng học và nghiên cứu ở Mỹ, Úc, Pháp về lịch sử thời thuộc địa và hậu thuộc địa của vùng Đông Nam Á; từng trải nhiều năm tìm tòi ở Thái Lan, Lào, Việt Nam và học về tiếng Việt ở Đại Học Hà Nội. Luận án tiến sĩ của ông ở Pháp, “Le contexte asiatique de la guerre franco-vietnamienne : Réseaux, relations et économie (1945-1954)” được giáo sư người Việt Nguyễn Thế Anh hướng dẫn ở Đại Học Sorbonne (Paris).
     Christopher Goscha từng tìm cách nghiên cứu vấn đề Việt Nam trong bối cảnh rộng hơn của Á Châu và Đông Nam Á thay vì chỉ giới hạn trong những động cơ dân tộc chủ nghĩa Việt Nam hay phong trào chống thực dân Pháp. Trước đó, từ luận án thạc sĩ, vào năm 1999, Goscha từng xuất bản cuốn “Thailand and the Southeast Asian Networks of The Vietnamese Revolution, 1885-1954”, nói về mối liên hệ giữa cộng đồng hàng ngàn người Việt và Hoa ở Thái Lan, với một "đạo quân vô hình gồm những người buôn bán, người tội phạm, mại dâm và thuỷ thủ" và những phong trào cách mạng ở Việt Nam từ phong trào Cần Vương đến mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954. Cuốn “Vietnam, A New History” cũng tiếp tục đường lối tiếp cận đa diện, giới hạn tầm nhìn quốc gia chủ nghĩa và xét đến chiều kích địa sử ký và địa chính trị của chuyện kể Việt Nam với tầm quan trọng của vị trí của nước này giữa vùng Đông Nam Á, cũng như biên giới tiếp giáp với Trung Hoa, Lào và Cambodia. Ông cũng là tác giả một cuốn tự điển về chiến tranh Pháp Việt (1945-54); đáng chú ý là ông tự viết lấy toàn bộ cuốn sách khá đồ sộ này, xét về nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc xung đột, ông không phải chỉ là chủ biên với sự cộng tác của nhiều người khác như trong trường hợp các cuốn từ điển khác (Historical Dictionary of the Indochina War (1945–1954): An International and Interdisciplinary Approach (Hardcover) by Christopher E. Goscha (2012)).
     Nguyên thuỷ, do nhu cầu của càng ngày càng nhiều người biết đến và viếng Việt Nam, tác giả được nhà xuất bản Penguin yêu cầu viết một cuốn sử về Việt Nam hiện đại, nhưng lúc hoàn thành cuốn sách bao gồm các khoảng thời gian trước thời hiện đại, và cuốn “The Penguin History of Modern Vietnam” gặt hái được nhiều ca ngợi và giải thưởng. Cuốn sách được xuất bản ở Mỹ với tên “Vietnam, A New History” và bìa khác. Sách được giải thưởng John K. Fairbank về Lịch sử Đông Á năm 2017 của Hội Sử Học Hoa kỳ (American Historical Association).
     Có lẽ vì tác giả chuyên nghiên cứu về các vấn đề chiến tranh lạnh, chiến tranh Đông Dương và các vấn đề xuyên quốc gia ở Đông Nam Á, phần nói về lịch sử Việt Nam trước thời cận đại chỉ chiếm một phần nhỏ trong cuốn sách, trong chương đầu "Northern Configurations" gồm 32 trang. Nói về tiếng Việt trong thời kỳ Bắc thuộc, Goscha viết “Hàng ngàn người Tàu đến vùng châu thổ định cư trong giai đoạn thuộc địa, đem theo với họ một tập hợp tư tưởng, công nghệ và từ ngữ mới. Hôn nhân cùng với dân địa phương xảy ra thường xuyên, cũng như những đứa con hai dòng máu và tình trạng song ngữ. Giống như tiếng Anh Trung đại (Middle English) phát sinh từ việc người Norman [con cháu người Vikings, định cư vùng Normandie, bắc nước Pháp] chiếm nước Anh vào thế kỷ thứ 12, một ngôn ngữ An Nam trung đại (Middle Annamese) khởi phát ở các thành phố Việt Nam thời thuộc địa, cho phép nhiều từ ngữ tiếng Hoa đi vào ngôn ngữ Việt vào thời đó” (trang 19). Lối giải thích này có điểm giống Keith Taylor ở điểm cho rằng một loại “Middle Annamese” khởi phát từ các “thị xã" của An Nam thời đó từ những người Tàu định cư lập gia đình với người Việt, con cháu họ lai Việt và cộng đồng này dùng hai thứ tiếng (song ngữ) một cách phổ biến.
