Hôm nay,  

Pho tượng đồng đen trong garage

29/10/202212:27:00(Xem: 4366)

Truyện ngắn

blackman

Chị Bông ra ngoài sân trước cắt cỏ đã thấy garage nhà hàng xóm bên cạnh mở toang ra  và ông Bill ngồi đấy như thường lệ. Hai vợ chồng ông Bill chỉ có một chiếc xe, họ đậu xe ngoài sân, trong garage sử dụng như một nhà kho để đồ đạc và giữa garage luôn kê một chiếc ghế làm chỗ riêng cho ông Bill ngồi, ông ngồi đấy chỉ để uống một hai lon bia và nhìn ra ngoài. Thế thôi.

 

Lần này chị Bông vội bước sang để hỏi thăm ông:

 

– Chào ông Bill, tôi nghe vợ ông nói ông bị bệnh, hôm nay trông ông đã khỏe rồi, chúc mừng ông.

 

Ông Bill gượng mỉm cười, giọng nói khàn khàn:

 

– Cũng không hoàn toàn là khỏe nhưng bác sĩ nói tạm được và cho tôi về nhà trong khi chờ đợi những lần tái khám.

 

Chị Bông nhìn ông Bill, quả là ông đã gầy đi, gương mặt với hai gò má hóp và đầu ông thì nhẵn nhụi không còn tóc.

 

Ông Bill chậm rãi kể:

 

– Thật kinh khủng, tôi bị chẩn đoán ung thư cuống họng sau những lần ho khan khó nuốt và khó thở. Hiện nay tôi đang hoá trị và xạ trị.

 

Dù sao cũng chúc mừng ông được trở về nhà và ngồi đây, vắng bóng ông cửa garage luôn khép kín và tôi như thấy thiếu thiếu một cái gì đó.

 

– Chị nói đúng như tôi đã nghĩ, những ngày nằm trong bệnh viện tôi cũng thấy thiếu vắng một điều gì và trống trải vô cùng. Thì ra tôi nhớ chỗ ngồi này của tôi.

 

Chị Bông và ông Bill cùng mỉm cười cảm thông nhau. Ngày vợ chồng chị Bông đến chọn lô đất xây nhà chị đã thích địa điểm này, kiểu nhà này, vợ chồng chị chọn màu gạch đỏ vì màu đỏ luôn làm mới căn nhà hơn những màu khác, cũng như khi mua xe hơi chị Bông thích những màu trắng hay đỏ thì dù sau này đời xe đã cũ nhưng trông vẫn sáng sủa hơn các màu khác dù xe cùng thời.

 

Khi căn nhà chị đang xây thì ông Bill đến chọn mua lô đất bên cạnh nhà chị Bông, trái ngược với căn nhà màu gạch đỏ tươi nhà chị, nhà ông Bill màu gạch xám đen. Chị Bông đã thất vọng vô cùng vì nhà hàng xóm sẽ “lây lan” cái màu tối sầm sang nhà chị, làm mất đi vẻ đẹp của dãy phố và chị càng thất vọng hơn khi chủ nhân ngôi nhà ấy là vợ chồng người da đen.

 

Người da đen thích màu xám có lẽ cho đồng điệu với màu da của họ? Một ngôi nhà thờ lớn của người da đen trong thành phố này cũng là màu xám từ vách tường cho tới màu mái nhà, y như màu gạch tường và màu mái nhà ông Bill.

 

Khi chị Bông và ông Bill dọn vào nhà mới tình hàng xóm chỉ là con số không to tướng, mỗi lần ra sân trước chị Bông đều quét ánh mắt cau có liếc sang nhà hàng xóm với vẻ ác cảm và khó chịu, chị chỉ mong vài ba năm sau ông Bill sẽ không có tiền trả mortgage, sẽ thấy cái bảng “For Sale” cắm trước nhà ông Bill cho… sướng con mắt.

 

Anh Bông hiểu ý nói cho chị vừa lòng:

 

– Người Mỹ có nhiều lý do để dọn nhà, nay mai nhà ông Bill cũng thế. Vậy em đừng “mặt sưng mày sỉa” với họ nữa.

