Hôm nay,  

Yêu Lời Mẹ Ru

06/04/202217:19:00(Xem: 3807)

Truyện ngắn

hoangquan
Mẹ Ru, tranh Nguyễn Đức Tuấn Đạt.

 

Bạn học của Mẹ gặp Bê lần đầu, cười, nói với Mẹ:

 

– Thấy thằng Bê, khỏi hỏi, biết ba nó là ai liền.

 

Người bạn khác tiếp lời:

 

– Nghe Bê nói một câu, cũng biết đích thị mẹ nó là ai.

 

Bê đã học giọng Huế từ khi còn trong bụng Mẹ. Mẹ đã ru Bê bằng những bài học thuộc lòng khi Mẹ ở tiểu học:

 

Trường em xây ở ven sông

Bóng in đáy nước, nhòa trong cát vàng.
Xưa đây là bãi cỏ hoang,
Nay ngôi trường đẹp với hàng cây xanh

...

Hoặc bài Giờ Quốc Sử thật dài:

 

Những sớm mai bình minh le lói chiếu,

Trên non sông làng mạc ruộng đồng quê

Chúng tôi ngồi yên lặng lắng tai nghe,
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ Quốc Sử.
Thầy tôi bảo: Các em nên nhớ rõ,
Nước chúng ta là một nước vinh quang

...

Hoặc Mẹ ầu ơ:

 

Bà ơi! cháu rất yêu bà,

Đi đâu bà cũng mua quà về cho.

Hôm qua có chiếc bánh bò,

Bà chia cho cháu phần to nhất nhà.     

 

Đôi khi Mẹ đọc những câu ca dao bình dị:

 

Con mèo con chó có lông

Bụi tre có mắt nồi đồng có quai                                          

Chiều chiều ông Ngự đi câu

Cái ve, cái chén, cái bầu, sau lưng.

 

Thời gian Bê học ở vườn trẻ Am Goldstein, buổi sáng Mẹ đưa Bê đến trường. Hôm nào Mẹ đi học, buổi trưa, ông Ngoại đi xe buýt, đón Bê về nhà ông bà Ngoại ở tới chiều, chờ Ba Mẹ về. Bê nói theo giọng ông bà Ngoại, cho nên Bê còn… Huế hơn cả Mẹ.

 

Bê sung sướng kể cô Oanh nghe:

 

– Con sắp sửa đi Ý.

 

Cô Oanh béo má Bê:

 

– Đi ị thì đi lẹ lẹ, chớ còn ở đó mà nói nữa. Hèn gì, nãy giờ bốc mùi.

 

Bê lắc đầu:

 

– Dạ không, tuần sau mới đi được.

 

Cô Oanh nghiêm giọng:

 

– Con không đi ị mỗi ngày, đau bụng phải đi bác sĩ để khám bịnh đó.

 

Bê giảng giải:

 

– Dạ không, cô Oanh không biết gì hết. Ý xa lắm, đâu đi mỗi ngày được.

 

Lúc đó, Mẹ phải xen vô thông dịch:

 

– Cu Bê sắp sửa du lịch qua nước Ý đó cô Oanh.

 

– Chu mẹc ơi, đi Ý mà ổng cứ nói đi ị thì ai mà biết.

 

Khi vào vườn trẻ, vốn liếng tiếng Đức của Bê rất gọn gàng. Mama là mẹ, Papa là ba, Auto là xe hơi, essen là ăn, pipi là đi tè. Vậy thôi. Ban đầu, Mẹ sợ Bê gặp khó khăn, vì không nói được tiếng Đức. Nhưng ai cũng bảo Mẹ chỉ khéo lo. Trẻ con học ngoại ngữ rất nhanh. Không việc gì phải bận tâm. Bê đi học thấy vui vui. Nhưng có hôm Bê nhớ Mẹ quá sá. Bê khóc bù lu, bù loa. Bê kêu Mẹ ơi, Mẹ ơi, chứ Bê không thích gọi Mama. Các cô giáo đoán Bê kêu Mẹ. Bà Hahn, mẹ của bé Sandra, tự nguyện bế Bê trong lòng suốt buổi cho đến khi Mẹ đến đón Bê về.       