     Trong tiếng Anh thời trung đại (Middle English), bắt đầu với sự xâm chiếm của người Norman (1066), và kéo dài đến thế kỷ thứ 15 để chuyển qua thời cận đại, ngữ pháp tiếng Anh cổ được giản dị hoá hay phế thải, một số lượng lớn các từ ngữ tiếng Pháp được du nhập trong các lãnh vực luật pháp, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo và tiếng Anh dùng trong triều vua. Thời ban đầu của giai đoạn này không sản xuất được bao nhiêu về văn chương vì vị thế tiếng Pháp cao hơn, có uy tín hơn nên người ta chuộng viết bằng tiếng Pháp hơn tiếng Anh. Có lẽ Goscha muốn nói tiếng Việt “An Nam trung đại” cũng thành hình từ những người song ngữ du nhập tiếng Tàu vào tiếng địa phương, tuy tiếng Tàu vẫn giữ địa vị cao hơn trong giới “elite” học thức và biết đọc biết viết.
     Nội dung nặng về chính trị, nhất là địa chính trị và đặt lịch sử Việt Nam vào bối cảnh của vùng Đông Nam Á và thế giới. Chúng ta ít được đọc về các chiến tích của người Việt và những anh hùng (như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão), hay những địa điểm (như Bạch Đằng, Diên Hồng, Vạn Kiếp) mà chúng ta tự hào và còn nhớ tên qua các con đường ngày xưa qua các đô thị ở miền Nam. Những trận đánh của Trần Hưng Đạo chống quân Mông Cổ chẳng hạn, ít được đề cập. Tác giả nhắc đến sự đe doạ đường bộ cũng như đường biển của quân Mông Cổ đối với Đại Việt cũng như đối với vương quốc Chăm vào thế kỷ thứ 13 và nói người Chăm cùng với người Việt cùng nhau ngăn chặn quân Mông Cổ ở trên sông Hồng. “Do đó họ [người Việt] phải kết hợp với những người cạnh tranh với họ ở vùng duyên hải (người Chăm) để đẩy lui những tấn công còn mạnh hơn nữa của người Mông Cổ. Người Chăm và người Việt chặn được chúng ở trên sông Hồng trong lúc người Nhật và người Java thực hiện việc này về phía biển.”
     Chiến thắng quân nhà Thanh Trung Hoa năm 1789 của vua Quang Trung cũng chỉ được nhắc qua bằng một câu: “Trong một chiến thắng lịch sử ngày nay còn được ăn mừng, Quang Trung trục xuất người Tàu và cai trị Đại Việt từ Hà Nội cho đến lúc ông mất năm 1792 (trang 43). Tuy nhiên, tác giả so sánh tác dụng biến đổi của Tây Sơn trên nước Việt Nam tương tự như tác động của Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Hoa thế kỷ thứ 19. “Anh em Tây Sơn cưỡi trên một ngọn sóng bất bình ào ạt của dân chúng, tạo nên những liên minh thực tiễn với các nhóm không phải gốc Việt, biết dùng các mạng lưới tôn giáo, và khai thác các nhóm cướp bóc, tội phạm ở ngoại biên xã hội và thành công lớn lao. Cơn cuồng nộ xã hội mà họ giải phóng cũng như sự tơi tả của các đơn vị chủ quyền mà họ để lại đằng sau có tác dụng biến đổi ngang với những gì mà Thái Bình Thiên Quốc thực hiện được ở Trung Hoa. Bằng cách diễu hành từ một đầu này qua đầu kia của Việt Nam, Tây Sơn mở đường cho một quốc gia thống nhất rộng hơn, do miền nam chủ đạo, được Gia Long đảm đương lúc cuối cùng ông chiến thắng Tây Sơn năm 1802” (trang 44).
