Hôm nay,  

Câu đối ngày Tết

22/01/202314:19:00(Xem: 4319)
Tùy bút ngày Xuân

xcau-doi

Vốn là một sản phẩm của nền Hán học nhưng khi nền Hán học cáo chung thì chơi câu đối vẫn là một thú chơi tao nhã. Ngày xưa mỗi độ xuân về, nhà nhà trưng câu đối. Bậc thức giả thì câu đối đầy ý nghĩa thâm sâu, điển cố xa xưa. Người bình dân thì câu đối giản dị hơn, gần gũi đời sống hằng ngày hơn; chung quy cũng là nói lên chí hướng, chúc phúc, cầu may mắn, gởi gắm tâm tư…

 

Những năm gần đây phong trào viết thư pháp, chơi câu đối có vẻ phát khởi khá nhộn nhịp. Tuy nhiên bây giờ không còn nhiều người biết chữ Hán nên viết bằng chữ Việt. Có khá nhiều lời khen, chê nhưng dù gì đi nữa đây cũng là một cái thú tao nhã, thanh lịch làm phong phú thêm đời sống văn hoá vừa duy trì chút ít truyền thống.

 

Chuyện kể rằng, một năm nọ vào buổi sáng Nguyên Đán vua Lê Thánh Tông cùng vài cận thần bất ngờ viếng thăm một ngôi chùa ở kinh thành. Hoà thượng trụ trì đang tụng kinh, thấy vua đến bất chợt nên luống cuống đánh rơi dùi. Sứ giả nhanh tay nhặt lấy đưa nhà sư. Vua Lê hứng khởi liền ra vế đối:

 

Đường thượng tụng kinh sư sử sứ.

 

Một lát sau vẫn chưa thấy ai đối, chỉ thấy Trạng Lương Thế Vinh ra ngoài sân giả vờ lảo đảo say. Vua hỏi: "Sao khanh không đối mà làm điệu bộ quái lạ thế?" Trạng thưa: “Thần đối rồi đấy!" Vua lại hỏi: "Ta vẫn không hiểu."  Trạng bèn đọc:

 

Đình tiền tuý tửu phụ phù phu.

 

 Mọi người cười giòn vỗ tay tán thưởng. Cũng vào một sáng xuân, tại kinh đô Phú Xuân, quần thần và hoàng gia vào chúc phúc vua, hôm ấy có cả sứ giả phương Bắc. Minh Mạng hứng khởi ra vế đối:

 

Bắc sứ lai triều.

 

Chưa có ai đối kịp thì Thái tử Hồng Bảo nhanh nhẩu đối:

 

Tây Sơn phục quốc.

 

Câu đối làm cả triều đình bàng hoàng. Thái tử vô tình phạm lỗi chết người. Vua giận dữ thét lên: “Tây Sơn phục quốc thì đất đâu cho mày làm vua?” Sau này Thái tử bị truất vì nhiều lý do nhưng cũng có một phần từ câu đối tai hại này! Đây chỉ là giai thoại chứ  không phải chính sử, chưa chắc đã là sự thật, nhân ngày Tết nhắc lại góp vui thôi.

 

Có một đôi câu đối rất quen thuộc cho ngày Tết, nhiều người biết, nhiều nhà treo:

 

Thiên thiêm tuế nguyệt nhân thiêm thọ,

Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường.

 

 

Thật hay, thật đẹp, đầy đủ ý nghĩa… Lời chúc trọn vẹn thọ, phúc… không khí xuân tràn cả đất trời, nhưng có một chút hóm hỉnh sâu xa: Nếu đem hai chữ cuối ghép laị: THỌ ĐƯỜNG thì ra một cỗ quan tài, ngày Tết mà chúc thế này thì chết! Nhiều vị viết chữ, cho câu đối không hiểu cái thâm thúy này nên thấy viết tặng rất nhiều trong dịp Tết.

 

Những năm thời bao cấp, đời sống vô cùng khốn khó, "gạo châu củi quế". Những người làm nghề giáo thì còn khốn khổ hơn, vì thế có người tức cảnh sinh tình viết như sau:

 

Tối ba mươi thầy giáo tháo giầy ra chợ bán,

Sáng mồng một giáo chức dứt cháo đợi người mua.