 

Nhưng điều ấy chắc chẳng bao giờ đến vì càng ngày ông Bill càng o bế nâng niu căn nhà màu xám xịt của ông. Trước sân ông trồng một cây Maple và một cây hoa Crape Myrtle,  hai năm sau cây Maple ra lá đỏ vào mùa Thu thật đẹp và cây Crape Myrtle ra hoa màu tím đậm suốt mùa hè cho đến mùa Thu thật quyến rũ làm chị Bông cũng phải ghen tị. Chị thích hoa lá nhà ông Bill chứ nhất quyết không cảm tình với vợ chồng ông ta.

 

Ông Bill có vẻ hạnh phúc vì chúng lắm, ngày nào ông cũng mở cửa garage lên, ông ngồi trên ghế và ngắm nhìn những tác phẩm của ông trồng đã lớn nhanh và ra hoa ra lá. Đôi khi chị Bông bắt gặp ông Bill ngồi đấy trong một buổi chiều tà, người đàn ông da đen trong khung cửa màu xám đen trông ông như một bức tượng đồng màu đen huyền bí.

 

Chị Bông đã có lần lẩm bẩm:

 

– Người đã đen lại ngồi trong garage màu xám trông thấy mà ghê!

 

Bây giờ thì chị Bông thầm công nhận bề ngoài căn nhà màu xám của ông Bill đẹp hơn nhà chị, mỗi khi tới mùa Thu màu lá đỏ và màu hoa tím nổi bật bên màu tường xám thành một bức tranh linh động hài hoà, thành sắc màu thâm trầm sâu lắng, u ẩn nên thơ.

Vườn sau nhà ông Bill trồng hai cây lê, cây mới trồng một năm quả đã treo lủng lẳng trên cành. Sao mà ông mát tay đến thế, trồng hoa hoa đep, trồng lá lá xinh, trồng cây ăn trái thì trái ra nhiều như con heo mẹ đẻ trúng lứa ra đàn con lố nhố đáng yêu.

 

Chị Bông muốn bắt chước nhà ông Bill, nhưng anh Bông gàn bướng không chịu trồng cây bóng mát trước sân vì sợ rễ cây to làm hư foundation, còn trồng hoa thì anh bảo chỉ rước nợ vào thân, cả hai vợ chồng cùng bận thì giờ đâu mà ngắm hoa hoét lại còn phải quét rác nhặt hoa rơi phí cả thì giờ vàng ngọc. Với lại anh Bông bảo để vườn trống cho dễ cắt cỏ, hai vợ chồng thường cãi nhau vì chuyện này, chị Bông thua cuộc nhưng chị tin là sẽ thắng cuộc trong một dịp khác. Hai vợ chồng chị như hai đội bóng giao đấu có lúc phe này thắng phe kia thua.

 

Ông Bill là người làm quen chị Bông trước, khi có một ngày cả hai đều không hẹn mà cùng cắt cỏ nơi sân trước, nhờ thế chị Bông biết nhiều về ông Bill hơn, ông là cựu chiến binh Việt Nam, có 2 con gái đã lập gia đình, hai ông bà mua căn nhà này ở dưỡng già vì cả hai cùng về hưu, đến tuổi này ông Bill mới lần đầu tiên mua được một căn nhà nên ông vui lắm, ông hãnh diện nói đây là căn nhà lý tưởng của ông nên ông thích mở cửa garage để nhìn ra ngoài cũng đủ vui rồi, chỉ khi nào thời tiết quá nóng hay quá lạnh ông mới chịu thất hứa với chính mình không mở toang cửa và ngồi giữa garage làm pho tượng sống trong mắt chị Bông nữa.

 

Ông Bill hào hứng phân tích:

 

– Căn nhà chúng ta nơi khu phố này càng ngày càng có giá trị vì gần sân vận động football của đội bóng Cowboys, mà đội bóng Cowboys của Dallas Texas nổi tiếng cả nước, giá trị đội bóng này rất cao.

