Ông Già Tàu

04/03/202221:36:00(Xem: 1520)

Truyện ngắn:

giatau

 

– Thổ cha mày, thổ cha mày! Mấy nị hui nhị tì hết đi, đừng có nhạo ngộ à!

 

Mặc cho ông già Tàu lầu bầu chửi, tụi con nít xóm chợ vẫn bâu quanh trước cửa tiệm thuốc bắc Quảng Lợi Đường hát hò trêu chọc. Có vài đứa quá khích còn ném cả đá vào cửa sắt của tiệm. Hổng biết ai mớm cho tụi con nít mà chúng nó hát bài vè: “Ngộ ở bên Tàu/ ngộ mới sang ta/ ngộ đạp cứt gà/ ngộ tưởng kẹo cà/ ngộ bốc ngộ lủm/ ngộ kêu thúi thúi/ ngộ ăn cái chuối/ ngộ kêu ngọt ngọt/ ngộ bận quần sọt/ ngộ địt te te/ ngộ ăn trái me/ ngộ kêu chua chua/ ngộ chơi bầu cua/ ngộ thua hết tiền...” Cái đám con nít lêu lổng ngày nào cũng kéo đến quấy phá ông già Tàu. Nghe đâu ổng vốn người Triều Châu, sang đây từ hồi Pháp thuộc. Ông già Tàu cao to, hai tay dài lòng thòng, có lẽ ổng to con nhất ở xóm chợ Bà Bâu. Da ông cũng trắng hơn dân quanh vùng, mũi cao, dái tai dài, mắt có bọng mỡ, trông ông khác hẳn với những người đàn ông khác quanh chợ Bà Bâu này. Mặc dù ông giận đám con nít vô lễ, xúc phạm đến ông nhưng nét mặt ông dường như không biểu lộ cảm xúc. Ông chửi nửa tiếng Tàu, nửa tiếng Việt với cái giọng lơ lớ càng làm cho tụi con nít làm tới và cười ngặt nghẽo thêm.

 

Tiệm thuốc bắc Quảng Lợi Đường có tiếng chữa bệnh hay, tiếng lành đồn xa, không chỉ người xóm chợ, xóm chùa, xóm đình, xóm miễu mua thuốc của của ổng mà người các tổng xa tận Thanh Huy, Quy Hội, Nam Tăng, Long Mỹ… cũng tìm đến tiệm ông già Tàu. Ông bắt mạch, kê toa, bốc thuốc suốt cả ngày. Tiếng lách cách tính tiền từ cái bàn tính bằng gỗ dường như chẳng khi nào dứt. Quảng Lợi Đường có món thuốc gia truyền hiệu “Hai Cá Vàng”, có thể nói đây là thứ thuốc trị bá bệnh, ai bệnh gì cũng mua uống, ấy vậy mà hiệu nghiệm mới lạ, vì thế mà tiếng đồn ngày càng xa. Đến nỗi người các tỉnh lân cận cũng chẳng ngại đường xa tìm đến Quảng Lợi Đường. Nhà ông già Tàu giàu lên là nhờ “Hai Cá Vàng”. Ông gởi hai thằng con trai lên Sài Gòn ăn học, cả hai học hoài chẳng thấy ra trường, nhưng lại nổi tiếng ăn chơi thuộc loại phá gia chí tử, cũng may nhờ làm ăn phát đạt quá nên gia tài cũng không hề hấn gì.

 

Chợ Bà Bâu, ngoài tiệm Quảng Lợi Đường còn có hai tiệm thuốc bắc khác là tiệm Đại Sanh Đường và  Tân Thạnh Đường, cả ba tiệm đều làm ăn phát đạt cả. Ông già Tàu họ Diệp người Triều Châu. Ông chủ tiệm Đại Sanh Đường họ Hàn, gốc người Hẹ. Còn ông chủ tiệm Tân Thạnh Đường người Vân Nam. Năm kia, con trai cả ông già Tàu có tìm về Triều Châu để nhận họ hàng. Sau này trong một lần nhậu với bạn bè xóm chợ, y tiết lộ:

 

– Họ hàng bên ấy nghèo lắm, làm nông, ở thôn quê, nhà vách đất, vẫn còn đái trong những chậu đất để dành tưới rau.