                                           

Mỗi buổi sáng, Mẹ bỏ trong cặp Bê một ít đồ ăn. Vài trái nho, miếng bánh mì, một hũ sữa chua kèm theo cái muỗng nhựa đẹp Bê vẫn thích. Đến giờ ăn sáng, tất cả bày đồ ăn ra bàn. Bê cũng bắt chước mấy bạn đồng thanh: “Wir wünschen allen guten Appetit, Chúc mọi người ăn ngon”. Ăn xong, Bê phụ cô giáo dọn dẹp lau bàn. Cô giáo dẹp muỗng nhựa của Bê xuống bếp. Bê muốn nói với cô giáo, muỗng đó của Bê. Nhưng Bê đâu biết cái muỗng tiếng Đức gọi là gì. Nên Bê cứ níu áo cô Gabi nói essen, essen. Cô giáo lắc đầu, nói: “Nein, không được”. Khi Mẹ đến đón Bê, cô Gabi kể, Bê hôm nay cứ đòi ăn thêm. Mẹ hỏi, Bê đói bụng lắm phải không. Bê kéo Mẹ xuống nói nhỏ, Bê không đói bụng, nhưng Bê muốn đòi cái muỗng của Bê, cô giáo dẹp cất trong bếp. A, thì ra vậy, Mẹ vui vẻ cắt nghĩa cho cô giáo nghe sự hiểu lầm nho nhỏ.

 

Bê mê xe lắm. Mẹ cũng học hỏi thêm để “thảo luận” với Bê về xe cộ. Mẹ kể, hồi xưa ở Việt Nam, chú của Mẹ có chiếc xe con cóc. Mẹ nhớ đó là xe VW Käfer*. Hôm Bê chơi ngoài ban công, Bê thấy con Käfer, mừng rỡ, Bê vội kêu lên:

 

– Mẹ ơi, có con cóc ở bông hoa đây.

 

Vậy là Mẹ mang cuốn sách to ơi là to, chỉ cho Bê coi hình con cóc và con bọ cánh cứng.

                         

Sau này, các cậu đính chính. Ông chú quả thật có chiếc xe con cóc. Nhưng đó là xe Citroën deux cheveaux chớ không phải VW Käfer. Mẹ cười xí xoá với Bê:

 

– Tại hồi đó Mẹ chưa có Bê, Mẹ “dỏm” lắm, đâu có rành như bây giờ. Xe nào cũng có bốn bánh, đầu đuôi tròn tròn, làm sao Mẹ phân biệt được.

 

Mỗi lần về nhà bà Nội, bà Nội hỏi Bê:

 

– Con doi ra sao hả Bê?

 

Bê liến thoắng:

 

– Con doi nó có cái dòi.

 

Rồi Bê cao giọng “thuyết minh” cho Mẹ:

 

– Tức là con voi nó có cái vòi đó Mẹ.

 

Mấy cô chú cười, khen Bê giỏi ngoại ngữ. Thỉnh thoảng Mẹ nhờ Bê ghi chép những món hàng Mẹ sẽ mua ở chợ. Có hôm, Ba muốn trổ tài nấu bún bò. Ba nhờ Bê ghi vào giấy mua thịt. Ba đọc, “1 ký giò heo” Bê cẩn thận viết, “1 ký vò heo”. Mẹ bỏ nhỏ cho Bê rằng, giò heo mới đúng.

 

Bê phân trần:

 

– Ba nói dui dẻ, nhưng ý Ba là vui vẻ.

 

Bê vùng vằng:

 

– Tiếng Việt kỳ cục, kỳ cục. 

 

Mẹ nói, ai cũng có lúc bị “trục trặc kỹ thuật”, dù cùng trò chuyện tiếng Việt với nhau. Lần đó, Ba Mẹ Bê đi khu chợ Việt Nam ở Cheb, Tiệp Khắc gần biên giới Đức. Qua đó, một công mấy chuyện. Ba Mẹ mua gạo. Gạo bên đó vừa ngon, vừa rẻ. Rồi ghé vô tiệm cắt tóc, thể nào cô thợ sẽ nói: “Cô cắt đầu đinh cho cháu nhé”. Kiểu đầu thời trang này, bạn Bê khen “ngầu”, mà cô gọi đầu đinh, nghe tức cười quá. Sau đó, đi coi những chậu đất trồng cây, coi các dĩa phim và nhạc. Cuối cùng ghé vào tiệm ăn. Ăn xong, Mẹ nhờ Ba mua cho Mẹ gói xôi đậu phụng. Ba nói với cô bán hàng:

 

– Chị cho một phần xôi đậu phụng.

 

Cô bán hàng nhanh nhẩu:

 

– Vâng, một gói xôi lạc ạ.

 

Ba do dự:

 

– Đừng lạt! Chị làm ơn cho xôi mặn đi.

 

Cô bán hàng vui vẻ:

 

– Vâng, thế có ruốc đây.

 

Ba lắc đầu nguầy nguậy:

 

– Thôi, thôi, đừng cho ruốc vào. Xôi không như vậy thôi.

 

Cô bán hàng chiều ý khách:

 

– Vâng, tùy anh.

 

Mẹ theo dõi đối thoại của Ba, nháy nháy mắt với Bê:

 

– Tiêu Ba rồi Bê ơi. Ba gặp vấn đề với “ngoại ngữ” đó Bê.