     Tác giả không muốn trình bày sử Việt Nam qua một quá khứ bị trị, bị thực dân đô hộ, là một chuỗi chiến tranh ở một mảnh đất có vị trí chiến lược, địa chính trị, luôn luôn bị thèm muốn, trong đó Việt Nam thụ động như là một nạn nhân, theo như ‘narrative’ [chuyện kể] của các thế lực lớn. Ngược lại, tác giả muốn trình bày Việt Nam như là một tác nhân (actor) tích cực trong sự nhào nặn ra lịch sử của chính mình. Một khía cạnh khác, trong quá khứ đã hiện hữu không chỉ một nước Việt Nam, mà nhiều nước Việt Nam khác nhau, như Đàng Trong và Đàng Ngoài thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, nước Việt Nam hình chữ S của thời Gia Long thống nhất sơn hà, Việt Nam đế quốc thời Minh Mạng...
     Tác giả nhấn mạnh chính Việt Nam đã từng là một đế quốc (đối với Miên, Lào) và từng bành trướng từ thung lũng sông Hồng lan đến tận mũi Cà Mau. Tác giả phân biệt từ “Viet” để chỉ người Kinh [đa số], tương tự như người Hán để chỉ người Tàu đa số, và từ “Vietnamese” để bao gồm tất cả sắc tộc, sắc dân đa số hay thiểu số [như Chăm, người gốc Hoa, gốc Khmer] sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.
     Các biến chuyển văn hoá được bàn đến một cách rộng rãi. Chương 12 dành trên 30 trang sách cho “Thay đổi văn hóa trong thế kỷ 20 dài”, ngoài những tên tuổi như Tự Lực Văn Đoàn, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phan Chu Trinh... còn nhắc đến những nhân vật ít thấy trong sách sử như nhạc sĩ Phạm Duy; Trịnh Công Sơn; Nhã Ca, nữ tác giả của Giải Khăn Sô Cho Huế (1969); Nguyễn Cát Tường tác giả áo dài “Le Mur”; kèm theo trích đoạn của bài thơ tình già của Phan Khôi, đoạn đầu bài thơ “Xa cách” (Still too far away) của Xuân Diệu và một đoạn thơ khác của Trần Dạ Từ (chồng của Nhã Ca, in sai là Tran Da Thu): Some gifts to express my love. Nói về văn nghệ sĩ, trong chương 11 bàn về quá trình thống nhất Việt Nam (Toward One Vietnam), một điểm thú vị khác là văn chương phản chiến ở miền bắc năm 1963 được nhắc đến qua Phù Thăng (Phu Thang, 1928-1996) với cuốn tiểu thuyết “Phá vây” (Breaking the Siege) nói về nỗi khổ trong chiến tranh chống Pháp, với tư tưởng tác giả Phù Thăng bị ảnh hưởng của phong trào sống chung hoà bình Khrushchev đề ra năm 1956.
     Cũng trong chương 11, hình ảnh Tổng thống Ngô Đình Diệm được trình bày khác với cuốn sách nổi tiếng thời đó Fire in the Lake (1972) của tác giả phản chiến Frances FitzGerald, sách được giải Pulitzer của Mỹ và mô tả Tổng thống Ngô Đình Diệm như là một con rối của Mỹ, không khác gì vua Bảo Đại. Goscha viết:
     “Vấn đề đối với người Mỹ thời đó, tuy nhiên, lại là Ngô Đình Diệm không phải là một con rối (puppet, bù nhìn). Nhà lãnh đạo dân tộc có đầu óc tự chủ mãnh liệt này nhiều lần cưỡng lại sự khuyên bảo của Mỹ. Ông ta và em ông ta, ông Ngô Đình Nhu, có ý kiến riêng của họ về xây dựng quốc gia, cải cách ruộng đất, và chống nổi dậy. Và cùng nhau, họ lắm khi làm những người Mỹ ủng hộ họ phải điên lên. Như một nhà ngoại giao từng ở Sài Gòn thời đầu thập niên 1960 sau này tóm tắt về các khó khăn lúc thương lượng với gia đình nhà Ngô: ‘Thì cũng giống như phải đối phó với một tá [người muốn khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia họ như tướng Charles] de Gaulle [của Pháp sau thế chiến thứ 2]’”.