 

Bạn bè có người chột dạ:

 

– Vậy thì ở bển ba của mày đâu có làm thuốc, sao sang đây lại mở tiệm thuốc bắc ngon lành?

 

Ông con trai ông già Tàu thật thà:

 

– Ông già tao kể có đi học thuốc bắc một thời gian trước khi lưu lạc sang Việt Nam.

 

Thì ra là thế, đói đầu gối phải bò, cái chân phải chạy cái giò phải đi, cũng may phước nhà lớn, từ khi mở tiệm đến giờ chưa xảy ra bất cứ sơ xuất gì, chưa thấy ai phàn nàn hay kiện tụng chi cả. Không những thế còn được khen thuốc hiệu nghiệm.

 

Ông già Tàu họ Diệp ở trong nhà được vợ con đối xử như ông vua, chăm sóc kỹ lưỡng. Bà vợ ngày nào cũng tỉ mẩn ngồi nhặt từng sợi lông tơ dính ở tổ yến trước khi chưng cho ông ăn. Những bà bán đặc sản rừng hoặc biển ở chợ Bà Bâu cũng thường đem những món ngon nhất tới tiệm để bán. Bà vợ chọn toàn những món thượng hạng để tẩm bổ cho ông già Tàu. Ông già Tàu còn là một tay hút thuốc phiện số một ở đây, hai ông già Tàu của Đại Sanh Đường và Tân Thạnh Đường hổng có hút thuốc phiện. Căn phòng để hút thuốc phiện của ông nằm trên lầu hai, đây như là biệt cung của ông, vợ con cũng ít khi bước vào, họ chỉ vào khi cần dọn dẹp mà thôi. Bộ bàn đèn luôn đặt giữa căn phòng, có mấy cái tẩu để hút rất đẹp, lên nước láng bóng, có cái bằng gỗ quý, có cái bằng sứ. Ông già Tàu hút ngày mấy cữ, thường thì hút một mình, có ngày thì mấy bạn thuốc phiện cùng đến hút chung, ai hút tự trả tiền. Bạn hút có võ sư Huỳnh, một võ sư nổi tiếng từ thời Pháp thuộc, võ sư Cẩm, Bảy Thiện, một tay giàu có của chợ Bà Bâu; đặc biệt có ông Sơn Thọt và ông Mười Kèn. Người ta gọi ông Mười Kèn vì ổng có cái lò rèn, ngày ngày kéo ống bể thổi lửa phì phò như thổi kèn. Hai ông này nghèo mạt rệp, đến chầu rìa để hút xái. Khi mấy ông kia hút xong, họ cho hai ông này cạy xái thuốc phiện còn đọng quanh miệng tẩu để hút đỡ ghiền. Vì là xái nên ông già Tàu bán rẻ cho hai ông bạn nghiện nhưng nghèo. Xái thuốc phiện không chỉ bán cho người nghèo hút mà còn bán cho mấy người dưới quê mua về cho trâu bò uống. Trâu, bò bị tiêu chảy hay một số bệnh khác cũng cho uống xái thuốc phiện vậy mà hết bệnh, còn hay hơn thuốc thú y.

 

Cái mùi thuốc phiện thơm trời thần, thơm lạ lùng, hổng có mùi nào có thể sánh được, nó vừa ngọt ngọt lại nồng nồng, nó xộc vào mũi thì cứ như quanh quẩn ở hốc mũi hổng chịu tan.  Thiện bạn với thằng Thanh, cháu nội ông già Tàu, ngày nào hai đứa cũng lên sân thượng chạy nhảy chơi, nhà lầu của ông già Tàu to và cao nhất xóm chợ, từ trên sân thượng nhìn ra xa bốn bên rất đã con mắt, thấy núi Hòn Vồ phiá tây, thấy cả cồn cát hướng biển. Mỗi khi ông già Tàu hút thuốc phiện thì cả hai lại lấp ló nhìn lén. Thiện khẽ đẩy nhẹ cánh cửa vừa đủ lọt khe ánh sáng và dán mắt vào xem ông già Tàu và mấy ông bạn nằm bẹp bên mân đèn. Thiện sợ bị lộ nên rất khẽ khàng thận trọng, thật ra cũng bằng thừa, những lúc ấy mấy ổng đều phê cả, có quan tâm hay biết gì đến chung quanh nữa đâu. Thiện thích ngửi cái mùi thơm trời thần đó nhưng cũng sờ sợ lỡ bị ghiền lây. Thiện nghe người lớn nói ghiền thuốc phiện mà không có thuốc thì  đau đớn quằn quại như có dòi bò trong xương, trùng đục thân thể… Ông già Tàu và mấy bạn của ổng ghiền thuốc phiện nên môi người nào cũng thâm sì, gầy nhom như con mắm. Ông già Tàu nhờ có của, vợ con chăm sóc kỹ nên tướng tốt chứ không như mấy người kia. Ông già Tàu vẫn phương phi hồng hào lắm, duy có điều lúc nào cũng mặc cái áo ghi lê, dù trời nóng như đổ lửa.