 

Chị Bông đã nói một câu vô duyên:

 

– Tôi có thấy đội bóng Cowboys tài tình gì đâu, năm nào cũng ra rìa. Họ có cho tôi vé tôi cũng không đi xem.

 

Ông Bill hơi cụt hứng:

 

– Tại chị chưa hiểu rõ về môn thể thao này, vé bán không đủ ai có mà cho không chị.

 

Chị Bông càng vô duyên:

 

– Mà mỗi lần có sự kiện tại sân football thành phố Arlington tràn đầy du khách, lại bị kẹt xe. Tôi chán lắm.

 

– Vui chứ sao và du khách đến là mang lợi nhuận cho thành phố chúng ta. Chị không thấy thành phố Arlington đang từng bước đổi mới để làm đẹp mắt du khách à.

 

– Ôi giời, cái thư viện ở đường Abram ngay trung tâm downtown của Arlington to đẹp thế mà họ đập đi chắc để xây cái mới. Thật là lãng phí!

 

Người Mỹ thích môn football và hãnh diện vì nó quá nhiều, ngày thành phố Arlington tiểu bang Texas này được chủ nhân đội Cowboys chọn là nơi xây sân vận động, cả chính quyền thành phố và cư dân đã vui mừng hớn hở đến sôi sục, đi đâu ở đâu cũng nghe người ta bàn về sân vận động Cowboys tương lai, sân vận động đang xây cất mà thành phố đã countdown từng ngày, rồi từng giờ từng phút ngày hoàn tất, giá nhà đất gần khu sân vận động đã tăng nhanh tăng vọt, một cái duplex cũ mèm xây từ đời tám hoánh nào bỗng được chủ nhân hét giá tận mây xanh làm như mua miếng đất gần sân thể thao này sẽ hái ra bạc khạc ra vàng. Chẳng thế mà căn nhà màu xám của ông Bill ở cách xa sân vận động mấy miles cũng được ông… tự động đánh giá cao, cho là sẽ càng ngày càng đắt giá.

 

Ông Bill mỗi ngày hoặc đôi ba ngày vẫn ngồi ngoài sân thưởng thức những hương vị cuộc đời.

 

 

Chị Bông đã quen mắt nhìn pho tượng đen ngồi trong garage, ông Bill thường ngồi từ buổi chiều cho đến chập tối. Chị Bông thấy yên tâm khi đi đâu về vào buổi tối, coi như ông Bill đã ngồi “canh gác” cho nhà chị chẳng lo kẻ xấu nào bén mảng tới gần nhà. Hai garage ở cạnh nhau mỗi khi thấy chị Bông bên này ông Bill bên kia lại giơ tay chào, pho tượng sống kể ra cũng lịch sự lắm, dĩ nhiên chị Bông cũng vui vẻ giơ tay chào lại. Chị Bông hối hận vì thời gian đầu đã ghét ông Bill, nhà ông xây gạch màu gì là quyền của ông cũng như chị thích xây nhà màu đỏ là quyền của chị, ông Bill có ghét cũng chẳng làm gì được chị và màu da đen của ông nào có tội tình gì. Chị đã giận đã ghét người ta vô cớ, tính nết chị, anh Bông  bảo là đành hanh không sai tí nào.

 

Biết ông Bill từng chiến đấu tại Việt Nam chị Bông đã cảm tình ngay, người ta đã hi sinh thời gian của tuổi trẻ, hi sinh mọi thứ tiện nghi của đời sống văn minh tại Mỹ để đến đất nước nghèo khổ và chiến tranh của mình. Bao nhiêu  ác cảm tan biến hết, chị Bông thực sự cảm mến ông bà Bill và ước muốn ông bà mãi là hàng xóm của chị.

 

Khi thấy cửa garage nhà ông Bill một thời gian dài đóng kín chị Bông ngạc nhiên  hỏi thăm bà Bill chị Bông mới biết ông bị bệnh và nằm bệnh viện. Hôm nay ông đã trở về nhà, pho tượng đồng đen lại xuất hiện nơi giữa garage.như một lời thề bất di bất dịch.