     Chương cuối mang tựa đề: Chủ nghĩa độc tài, chủ nghĩa cộng hòa và thay đổi chính trị (Authorianism, Republicanism and political changes). Theo định nghĩa, Cộng hòa là một quốc gia trong đó quyền lực cao nhất nằm trong tay của người dân và những đại diện được họ bầu ra, với một tổng thống hay chủ tịch được chỉ định hay bầu ra thay vì một ông vua như trong chế độ quân chủ. Có vẻ như tác giả dùng từ Chủ nghĩa cộng hòa" [Republicanism] để chỉ những phong trào mà trong báo chí hải ngoại thường gọi là “Dân chủ đa nguyên (Pluralism), bao gồm những nhân vật từ gần trăm năm trước như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thế Truyền, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thái Học cũng như những người đương thời như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, nữ văn sĩ Dương Thu Hương và nhóm nhân sĩ ký tên vào bản kiến nghị gởi cho Đảng Cộng Sản Việt Nam trước ngày họp đại hội năm 2016. Câu hỏi cuối sách là không biết những nhóm bảo vệ xã hội dân sự này sẽ vẫn chỉ là những tiếng nói rời rạc, hỗn độn hay họ sẽ hoà hợp với nhau để làm mới nước Việt Nam hay để tạo thêm một nước Việt Nam khác nữa. 
     Nói chung, “Vietnam, A New History” là một trong những cuốn sách sử Việt đáng chú ý gần đây do một sử gia chuyên nghiệp viết bằng tiếng Anh. Khác với những cuốn sách khác về sử Việt Nam như “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim, hay trong tiếng Anh “A History of the Vietnamese” của Keith W. Taylor, cuốn sách này không trình bày đồng đều về các thời đại khác nhau của lịch sử chúng ta đi từ thời cổ đại cho đến thời hiện nay. Như một người điểm sách Mỹ sống tại Việt Nam nhận xét (Justus Pendleton) tác giả dành phần lớn các trang sách cho thời cận đại khoảng 1900-1980, cũng như không thấy dùng nhiều những nguồn tham khảo gốc bằng tiếng Việt, dùng những từ tiếng Việt mà không bỏ dấu (trong lúc tiếng Pháp thì bỏ dấu đàng hoàng) chứng tỏ tác giả có vẻ bàn về những điểm mà mình thích và có sẵn tài liệu hơn là cố tình viết một cuốn sử bao quát về Việt Nam.
     Tuy nhiên, đây cũng có thể là một điểm mạnh cho cuốn sách. Chúng ta phần lớn từng học sử theo niên đại với nhiều chi tiết tên tuổi cần phải nhớ để đi thi, hay đọc sử nước nhà qua lăng kính của một người công dân gắn bó với quê hương và di sản tổ tiên để lại. Tác giả Goscha là một nhà khoa bảng chuyên về sử học từng được một giáo sư sử học quốc tế nổi tiếng người Việt (từng là giáo sư của Miền Nam Việt Nam) hướng dẫn, và từng huấn luyện và khảo cứu ở nhiều nước liên hệ đến Việt Nam (Pháp, Mỹ, Canada, Úc, Thái Lan). Được một chuyên gia tầm cỡ như thế trình bày những câu chuyện về đất nước, ông bà của của chính chúng ta qua lăng kính đặc biệt của một người ngoại cuộc giúp chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn, và không kém phần thú vị về một đề tài tuy cũ nhưng vẫn còn nhiều điều mới mẻ.

 

– Hồ Văn Hiền

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Muốn đồng hóa một dân tộc, trước tiên là phải tước đoạt căn cước riêng của dân tộc đó, và biến kho tàng văn hóa của dân tộc đó trở thành tài sản riêng của mình. Đó là chuyện Nga đã và đang làm ở Ukraine. Chúng ta nên hỏi rằng tại sao các triều đình Trung Hoa trong hơn một ngàn năm đô hộ Việt Nam vẫn không thể đồng hóa dân Việt Nam? Nếu tiếng Việt bị xóa sổ sau khi Mã Viện tận diệt quân Hai Bà Trưng và dựng cột đồng, có thể bây giờ chúng ta đang sinh ra, lớn lên và giao tiếp trong bầu không khí của ngôn ngữ Quan Thoại, hay Quảng Đông. Trong bài này, chúng ta sẽ xem cách người Nga tước đoạt căn cước văn hóa Ukraine, đặc biệt là các tài sản mỹ thuật, trong khi truy diệt các tài năng nghệ thuật nơi họ xâm chiếm. Bài này sẽ tổng hợp nhiều tài liệu UNESCO, PEN Ukraine và các báo như United 24 Media, Intent Press..
