Hôm nay,  

Nhà Đèn Chợ Quán

26/04/202222:42:00(Xem: 3184)

Tùy bút

 

nhaden

Bên hông Nhà Đèn Chợ Quán

(Nhìn từ phía Cầu Chữ Y)

Mặt chính nằm trên đường Hàm Tử, ngay bờ sông Sài Gòn (phía tay phải bức hình)

 

Thỉnh thoảng quay nhìn phía bên kia sông, vài đợt khói đen thoát ra từ những ống khói cao của nhà máy đèn Chợ Quán, khói càng lên lan mỏng dần, và lần lượt tan biến giữa bầu trời xanh, làm cho tôi suy nghĩ viển vông. Gia đình tôi, nói riêng, ở chung quanh đây ai cũng có ít nhiều gắn bó kỷ niệm với nhà máy đèn Chợ Quán. Lúc đó mỗi lần nghe nhà máy hú còi, mẹ tôi thường hay lẩm bẩm đã mười hai giờ trưa rồi mà chưa kịp làm cơm cho chị em tôi, mẹ tôi lăng xăng vội vã, thấy mà thương mẹ nhiều thêm. Ngày ngày nghe tiếng còi hụ như thói quen đưa vào trí nhớ mọi người, trời đã trưa rồi đó!

Càng về khuya, có những lúc học bài trễ, tôi nghe văng vẳng những tiếng phát ra từ máy phát điện phía bên kia sông. Âm thanh sao mà buồn và ray rứt, làm tôi liên tưởng có lẽ cuộc đời mình sẽ có ít nhiều gắn bó với nó…

Còn đâu kỷ niệm khung trời ấy,

Một thoáng gợi buồn, hạnh phúc xưa.

 

-- Trích tùy bút “Chợ Quán Xưa” của chị Châu Huyền (đăng trên Bản Tin Thân Hữu Điện Lực Việt Nam Hải Ngoại, số 23).

 

*


Nói đến Nhà Máy Điện Chợ Quán, gọi nôm na là Nhà Đèn Chợ Quán hay Nhà Đèn, quả thật ít ai không biết đến vì nó đã từng dự một phần quan trọng trong đời sống hằng ngày của dân Sài Gòn trong một thời gian dài.

Nhà Đèn có một lịch sử lâu đời, cả trăm năm. Nó là một trong những biểu tượng hiếm hoi của nền văn minh cơ giới xa xưa của ngành điện lực dưới thời Pháp thuộc còn sót lại đến ngày nay.

Tôi nghe nói Nhà Đèn còn là chứng nhân của một biến cố đau thương của đất nước trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến. Năm Ất Dậu (1945), vì than Hòn Gai không thể chuyên chở từ Bắc vào Nam được nên Nhà Đèn đã phải dùng thóc để đốt lò chạy máy thay than. Trong khi đó, ngoài Bắc đã xảy ra nạn đói chết cả triệu người vì không có gạo ăn do quân phiệt Nhật gây nên.

Và tôi cũng nghe nói trước đây, từ Nhà Đèn, đã từng là nơi xuất phát những cuộc đấu tranh của công nhân đứng lên chống lại sự bóc lột của những chủ nhân ông người Pháp.

Và cũng chính tại Nhà Đèn, tôi biết rất rõ vì trong thời gian tôi làm việc ở đây, người Cộng Sản muốn san bằng nó thành bình địa bằng những cuộc pháo kích, phá hoại, mà cao điểm là vào những năm cuối cùng của cuộc chiến vừa qua. Và tôi cũng đã biết, chính quyền Cộng Sản đã khai tử Nhà Đèn này để thay thế bằng những kiến trúc khác. Thế là xong, Nhà Đèn thân yêu không còn nữa! Nó đã ra đi vĩnh viễn, để lại biết bao nhiêu thương nhớ cho những người đã từng gắn bó đời mình với nó nói riêng và cho toàn thể nhân viên Công Ty Điện Lực Việt Nam cũ nói chung.

Nhà Đèn nằm ngay trung tâm của Hòn Ngọc Viễn Đông, nghĩa là giữa viên ngọc sáng chói ấy có một cục than đen xì. Địa điểm của Nhà Đèn thật dễ nhận ra. Nhà Đèn Chợ Quán là hàng xóm, là láng giềng gần của Nhà Thương Điên Chợ Quán (tên cũ). Cả hai cùng nằm trên đường Hàm Tử ngay sát bờ sông Sài Gòn. Có ai muốn hỏi thăm đường đến Nhà Đèn thì ta cứ lấy Nhà Thương Điên làm mốc. Và ngược lại, có ai muốn hỏi thăm đường đến Nhà Thương Điên thì ta cứ lấy Nhà Đèn làm mốc. Tôi nhớ lại, ngày đầu tiên đi xin việc tại Nhà Đèn, hỏi thăm đường, người ta cũng chỉ cho như thế nên nhớ mãi. Địa hình địa vật của Nhà Đèn chỉ có thế, không thể giải thích nhiều hơn hoặc khác đi được. Có khác chăng là nhà Thương Điên thì có chuyện "điên", Nhà Đèn thì có chuyện “điện”.