 

*

 

Bây giờ đã vào mùa Thu của Texas, cây Maple trước sân nhà ông Bill lá đã lác đác chuyển sang  màu đỏ, cây Crape Myrtle cuối mùa vẫn sum suê hoa tím đẹp não nùng, chị Bông thầm cám ơn ông Bill đã trồng hoa cho chị ngắm, còn anh Bông nhà chị tên là “Bông” mà chẳng thích… bông hoa gì cả.

 

Chị Bông đang lái xe về nhà, chiều nay chị đi dự một buổi họp mặt tại nhà một người bạn đồng môn thời trung học khi có vài bạn từ tiểu bang khác đến. Lâu ngày bạn cũ gặp nhau cả bọn đã ăn uống và chuyện trò không ngớt mãi gần khuya mới chia tay. Ngày mai là cuối tuần nên ai cũng thoải mái bất kể giờ giấc. Xe vào đến sân nhà chị Bông nhìn đồng hồ trên xe đúng 11 giờ 30 khuya, chắc là anh Bông chồng chị đang ngủ say ngon lành và ngáy khò khò, người dễ ngủ thế mà lúc nào cũng than mất ngủ. Chị bước ra khỏi xe và khi vô tình nhìn sang garage nhà ông Bill chị bỗng giật mình thấy cửa garage vẫn mở, ông Bill vẫn đang ngồi thù lù ở ghế giữa garage như thường lệ. Ông không mở đèn. Chị Bông đã quá quen thuộc với hình ảnh ông Bill ngồi đấy nhưng sao tối nay chị cảm thấy rờn rợn người, pho tượng đen ngồi trong bóng đêm thầm lặng càng thêm huyền bí.

 

Hình như sự im lặng của ông Bill, hình như trong bóng đêm mập mờ đã làm chị nghi ngại và hoảng sợ vu vơ, chị muốn cất tiếng chào mà không thốt nên lời. Còn hai tuần nữa mới đến ngày Halloween để ông Bill ngồi đây nhát ma chị Bông mà.

 

Nhớ mùa Halloween đầu tiên làm hàng xóm với nhau ông Bill đã cho chị Bông một phen khiếp đảm, buổi chiều đi làm về chị Bông thấy trong garage nhà ông Bill mở cửa, một bóng ma choàng đồ đen ngồi chình ình trên ghế, gương mặt nó thì trắng bệch như sáp trắng lạnh lùng  với hai hố mắt sâu hoắm đen ngòm và hàm răng dài trắng ởn nhọn hoắc nhe ra quái đản. Bóng ma đang nhìn trừng trừng vào chị Bông và không hề nhúc nhích động đậy. Sau vài phút giây toát mồ hôi lạnh chị Bông mới nghĩ ra đấy là trò chơi Halloween.

 

Những năm sau, mỗi mùa Halloween chị Bông lại hồi hộp và len lén nhìn sang garage bên cạnh để thấy ông Bill ngồi đó với những gương mặt và trang phục kinh dị làm chị điếng hồn. Mỗi năm ông “diện” một trang phục và đeo bộ mặt ma quái khác nhau, lần nào chị cũng có cảm giác rợn người dù biết chắc là ông Bill bằng xương bằng thịt chứ ma quỷ nào dám bước vào garage tranh chỗ ngồi của ông.

 

Hôm nay ông Bill ngồi khuya thế, mọi khi ông có ngồi đến tối muộn lắm cũng chỉ 8, 9 giờ tối là cùng. Hay là ông muốn hóng những cơn gió mát của mùa Thu? Hay là ông có chuyện gì buồn nên ngồi một mình trong bóng đêm cho tâm tư lắng đọng sầu vơi? Ông đã quên không giơ tay chào chị, thì thôi chị cũng tôn trọng sự riêng tư của ông. Ngày mai ngày mốt thế nào gặp chị ông Bill cũng sẽ kể chị nghe, ông thường chia sẻ với chị những lặt vặt buồn vui, những trở ngại thường tình trong cuộc sống. Chị Bông đã hài hước nghĩ thầm chị và ông Bill là “tri kỷ garage” vì hai người chỉ gặp nhau tại đây, trò chuyện tại đây.