 

Chợ Bà Bâu nhỏ như lòng bàn tay, vậy mà có lắm người Tàu. Ngoài họ Diệp còn có họ Hàn, họ Thái, họ Lý, họ Khưu, họ Tạ… Bọn họ đều giàu có cả. Nhà họ Hàn có cô con gái trạc tuổi Thiện và học chung lớp với Thiện. Con nhỏ nhỏ nhắn, xinh xắn và trắng như trứng gà bóc. Con nhỏ tên Lệ, Thiện vẫn thường đi học chung đường với nó và thường trêu chọc nó. Thiện nghe lóm người lớn nói lệ là nước mắt nên trêu cổ:

 

– Người đẹp xinh vậy mà tên là nước mắt, nghe buồn quá!

 

Con nhỏ cãi:

 

– Lệ không phải là nước mắt, lệ nghĩa là đẹp đó Thiện! Chẳng hạn như Ái Lệ nghĩa là tình yêu đẹp.

 

Thiện đớ người ra, hổng còn chút kiến thức nào khác để cãi, vì Thiện chỉ biết có nhiêu đó. Lệ cũng như  toàn bộ con cháu người Tàu ở chợ Bà Bâu này, chẳng ai còn biết nói hay viết tiếng Tàu, tất cả không khác gì cư dân Việt của chợ Bà Bâu, gốc gác còn chăng là ở cái họ trên giấy tờ mà thôi.

 

Năm ấy nhà nước oánh tư sản, họ Lý bị tịch thu nhà, họ Hàn, họ Diệp thì mất nhiều của cải. Họ Thái, họ Khưu bị buộc phải cho nhà nước mượn nửa căn nhà để làm hợp tác xã mua bán. Ai cũng xính vính mà hổng dám hé răng nói gì. Nhà ngoại Thiện cũng bị lấy hết ruộng vườn, thời buổi nhiễu nhương, lòng người bất an, ai cũng sợ xanh mặt, sống nay hổng biết mai ra sao. Người Việt còn đỡ, người Tàu chợ Bà Bâu còn bị đám con nít quấy phá, xúc phạm do người lớn xúi, thậm chí đặt vè để cho con nít hát mạ lị người ta. Những nhà người Tàu ở chợ Bà Bâu khá giả giàu có hơn người Việt, họ trở thành đối tượng sách nhiễu nhiều hơn, tuy nhiên sự sợ sệt và cuộc sống ngột ngạt thì có lẽ Tàu hay Việt cũng cảm nhận giống nhau, Cái thiếu thốn nghèo đói đang dần xâm nhập từng nhà, có lẽ cùng tắc biến, người người rỉ tai nhau tìm đường vượt biên. Ông già Tàu họ Diệp qua nhà ngoại Thiện, đây là lần đầu ông ta sang nhà hàng xóm, xưa nay chưa từng thấy bao giờ, với ông già Tàu thì ngoại của Thiện là chỗ gần gũi nhất, là người ông có thể tin tưởng nhất ở xóm chợ Bà Bâu. Ông xì xầm với ngoại:

 

– Nị có muốn đi với ngộ không? Ngộ chẩu Mỹ cọt, ngộ được người quen giới thiệu mối này rất an toàn, mỗi đầu người đóng năm cây.

 

 Ngoại Thiện từ chối:

 

– Cảm ơn ông đã có lòng tưởng đến tui, nhưng ông đi đi, ông nên đi càng sớm càng tốt. Ông ở lại không yên với họ đâu! Tui thì ở lại, tui sợ lắm, nhưng ra đi tui cũng sợ, không biết sống chết ra sao?