 

Vừa lúc đó Ba đem gói xôi chay tới. Ba lật đật kể:

 

– Dân Bắc ăn uống quái chiêu thiệt! Xôi đậu phụng mà ăn với mắm ruốc.

 

Mẹ không nín cười được:

 

– Không phải đâu anh. Ruốc tức là thịt chà bông, em còn gọi là thịt chấy đó.

 

Rồi Mẹ cắt nghĩa cho hai cha con rằng, lạc là đậu phụng. Giọng Bắc phân biệt lạt và lạc. Còn giọng Trung và Nam phát âm gần như giống nhau.

 

Bê khoái chí:

 

– Mẹ thấy chưa, Ba còn te tua như vậy. Con lâu lâu nói lầm, hiểu sai một tí đâu sao. Mà nhiều khi con nói tầm bậy, tầm bạ, chớ cũng đúng tùm lum, tà la.

 

Thỉnh thoảng Bê siêng, Bê làm bánh mì bỏ trong hộp cho Mẹ đem đi làm. Bê cẩn thận viết trên giấy dán nắp hộp, “Chúc Mệ ăn ngon”. Mẹ cười vui:

 

– Bánh mì Bê làm, thể nào mẹ ăn cũng ngon. Nhưng mẹ gọi bà Ngoại và bà Nội của mẹ là Mệ. Không sao, lần sau Bê viết cho trúng nghe.

 

Bê cảm thấy “quê xệ” quá. Chữ dễ như vậy mà viết sai, kỳ thiệt. Bê vội bào chữa:

 

– Con nghĩ, nhiều khi Mẹ là Mệ đó chứ. Tại Mẹ mang kính cho người già. Mẹ thỉnh thoảng bị đau lưng đó.

 

Mẹ chồm qua vặn nhẹ tai Bê:

 

– Thằng ni xạo quá. Ngó bộ ít bữa lớn, Bê đi làm luật sư được đó.

 

Bê lúc lắc đầu:

 

– Sao bữa trước Mẹ nói con sẽ thành bác sĩ, tại con viết chữ như gà bới.

 

Cuối tuần, Bê học tiếng Việt với Mẹ. Mẹ dạy Bê câu “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Bê không đồng ý:

 

– Con ăn quả nhớ công Ba Mẹ đi chợ. Ba Mẹ trả tiền là trả công cho người trồng cây rồi.

 

Bê học được câu nào hay, gặp dịp, Bê hành ngay. Trong bữa ăn, Bê thấy nồi còn chút cơm, Bê hỏi:

 

– Ba Mẹ ăn thêm cơm không?

 

Ba nói:

 

– Không, con ăn đi.

 

Mẹ cười vui:

 

– Bê biết hỏi như vậy là rất giỏi. Mẹ mừng ghê.

 

Bê “nổ” liền:

 

– Con mà! Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.

 

Mẹ hí hửng, kể đi, kể lại cho mọi người, rằng tiếng Việt của Bê “chiến” lắm. Cho nên, cuối tuần sau đó, Mẹ phát cho Bê bảng danh dự. Bê được lên lớp Ba trường của Mẹ, mặc dầu Bê đã học lớp Sáu trường trung học Wilhelm Hausenstein rồi.

 

Có lần Mẹ nhận làm thông ngôn tận trên miền bắc Đức. Người ta mua vé máy bay cho Mẹ. Bê hỏi lui, hỏi tới, tức là Mẹ không làm gì hết, Mẹ chỉ nói tiếng Việt, mà được đi máy bay, ở khách sạn không trả tiền.

 

– Sao lại không làm gì! Mẹ dịch tiếng Đức qua tiếng Việt, rồi dịch tiếng Việt qua tiếng Đức.

 

– Mà tiếng Việt tiếng Đức chi cũng dễ ẹc hà. Cool thiệt. Ít bữa con lớn, con có được như Mẹ không?

 

– Còn hơn nữa. Nếu con chịu khó rèn luyện tiếng Việt, con sẽ nói tiếng Việt như mẹ. Hơn nữa, tiếng Đức của con hay hơn của mẹ.

 

Bê tưởng tượng, không chừng người ta sẽ mời Bê qua Mỹ, qua Tây, vì tiếng Anh, tiếng Pháp của Bê cũng “xịn”.

 

Về Việt Nam, Bê rất thích, mà thích nhất Huế. Ở Huế, Bê nói chi, người ta hiểu liền. Chứ không như ở Sài Gòn, người ta cứ hỏi hoài, là Bê nói cái gì. Nhiều khi người ta không hiểu, Bê phải múa tay loạn xà ngầu.