 

Chị Bông bước nhanh vào phía cửa nhà mình, chị tưởng như có một luồng hơi lạnh sau lưng, có tiếng động nhẹ sau lưng y như ông Bill đã đứng dậy bước sang sân nhà chị và đi lẽo đẽo theo chị làm chị không dám quay đầu lại chỉ sợ những ý nghĩ trong đầu mình là đúng. Chưa bao giờ chị Bông thấy cái sân nhà mình dài đến thế, cái cửa xa đến thế, chị đi nhanh đến nỗi muốn vấp ngã mà cái cửa nhà hình như cứ lùi xa, lùi xa càng làm chị cuống lên, càng làm chị không dám quay đầu nhìn lại phiá sau.

 

Khi vào trong nhà chốt cửa lại chị Bông mới yên tâm. Chị bật đèn lên, đứng tựa lưng vào cửa và hít thở thật sâu cho mọi căng thẳng tan biến hết. Chị tự trách mình giàu tưởng tượng, ông Bill đi theo chị làm gì, ông vẫn ngồi bên đó nhưng chẳng biết đến khi nào ông mới vào nhà đi ngủ? Trách mình xong chị lại trách ông Bill sao không mở đèn garage lên làm cho chị vốn nhát gan phải lo sợ vu vơ.

 

Sáng hôm sau chị Bông thức dậy trễ, vừa làm món ăn sáng chị Bông vừa phơi phới niềm vui nhớ lại lúc vui đùa cùng các bạn tối qua, chị quên hẳn ông Bill. Chị Bông ra sân để nhặt tờ báo Dallas Morning News xem quảng cáo cuối tuần có gì vừa rẻ vừa đẹp là chị có lý do đi shopping ngay, chị đặt mua báo giấy này từ lâu nay, báo càng ngày càng ế vì bị internet chiếm lĩnh, anh Bông đòi cancel không mua báo nữa vì tin tức gì đọc trên net có ngay, nhanh chóng và nóng hổi nhưng chị Bông không chịu, chị bùi ngùi:

 

– Mua ủng hộ, tội nghiệp báo giấy đã hết thời vàng son của nó, báo Dallas Morning News đang xuất bản 500 ngàn số mỗi ngày dần dần tụt xuống chỉ còn 250 ngàn số. Em sẽ là người đọc đi theo tờ báo đến ngày cuối cùng nếu nó mạng yểu chết sớm.

 

– Hừm, em bao la từ tâm ghê nhỉ, thương cả các đại công ty tư bản. Hãy thưong chính thân mình đi, vợ hay chồng chẳng may bị mất việc là mất nhà mất cửa đấy.

 

– Anh à, em thương là thương tờ báo chứ không phải thương các ông bà chủ của nó, tờ báo là tâm hồn là người bạn chia sẻ với chúng ta biết bao nhiêu điều. Tờ báo gần gũi, ta cầm nó được, cất nó được, còn internet đọc xong là gió thoảng mây bay.

 

Hai vợ chồng cãi nhau cuối cùng chị Bông chiến thắng vẫn tiếp tục mua báo Dallas Morning News. Nếu ông bà chủ báo biết được tấm lòng chung thủy của chị Bông chắc ông bà sẽ cảm động rơi nước mắt.

 

Khi cầm tờ báo định quay vào nhà chị Bông mới nhớ đến ông Bill tối qua, chị nhìn sang garage nhà ông và ngạc nhiên vì đã mở từ lúc nào, chiếc ghế sắt giữa garage không người chỉ có chiếc áo jacket của ông khoác trên lưng ghế, hai tay áo lòng thòng như dáng người ngồi.buông tay hững hờ. Tối qua ông đã ngồi đây, tối qua ông đã quên đóng garage xuống hay sáng nay ông đã dậy sớm và lại mở cửa?

 

Chị Bông đang ngẩn ngơ thắc mắc thì bà Bill từ trong nhà đi ra, chị Bông cất tiếng chào:

 

– Chào bà Bill.

 

Người đàn bà da đen gương mặt buồn bã khác hẳn mọi ngày:

 

– Chào chị.