 

Ông già Tàu lặng lẽ ra về, sau đó ông già Tàu họ Diệp cùng với mấy ông họ Hàn, họ Thái góp vàng đóng tàu mua bãi để ra đi, hổng biết góp bao nhiêu nhưng có lẽ nhiều lắm, họ sẵng sàng đánh đổi cả gia tài để đi cho bằng được. Việc vượt biên không thành, chẳng biết có phải bị lật kèo hay mua bãi trúng phải ổ ngầm nên bị hốt cả đám. Mấy đứa con nhà họ Thái như Thái Tài, Thái Hạo, Thái Thành, Thái Hân… đều đi tù cả. Họ Diệp, họ Hàn vì chậm, chưa kịp đến bãi nên thoát, tuy nhiên toàn bộ số vàng đóng góp mất trắng, dù sao cũng còn may, mất của nhưng người còn, lại không bị đi tù. Ông già Tàu họ Diệp lại lần nữa qua nhà ngoại:

 

– Sau vụ này ngộ phải xuất lượng nhiều lắm, nếu không thì nhà ngộ gặp rắc rối to. Mấy đứa con nhà họ Thái tuy bị nhốt trên quận nhưng nay mai sẽ về thôi. Họ Thái cũng chi bộn rồi!

 

Quả thật vậy, chỉ chừng nửa tháng sau người xóm chợ thấy mấy con nhà họ Thái ngồi ngoài quán cà phê Thanh Hà. Cũng là người Tàu với nhau, cũng tìm đường vượt biên như nhau nhưng nhà họ Diêu trong thị xã thì thê thảm nhất. Nhà họ Diêu có tiệm trà Diệu Ký nổi tiếng từ Bến Hải đến tận Cà Mau, thuở quốc gia còn. Trà của Tiệm Diệu Ký ngon, gói giấy kiếng đỏ rất đẹp, hồi ấy nhà nào có tiệc tùng, quan hôn tang chế… cũng đều sắm cặp trà Diệu Ký. Họ Diêu là bạn của ông già Tàu họ Diệp và cũng là bạn hàng làm ăn với ngoại Thiện. Họ Diêu giàu có nhất trong bọn họ, ông chi vàng mua bãi,  đóng tàu riêng để cho cả nhà và những người họ hàng cùng ra đi. Họ đi trót lọt, không bị bắt. Những người quen biết đều mừng cho nhà họ Diêu, nào ngờ mấy tháng sau, những người vượt biên trót lọt nhắn tin về: “Tàu nhà họ Diêu bị cướp biển phá tàu để cướp vàng, toàn bộ nhà họ Diêu bị giết chết, không một người sống sót”. Họ Diêu ra đi, bỏ lại nhà cửa tài sản, chỉ mang theo vàng và hột xoàn, những tưởng đi thoát, nào ngờ chết thảm như vậy, từ đó nhà họ Diêu tuyệt tích giang hồ. Những người Tàu ở chợ Bà Bâu và trong thị xã chẳng còn ai biết đến tông tích họ Diêu nữa. Lần thứ ba ông già Tàu họ Diệp lại sang nhà ngoại:

 

– Họ Diêu giàu lắm, ngoài số vàng đóng tàu mua bãi, còn bao nhiêu ép vào mạn tàu, không hiểu sao bọn cướp biển lại biết bí mật này mà phá tàu để cướp vàng?

 

Câu hỏi của ông già Tàu có lẽ cũng là câu hỏi của nhà họ Diêu, cả nhà họ mang câu hỏi ấy sang thế giới bên kia. Thiên hạ có người hiểu nhưng không nói ra được, tuy nhiên cũng có nhiều người thật sự không biết. Riêng người ở xóm chợ Bà Bâu thì bâng quơ:

 

– Có gì khó hiểu đâu! Bán bãi bảo kê biết phong phanh nên bật mí ra và biết đâu đó cũng chính là thủ phạm.