Thế cái Nhà Đèn là cái nhà gì? Nó có tương tự như Nhà thương Từ Dũ hay không vì cũng là "Nhà" cả mà? Nếu ai hỏi ta câu ấy thì chín phần mười có thể kết luận người đó nếu không phải ở trong nhà thương Điên thì ắt hẳn cũng phải là một người ngớ ngẩn. 

Nhà Đèn là nhà máy làm cho đèn điện cháy sáng, kể cả đèn điện ở trong nhà lẫn đèn điện ở ngoài đường. Nếu người ấy lại vẫn ngớ ngẩn hỏi thêm "Thế đèn điện là đèn gì?" thì ta cứ giải thích một cách dễ hiểu, đèn điện là loại đèn phải cần có những “nhà đèn” mới cháy sáng được. Giải thích như thế tôi cho là thật chính xác và khoa học làm sao, dành cho những người hỏi những câu ngớ ngẩn ấy!

Tôi đoán mò, Nhà Máy Điện Chợ Quán ở Sài Gòn là anh em sinh đôi hay sinh ba với Nhà Máy Điện Yên Phụ ở Hà Nội và Nhà Máy Điện Uông Bí ở Hải Phòng thì phải? Có cái hay hay là cả hai nhà máy điện kia chẳng ai gọi chúng bằng cái tên vắn tắt và thân yêu là Nhà Đèn cả, chỉ trừ Nhà Máy Điện Chợ Quán. Có lẽ cái tên Nhà Đèn chỉ phù hợp với ngôn ngữ và bản tính chân chất của người miền Nam ta chăng?

Nhà Đèn Chợ Quán mặc dù đen đủi già nua nhưng vẫn hiên ngang đứng sừng sững giữa thủ đô Sài Gòn của miền Nam ngày nào. Nó cố vươn lên trời cao những cột ống khói to tướng, đen ngòm và tỏa ra lất phất từng cụm khói trắng mờ nhạt, vướng víu trên đỉnh cao. Nếu nó tỏa ra những cụm khói đen như chị Châu Huyền miêu tả, thì chính lúc đó Nhà Đèn đang bị bệnh nặng rồi đấy, thầy thợ trong nhà máy phải “xất bất xang bang” với nó. Cứ tới 12 giờ trưa, tưởng như từ những ống khói ấy rung lên, phì ra những hồi còi dài the thé rồi đột nhiên nấc lên mấy cái trước khi tắt nghẹn như để cố níu kéo lại cái vẻ oai hùng của một thời trai tráng xa xưa. 



Suốt ngày Nhà Đèn rên rỉ với tiếng "o o" của những chiếc quạt gió đến làm tôi khó chịu lúc ban đầu. Ấy đấy, nếu bà con vùng lân cận không nghe thấy cái tiếng "o o” buồn và ray rứt (lời của chị Châu Huyền) ấy thì còn phải buồn và ray rứt hơn thế đến cả ngàn lần vì cái quạt điện trong nhà tự nhiên "trúng gió" lăn đùng ra không quay được nữa giữa mùa hè oi bức. Hoặc, đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga đột nhiên ngừng trình diễn nghỉ ngơi trên màn ảnh truyền hình. Hoặc, căn nhà trở nên tối om vào lúc đang cần ánh sáng cho sinh hoạt gia đình. Thế rồi cái tiếng "o o" đó cứ quen dần đi và nó lại trở nên thân thương tưởng như không thể thiếu vắng được nữa, vì thiếu vắng nó, sẽ làm ta khó ngủ như thiếu tiếng ru êm hay như hồn thơ ta thiếu những tiếng buồn (của chị Châu Huyền).

Chính vì Nhà Đèn quan trọng như thế nên những người làm việc trong cái Nhà Đèn ấy dường như cũng phải quan trọng theo, nhất là mấy ông "xếp".

Người dân lao động ta thường gọi nôm na những ông “xếp” này là ông "Tây Nhà Đèn" dù nay là người Việt. Cũng có cái hay hay trong ngôn ngữ nước ta, hễ thấy cái gì là lạ, hoặc cái gì sang sang, hoặc lơn lớn hơn cái bình thường sẵn có, hoặc cái gì có vẻ bất bình thường thì thường được gắn ngay vào đó một chữ "Tây". Thí dụ như quả táo to thì gọi là táo Tây, con gà xấu xí to lớn mà người Mỹ gọi là con turkey thì liền gọi nó là con gà Tây, rồi nào là củ hành Tây, bánh Tây (bánh mì), nhà Tây, cơm Tây, vân vân và vân vân. Có lẽ những ông Tây Nhà Đèn ngoài cái quan trọng vì làm việc trong Nhà Đèn, các ông ấy lại có những cái gì trông là lạ khác thường chăng? Như khi tôi mới vào làm việc tại Nhà Đèn tôi thấy các ông "xếp" luôn luôn mặc áo sơ mi cộc tay trắng toát, quần “soọc” cũng trắng tinh. Có ông trong tay còn cầm cây "can" đen bóng lưỡng giống như cây "dùi cui" của "mã tà" (police) đi đi lại lại. Các ông Tây Nhà Đèn cứ trắng ngồn ngộn nổi bật lên giữa mọi thứ chung quanh đen ngòm, bụi bặm, dơ dáy khiến tôi lấy làm lạ. Các ông lại hiền như cục bột (tất nhiên phải là cục bột trắng rồi) và cái "can" kia chỉ được dùng để ra oai gõ vào đầu những cái đồng hồ áp suất hay nhiệt độ mỗi khi chiếc kim lười biếng không chịu chỉ cho đúng số mà chỉ muốn lui về số zéro ngơi nghỉ. Hay nhiều lắm, các ông chỉ kéo lê chiếc "can" trên chấn song cửa sổ để tạo nên tiếng khua hầu đánh thức bác công nhân già gác máy đương thiu thiu ngủ gật.