 

Chị Bông ngạc nhiên bước đến gần bà, bà Bill bỗng oà khóc:

 

– Ông nhà tôi vừa qua đời đêm qua tại bệnh viện.

 

Chị Bông tưởng tai mình nghe lầm, chị ngạc nhiên hỏi lại:

 

– Bà nói sao? Ông Bill vừa qua đời đêm qua? Tại bệnh viện?

 

Bà Bill xác nhận:

 

– Đúng thế, ông ấy mất lúc 11 giờ đêm, tôi đã ở bên ông ấy trong phút giây cuối cùng này, gần sáng tôi mới về nhà ngủ một chút lấy sức rồi bây giờ lại phải đi ngay để liên hệ với nhà quàn.

 

Chị Bông lẩm bẩm bằng tiếng Việt Nam như một con mẹ dại:

 

– Ông Bill qua đời lúc 11 giờ đêm qua, lúc mình mới về đến nhà là 11 giờ 30… Thế là thế nào?

 

Bà Bill không hiểu chị Bông nói gì, bà chỉ biết kể lể:

 

– Từ khi biết mình mắc bệnh hiểm nghèo ông Bill nhà tôi đau đớn lắm, tiếc không còn được ra ngồi ở garage nữa, một thú vui tầm thường, một cuộc sống nhàn hạ tuổi về chiều mà khó khăn lắm chúng tôi mới có được ngày này.

 

Chị Bông thất thần nhìn về phía garage nhà ông Bill, nhìn chiếc ghế có chiếc áo jacket, bây giờ bà Bill mới hiểu nỗi lo sợ trong đôi mắt nhà hàng xóm:

 

– Không phải ông Bill nhà tôi mở cửa garage này đâu, tôi mở đấy mà, chiều qua tôi có ghé về nhà lấy ít đồ trong garage rồi vội vàng vào bệnh viện ngay mà quên không đóng xuống cho tới tận bây giờ – Bà lại than thở – Tội nghiệp chồng tôi, lần cuối cùng ngồi ở garage vẫn để lại chiếc áo khoác tưởng rằng chiều hôm sau lại ra đây ngồi, thế mà ông vào bệnh viện và mãi mãi không trở về nhà.

 

Chị Bông lấy lại chút bình tĩnh và hỏi:

 

– Vậy là cả ngày hôm qua ông Bill không về nhà?

 

– Dĩ nhiên, vì ông đã nhập viện khẩn cấp từ ngày hôm kia và hôn mê sâu cho tới khi qua đời..

 

Chị Bông lạnh toát cả người, chị cố gắng lắm mới thốt ra được:

 

– Xin chia buồn cùng bà và gia đình. Chúng tôi cầu nguyện cho linh hồn ông Bill nơi mảnh đất bình yên vĩnh cửu.

 

Buổi sáng giữa ban ngày ban mặt mà chị Bông đi vội vào nhà như bị ma đuổi, chị quẳng tờ báo ra bàn và ngồi phịch xuống ghế sofa kinh hãi. Rõ ràng đêm qua chị đã thấy ông Bill ngồi giữa garage, không thể nào chị trông gà hóa cuốc được vì dáng ông to cao, ngồi mà vẫn sừng sững chứ có phải nhỏ bé như một món đồ chơi đâu mà chị có thể nhìn lầm?

Hay là bóng ma ông Bill đã hiện về ngồi đấy đợi chị Bông để gặp chị lần cuối cùng, để vĩnh biệt chị?

 

Chị Bông đã tin vào điều này khi mẹ chị qua đời. Năm ấy mẹ ốm phải nằm bệnh viện, chị và bố thay phiên nhau ở bệnh viện chăm nom người bệnh. Đến lượt bố ở lại bệnh viện. Ở nhà lúc nửa đêm về sáng chị Bông mơ thấy mẹ về, mẹ mặc chiếc áo dài màu dưa cải mẹ yêu thích, đầu mẹ vấn khăn chỉnh tề. Chị Bông đã mừng rỡ kêu lện:

 

– Mẹ ơi, mẹ khỏi bệnh về với chúng con à?