 

Người lớn trong nhà Thiện thường nói người Tàu giỏi mua bán, đi đến đâu cũng làm nghề mua bán. Thiện cũng thấy thế! Chợ Bà Bâu này người Tàu giàu có hơn người Việt, ngoài ba tiệm thuốc bắc thì còn có vựa đường của nhà họ Diệp (nhánh này khác với nhánh họ Diệp của ông già Tàu thuốc bắc), tiệm vàng nhà họ Lý, sạp vải nhà họ Thái, tiệm chụp ảnh nhà họ Tạ… hổng thấy ai đi làm công nhân hay làm ruộng như người Việt. Bọn họ ăn trắng mặc trơn, con gái cũng như con trai đều ở trong nhà ít khi ra ngoài, trừ đám con nhà họ Thái. Mấy anh con trai nhà họ Thái thì nhậu nhẹt, cà phê cà pháo, ăn chơi mát trời ông địa luôn.

 

Khi bọn con nít bị người lớn xúi giục kéo đến quấy quá hát vè mạ lỵ ông già Tàu, ông già Tàu chửi nửa tiếng Tàu nửa tiếng Việt, giọng Việt lơ lớ càng làm cho chúng cười và hát to hơn. Không biết ông già Tàu giận nhiều không nhưng nét mặt ông vẫn như mọi ngày, lặng lẽ không gợn xúc cảm, ngay cả lúc ông lên tiếng chửi: “ Thổ cha mày, thổ cha mày”. Thiện chưa bao giờ thấy ông vui hay buồn, gương mặt ông hơi dài, trắng, mũi cao, có mấy nốt ruồi ở dưới bọng mỡ mắt và ở cổ. Ông đẹp trai hơn hẳn những người đàn ông Việt ở chợ Bà Bâu này. Ngày nào Thiện cũng nghe ông lầu bầu chửi con cháu khi ông không vừa lòng: “ Thổ cha mày, thổ cha mày”. Ngày ông già Tàu gả cô con gái lớn cho nhà họ Lương, cũng người Tàu nhưng khác quận, ông có mời ngoại Thiện, có lẽ ngoại Thiện là người Việt duy nhất trong đám cưới này. Ông già Tàu nói với ngoại:

 

– Ngộ quý nị lắm, nị là hàng xóm gần gũi nhất, tốt nhất của ngộ!

 

Năm ấy cậu Tư đến tuổi, người ta gởi giấy về nhà bắt phải đi đăng ký nghĩa vụ quân sự. Ngoại lo sốt vó, đi ra đi vào:

 

– Thời buổi bất an, đi lính có mà chết! Họ đưa qua Campuchia coi như hết số!

 

 Có người đến bỏ nhỏ vào tai ngoại:

 

– Bà muốn hoãn nghĩa vụ quân sự cho thằng Tư không? Hoãn một năm, hoãn năm năm hay hoãn trọn đời? Bà chi ra thì tui chạy cái giấy ấy cho.

 

Ngoại mừng hết lớn, bao nhiêu cũng sẵn sàng chi, duy chỉ hơi ngần ngại là chi cho hoãn trọn đời thì tốn kém quá, vả lại liệu có chắc không? Tính tới tính lui ngoại quyết định chi cho cái giấy hoãn năm năm, sau đó tính tiếp. Ngoại qua tiệm thuốc bắc Quảng Lợi Đường của ông già Tàu hốt cả chục thang thuốc đau lưng nhức mỏi. Ông già Tàu bắt mạch xong nói:

 

– Nị uống hết thuốc này mà không hết đau lưng, ngộ trả tiền lại cho nị.

 

Ông già Tàu tặng thêm cho ngoại một thang thuốc ngâm rượu trị nhức mỏi, khi nào mỏi thì uống một chung tí xíu đỡ ngay thôi. Ổng còn nói:

 

– Ngộ hốt cho nị loại đặc biệt nhất đấy, bổ sung toàn đỗ trọng, câu kỷ tử thứ thiệt. Nị sắc mỗi siêu còn tám phân, uống hết chục thang này bảo đảm hết đau lưng nhức mỏi.