Được mặc những bộ quần áo trắng đó là mơ ước của tôi lúc ấy. Nhưng cũng rủi thay cho tôi, ước mơ ấy chẳng bao giờ trở thành sự thật vì sau đó bộ quần áo trắng được thay thế bằng bộ đồng phục với chiếc áo cộc tay mầu xám nhạt và chiếc quần dài kaki mầu xám đậm cho hợp với "thời cuộc".

Những năm tháng tôi làm việc tại Nhà Đèn thì vui có, buồn có, bận đến mờ người có, thảnh thơi có, lo âu có và đú đởn cũng có luôn. Cuộc sống cứ đều đều trôi đi theo tiếng "o o" của những chiếc quạt lò.

Trưởng “Hệ Thống Phát Điện Chợ Quán” (tên mới của Nhà Đèn) tức Giám Đốc Nhà Đèn cuối cùng là ông Bùi Văn Nghiêm (hiện cư ngụ tại Lyon, Pháp). Đấy là tôi kể đến cái mốc thời gian trước năm 1975. Tất nhiên ông Nghiêm là cấp chỉ huy trực tiếp cuối cùng của tôi trong Công Ty Điện Lực Việt Nam.

Ông Nghiêm đối với tôi là chỗ thân tình vì tôi làm việc với ông lâu nhất. Tôi đối với ông Nghiêm vừa là tình đồng nghiệp vừa là tình thân như anh em và tôi coi ông như một người thầy. Tính ông trầm tĩnh, giỏi về kỹ thuật, biết dùng và tin người trong quản trị. Tất cả mọi người làm việc dưới quyền đều kính trọng ông, trọng về tài kính về đức độ.

Tôi còn nhớ một điều, khi Cộng sản vừa vào tiếp thu Nhà Đèn Chợ Quán, họ đem ông Nghiêm và tôi ra cho công nhân gợi ý về những sai lầm của chúng tôi trong quá khứ. Thật sự đây là một hình thức đấu tố nhằm khích động và gây căm thù của công nhân đối với các cấp chỉ huy cũ. Nham hiểm thế đấy! Hôm đó toàn thể công nhân nói toàn những điều tốt đẹp cho chúng tôi, đã làm cho Ban Quân Quản phải thốt lên câu "Hai anh được công nhân yêu quý thật!" Điều này xảy ra thêm một lần nữa cho riêng tôi, lời nhận xét trên đã được lặp lại và được ghi trong một văn bản mà hiện nay tôi vẫn còn lưu giữ.  

Trong mười năm làm việc tại Nhà Đèn, tôi còn có biết bao điều phải nói, phải kể, phải viết ra; biết bao nhiêu ân tình, kỷ niệm thân thương của những cấp chỉ huy, của bạn đồng nghiệp và của các bác các anh em công nhân đã dành cho tôi trong những năm tháng ấy; biết bao nhiêu đồng lao cộng khổ, ngọt bùi; và cũng biết bao nhiêu tủi nhục dưới thời Cộng Sản đã được chia sẻ cùng nhau.

Ôi! Nhà Đèn đối với tôi là thế đấy.

Nhà Đèn đã ra đi vĩnh viễn nhưng những người gắn bó với Nhà Đèn còn đó. Tôi xin trân trọng gửi đến những người còn lại lời tri ân vì tất cả đã để lại trong lòng tôi một tình cảm sâu sắc vô bờ.

Cám ơn Nhà Đèn, cám ơn tất cả!

Nếu có dịp, tôi xin được viết tiếp về những sinh hoạt của Nhà Đèn Chợ Quán cùng những kỷ niệm với các bạn đồng nghiệp, các bác công nhân thân thương mà trong giới hạn bài này tôi không thể nêu ra hết được.

Mượn câu thơ của chị Châu Huyền để tạm chấm dứt bài viết này.

Còn đâu kỷ niệm khung trời ấy,

Một thoáng gợi buồn, hạnh phúc xưa ...

 

Nguyễn Giụ Hùng

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.