 

Có hai câu đối mà hầu như mọi người đều biết, có thể nói rất “kinh điển”, rất tiêu biểu cho mùa xuân, ngày Tết:

 

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ,

Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh.

 

Hoặc là:

 

Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột,

Om thòm trên vách bức tranh gà.

 

Mùa  xuân đang ngấp nghé bên thềm, mùa xuân đem laị cái vui, cái mới, cái hy vọng cho cuộc đời. Mùa xuân là mùa của tuổi trẻ, của hy vọng. Mùa xuân dân tộc gắn liền với đạo Phật cả ngàn năm rồi, xuân dân tộc cũng còn gọi là xuân Di Lặc (Ngày vía của ngài). Mùa xuân lên chùa lễ Phật, viếng tổ, tảo mộ, tưởng nhớ tổ tiên ông bà… Nếp sống bao đời nay của người Việt ta. Ngày xưa mỗi độ xuân về, dù là dân thị thành hay thôn quê; dù là người hay chữ hay người ít chữ, ai cũng đến thầy đồ xin cặp câu đối về treo trong nhà mừng ba ngày Tết; cái nếp trưng câu đối, chơi câu đối vậy mà hay. Qua câu đối người ta có thể đoán biết gia chủ là hạng người nào trong xã hội.

 

Chuyện câu đối thì dài dài, Tiểu Lục Thần Phong cũng xin góp mặt mua vui cho bạn đọc trong những ngày xuân:

 

Phật ngự toà sen cầm hoa sen truyền trao chánh pháp,

Sư toạ kiết già tụng lăng già thọ nhận thanh quy.

 

Tuệ Như Lai tử thông kinh quán sử đại bi vị tứ chúng đương thân hộ pháp thọ ấn phục quang tăng thống viện,

Sĩ đại trượng phu liễu triệt cầm thi vô úy độ quần sanh nhất tâm phù gia truyền đăng tinh tấn thị ngạn am.

 

Ông Dương tuổi mùi dáng dấp như rồng năm mèo tí tởn,

Bà Ngọ tuổi ngựa  điệu bộ tợ rắn năm chó dần lân.

 

Tết đến quan đỏ ấm áp quà cáp tùm lum khách khứa đàn em nhớ vui quá độ,

Xuân về dân đen lạnh lẽo áo cơm cạn kiệt thân thuộc láng giềng quên buồn hắt hiu.

 

Cha quan quyền ngày tháng kết bè phái đấu đá kèn cựa có tiếng ăn bẩn chẳng chừa chi tham lam lòng không biết đủ,

Con công tử quanh năm gầy gái gú đàn đúm dậm dật nổi danh chơi dơ vung vãi nào có tiếc phá táng tâm bất cần lo.

 

Dân Ch hao hao thiên t chìu lòng ly phiếu lp dưi chính tr không chê bài bn ý nguyn cui cùng phi thng,

Cộng Hòa hơi hám hu khuynh tn dng ưu thế tng trên quan quyn bt k mưu gian tâm tư hàng đu không thua.

 

Hoa khai phú phát thanh minh chính tr kinh k cc siêu đi đa trưng giang vn vt đng thng,

Kỳ pht quý phi bình đng dân quyn giáo ngh khai phóng cao sơn khoát hi nhân qun d mưu sinh.

 

Thân Tây hưởng lợi kinh tế kỹ thuật tối tân phát triển dân chủ nhân quyền toàn vẹn sơn hà lãnh thổ,

Theo Tàu chỉ tổ thương mại công nghệ lạc hậu củng cố độc tài toàn trị hao hụt biển đảo quốc gia.

 

Sau đây bút giả cũng có vài câu thách đối, xin mời huynh đệ cùng góp vui:

 

Nhân dân tệ quyền lực không tệ quan vơ vét thậm tệ nên nhân dân tệ,

 

Cây sầu đông chẳng ở đồng sâu đâu phải đầu sông sao đông sầu đồng su,

 

Bao dung nhng tưng không chp nht nào ng bng d âm thm bung dao tung võ khí,

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 01/23)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ni Sư Daehae, cũng là nhà đạo diễn điện ảnh nổi tiếng, đã thắng giải thưởng Phim truyện xuất sắc nhất (Best Fiction Film) tại Đại hội điện ảnh Bangladesh, theo tin của báo Korea Joong Ang Daily ngày 19/1/0226.
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.