                                                            *          *          *

Bê thấy Mẹ ngồi yên thật lâu bên máy. Có lẽ máy trục trặc, thể nào Mẹ cũng kêu Bê giúp. Bê đến bên Mẹ, khèo khèo vai Mẹ:

 

– Mẹ của con. Frauen und Technik (phụ nữ và kỹ thuật). Máy bị sao hả Mẹ?

 

Mẹ nói nhỏ:

 

– Cám ơn Bê. Máy vẫn chạy ngon lành.

 

– Sao Mẹ có vẻ buồn vậy?

 

– Đâu có, đâu có. Mẹ mới nhận thư của bạn mẹ. Mẹ cảm động quá, nhớ lại bao nhiêu chuyện.

Bê biết không, bạn mẹ nhắc đến câu ru, Em tôi buồn ngủ buồn nghê/ Buồn ăn cơm nếp cháo

kê thịt gà. Lúc Bê còn tí xíu, mẹ cũng hay ru Bê câu này.

 

Bê ôm vai Mẹ:

 

– Thiệt hả Mẹ? Mẹ đọc lại cho con nghe câu ru lần nữa đi, coi thử con có nhận ra không.

 

– Bê cưng ơi, bây giờ có lẽ con chưa nhớ đâu. Ngày xưa, bà Ngoại ru mẹ, mẹ còn nhỏ lắm, mẹ không nhớ. Khi mẹ có con, những câu ru như sống lại trong đầu mẹ.

 

Mẹ chớp chớp mắt, mắt Mẹ như ướt ướt, Mẹ nói thật nhỏ như một mình:

 

– Mẹ thương lắm câu ru Mạ của mẹ ru mẹ, thương vô cùng. Bạn của mẹ nhắc tới câu ru, cũng trìu mến như vậy. Người bạn và mẹ có sự đồng cảm lớn lắm.

 

Bê chưa hiểu hết những lời Mẹ đang tâm sự với Bê. Nhưng lúc nào với Bê, Mẹ cũng là những lời ru êm dịu nhẹ nhàng. Mẹ ơi, con cũng yêu lời Mẹ ru, như Mẹ yêu lời bà ngoại ru Mẹ đó, Mẹ ơi.

 

Hoàng Quân

 

Viết thêm:

 

Mới năm nào đây, Mẹ chồm qua vặn nhẹ tai Bê:

– Thằng ni xạo quá. Ngó bộ ít bữa lớn, Bê đi làm luật sư được đó.

 

Lời mắng yêu của Mẹ vì tật hay lý sự của Bê nay đã thành sự thật. Bê học xong trường Luật, thành “thầy cãi” người Đức. Giờ đây, Mẹ muốn vặn tai Bê phải cần tới cái ghế đẩu, vì Bê cao hơn Mẹ cả mấy tấc. Nhưng lúc nào Mẹ cũng dành cho Bê những lời ru tiếng Việt tràn đầy thương yêu.

 

*Käfer: con bọ cánh cứng

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Chúng ta sẽ đứng lại trên mảnh đất này, Và không bỏ rơi người xa lạ giữa chúng ta. Chúng ta sẽ nhớ những tên người đã chết Trên đường phố Minneapolis.”
ashington bước vào mùa đông năm nay với âm thanh đứt quãng của một khúc giao hưởng chưa thành. Sau sáu năm thai nghén, bản Giao hưởng số 15 của Philip Glass — nhà soạn nhạc Hoa Kỳ được xem là người có công đưa ngôn ngữ tối giản vào đời sống âm nhạc đương đại — đáng lẽ phải vang lên tại Kennedy Center, như lời chào mừng kỷ niệm bán thế kỷ của trung tâm nghệ thuật danh tiếng này. Nhưng chỉ ít tháng trước buổi công diễn, nhạc sĩ 88 tuổi ấy tuyên bố rút tác phẩm. “Những giá trị mà Kennedy Center hôm nay biểu trưng không còn phù hợp với tinh thần của Abraham Lincoln,” ông viết, như hồi chuông cảnh tỉnh giữa một bầu không khí vốn đã nhiều sấm sét. Sự rút lui của Glass không chỉ là một “biến cố âm nhạc”; nó là một tín hiệu thời đại. Từ khi Tổng thống Trump trở lại quyền lực và đặt tên mình bên cạnh John F. Kennedy trên mặt tiền trung tâm — giới nghệ thuật thủ đô Hoa Thịnh đã không khỏi phân tâm. Một bên là danh dự nghề nghiệp, một bên là cảm thức công dân.
Ni Sư Daehae, cũng là nhà đạo diễn điện ảnh nổi tiếng, đã thắng giải thưởng Phim truyện xuất sắc nhất (Best Fiction Film) tại Đại hội điện ảnh Bangladesh, theo tin của báo Korea Joong Ang Daily ngày 19/1/0226.
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.