Irvine (California), ngày 17 tháng 12 năm 2025 – Đại học California tại Irvine hôm nay loan báo một tin đáng chú ý trong giới học thuật: ông Hoàng Nhu, kỹ sư điện tử, Giám đốc điều hành hãng NousLogic Telehealth, cùng chị là bác sĩ Thức Trinh Thị Nhu, tốt nghiệp Y khoa tại UCI năm 1993, vừa hiến tặng một khoản tài trợ trọng đại cho Trường Kỹ sư Samueli. Khoản hiến tặng này được dùng để thành lập Quỹ Tài Trợ Họ Nhu, với mục đích hỗ trợ lâu dài cho Khoa Điện – Điện tử và Khoa học Máy tính. Để ghi nhận tấm lòng ấy, nhà trường quyết định đặt tên Hoàng Nhu cho khoa, như một biểu tượng của mối giao kết giữa khoa học, giáo dục và lý tưởng nhân văn.
Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình. Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai: Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn. Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, lấy ngón tay chỉ lên bức thư pháp trên tường:“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).
Chiều Chủ Nhật 8 tháng Sáu, 2025 vừa qua, giữa lòng thành phố Fountain Valley, Nam California, trong một không gian âm nhạc nhỏ bé, ấm cúng nhưng trang trọng và thân mật, khoảng trên dưới 30 khán giả mộ điệu đã được thưởng thức một chương trình nhạc thính phòng tuyệt vời với ban tam tấu TrioniCity...
Thầy Chân Pháp Từ, người xuất thân từ Làng Mai của thiền sư Nhất Hạnh, đang trụ trì đạo tràng Tâm Kim Cương, Hawaii, trao đổi với Nguyễn Hòa, tại chùa Phổ Giác, Novato, California. Ngày 25/5/2025.
Trong 50 năm vừa qua, cộng đồng Việt Nam đã có những thành tựu nào về chính trị và văn hóa? Thực tế là đã có rất nhiều chuyển biến. Thời gian đầu là những cộng đồng tỵ nạn ở Hoa Kỳ, lan rộng thành những cộng đồng đông người Việt hơn ở rất nhiều nước trên thế giới; và rồi hình ảnh những người thất trận và tỵ nạn mờ nhạt đi. Nhiều thế hệ trẻ ra đời, trưởng thành, trở thành và gánh vác một căn cước mới. Từ đó, có nhiều cộng đồng mang thêm sức mạnh chính trị, văn hóa.
Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên Thập Giá vào thứ Sáu và ngày Chủ Nhật, ngài sống lại trong vinh quang. Đây là những ngày rất đặc biệt của các tín hữu Thiên Chúa Giáo đang đón mừng Chúa Phục sinh trên toàn thế giới...
Cuối năm là lúc con người nhìn lại về giá trị cuộc sống. Một bài viết trên trang mạng The Conversation nêu vấn đề về những vực thẳm chính trị, các cuộc chiến tranh, áp bức… và con người vì thế cảm thấy vô vọng và bất lực khi chứng kiến những thế lực đen tối diễn ra khắp nơi trên thế giới. Liệu chúng ta có thể làm được điều gì đem lại thay đổi trước những bi hoại này hay không?
Nhóm Vietnamese American Art Club (VAAC) triển lãm hội họa với chủ đề Hương Sắc Quê Nhà...
Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy hận thù, xung đột, phân hóa và cực đoan. Mạng sống vốn bình đẳng và quý giá của con người đã chẳng còn chút giá trị thiêng liêng và cao quý nào cả trong cái nhìn lạnh lùng và trái tim sắt đá của những nhà lãnh đạo và chính trị gia cuồng vọng, hay của những đảng phái và chủ nghĩa cực đoan, độc tài và tàn bạo! Nhân loại đang rơi vào thảm họa của một thời kỳ nhuốm màu sắc văn hóa cục bộ, phiến diện và bất bao dung. Đó là sắc thái văn hóa, mà trong đó hoặc là anh đúng, hoặc là tôi đúng; hoặc là anh chết, hoặc là tôi sống; không có thỏa hiệp, không có cộng sinh. Và dĩ nhiên, không ai chấp nhận mình sai, cũng không ai muốn mình chết. Cho nên, chúng ta phải quyết đấu nhau, một còn một mất.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.