 

Nhưng mẹ chị chưa kịp nói gì thì chị Bông nghe tiếng gọi cổng, chị Bông tỉnh giấc vùng dậy ngơ ngác biết mình vừa mơ và tiếng gọi cổng là thật, chị chạy ra mở cổng, bố chị từ bệnh viện trở về, ông buồn bã :

 

– Mẹ con vừa mất sáng nay rồi, bố về báo tin ngay đây.

 

Thì ra mẹ chị đã hiện về ngay sau khi hồn lìa khỏi xác, chắc mẹ muốn gặp chị Bông, đứa con gái lớn nhất để báo tin, để nhắn nhủ chị em đùm bọc nương tựa lẫn nhau.

 

Thấy anh Bông từ sân sau vào nhà chị Bông vội báo tin:

 

– Anh ơi, ông Bill bên cạnh chết rồi.

 

Anh Bông không ngạc nhiên cho lắm:

 

– Thì bệnh ung thư mà, phát hiện trễ làm sao chữa khỏi. Hôm kia anh đã thấy xe cấp cứu đến đưa ông Bill đi mà.

 

– Sao anh không kể em nghe, em cứ tưởng ông Bill vẫn đang ở nhà và hồi phục.

 

– Ôi, chuyện mình cũng lu bu anh đâu nhớ chuyện ai, sáng sớm nay anh thấy bà Bill vừa lái xe về tới nhà anh định hỏi thăm thì bà đã vào trong  nhà  nên đành thôi.

 

– Anh như ma xó toàn bắt gặp những tình huống đặc biệt của nhà hàng xóm thế mà khi em nhờ anh đi tìm món gì trong nhà anh đều nói không biết ở đâu.

 

– Thì tình cờ thôi. Thế em vừa gặp bà Bill à?

 

– Vâng, bà ấy mới nói em biết.

 

Chị Bông kể tỉ mỉ chuyện đêm qua thấy ông Bill ngồi trong garage cho anh Bông nghe.

Anh Bông thắc mắc:

 

– Em có nhìn xớn xác không? chiếc áo jacket của ông khoác trên ghế em tưởng người ngồi, hình ảnh ông Bill quen thuộc mà em từng nhìn thấy bấy lâu nay đã ám vào đầu óc em rồi.

 

– Lúc em bước xuống xe là phải đối diện xéo xéo khá gần garage nhà ông Bill rồi làm gì mà xớn xác cho được, cánh cửa garage mở rộng toang hoác mà ông thì ngồi ngay giữa garage, chỉ có điều về muộn nên em nhìn vội và bước vội thôi.

 

Anh Bông nửa đùa nửa thật:

 

– Một là em hoang tưởng, hai là ông Bill… hiện về thăm nơi chốn quen thuộc của ông lần cuối, ba là ông Bill muốn gặp em để từ giã bà hàng xóm nhiều chuyện.

 

– Gớm, đoán ba điều, ba phải như anh thì ai cũng đoán được.

 

Hoang mang và tò mò một lát sau chị Bông lại bước ra sân trước, chị đứng bên sân nhà mình nhìn sang sân nhà ông Bill, bây giờ cửa garage đã đóng kín, bà Bill đã rời khỏi nhà lo chuyện ma chay cho chồng.

 

Chị Bông nhìn cánh cửa garage đóng kín mà vẫn rùng mình, vẫn tưởng như ông Bill còn đang ngồi trong đó, pho tượng màu đen vẫn sừng sững trong đó. Chị tự hỏi không biết  đến ngày lễ Halloween sắp tới này những hình ảnh ma quái cũ, những hồn ma bóng quế mùa Halloween cũ mà ông Bill đã hoá thân vào, chúng có nhớ ông Bill mà trở về ngồi trong garage không?

 

Ngoài sân cây Maple lá đỏ bỗng rưng rưng buồn và cây Crape Myrtle hoa tím bỗng u uẩn  như để tang cho ông Bill, người đã mua chúng về trồng, đã vun bón tưới nước và đã từng hạnh phúc ngắm chúng suốt mấy mùa hoa lá.

 

Đêm qua người ấy đã qua đời.

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

  

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.