 

Ông già Tàu nói tiếng Việt lơ lớ, ít khi tiếp xúc với người Việt, chỉ trừ những khách hàng xem mạch hay bốc thuốc mà thôi. Riêng với ngoại thì ông nói nhiều hơn, kể cả tâm sự chuyện nhân tình thế sự. Nhiều người ở chợ Bà Bâu thường lấy làm ngạc nhiên về tình bạn thân thiết giữa ông già Tàu với ngoại. Sau khi bắt mạch bốc thuốc, ông già Tàu bảo:

 

– Hồi nẳm, ngộ phải lo cho thằng Hai khỏi bị đi quân dịch, giờ nị lại lo cho thằng Tư không phải đi nghĩa vụ quân sự. Ngộ người Tàu, con ngộ chỉ là dự bị đi lính nhưng ngộ vẫn phải đóng nhiều tiền lắm để được miễn. Ngộ với nị có của ăn của để, nếu không hổng biết lấy gì chi, hổng biết sống làm sao?

 

Ông già Tàu nói đúng, nếu ổng hổng có tiền thì cậu Hai đã bị gọi đi quân dịch thời trước và thời nay thì cậu Tư sẽ bị đưa qua Campuchia đánh nhau với Khơ Me đỏ rồi!

 

Năm thứ hai ở bậc đại học, Thiện từ Sài Gòn về xóm chợ Bà Bâu nghỉ hè. Nào ngờ mấy ngày sau nghe ông già Tàu chết, đám ma lình đình lắm, họ hàng từ Sài Gòn ra dự, con cháu từ nước ngoài về đưa đám. Đám ma của ông già Tàu hổng thấy con cháu mặc áo sô đội mão gai như người Tàu Chợ Lớn. Thiện thấy bọn họ đều chít khăn trắng như những đám ma khác của người Việt ở chợ Bà Bâu. Thiện nghe láng giềng xì xào với nhau: “Họ bỏ cả bộ bàn đèn của ông già Tàu vào trong hòm”. Hổng biết đúng sai thế nào nhưng dù sao đi nữa thì cái mùi thơm trời thần ấy đã theo ông già Tàu đi qua thế giới bên kia.

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 02/22)

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 1972 là quãng thời gian với nhiều lo âu cho tôi và các bạn nam sinh cùng lớp vì hết niên học chúng tôi phải qua kỳ thi Tú tài I, đậu hay rớt tương lai sẽ là những khúc rẽ cuộc đời...
Bốn người chúng tôi ở lại Kontum và Pleiku một thời gian khá dài, không khí miền cao nguyên dầu sao cũng trong lành và mát mẻ hơn ở Sài Gòn. Chúng tôi đi thăm lại những nơi trong thời niên thiếu đã đi qua, viếng đền Đức Mẹ Măng Đen phía Bắc Kontum với bức tượng Mẹ bị cụt cả hai bàn tay do chiến tranh. Chúng tôi trở về mái trường xưa, chủng viện thừa sai Kontum và ở lại nơi này 4 ngày, nhìn lại ngôi nhà nguyện nhỏ bé, từng lớp học thân thương, căn phòng ngủ ngày xưa chúng tôi trùm mền, lén thày giám thị, lấy đậu phộng và khoai lang deo ra ăn. Nhìn lại chốn xưa mà lòng dâng lên biết bao cảm xúc buồn vui thời học trò...
Sau khi viếng thăm Corpus Christi chúng tôi trở lại thành phố Houston, thành phố lớn nhất của Texas. Trong những ngày đầu lập quốc, thành phố Houston đã từng là thủ đô tạm thời của “nước Texas”, sau đó thủ đô chính thức được dời sang thành phố Austin...
Thằng Thảo cà chớn, cà khịa với thằng Thọ. Nó biết anh nó thích nhỏ Mai, năm rồi thằng Thọ sang nhà nhỏ Mai lặt lá mai cả mấy buổi chiều. Nhỏ Mai học chung lớp với Thọ, hai đứa thường đi học chung đường, bề ngoài thì là bạn bè nhưng tình ý đã lắm rồi, tuy cả hai còn e dè. Đứa nào cũng giả đò vu vơ nhưng làm ánh mắt đã nói lên hết, đôi khi người ta cũng bắt quả tang hai đứa ôm nhau dấm dúi hôn lén sau gốc dừa...
Trải dài suốt mấy thế hệ, từ thời kháng chiến chống Pháp, cuộc chiến hai mươi năm, và rồi tha hương, tên tuổi Phạm Duy luôn luôn gắn bó với tình tự dân tộc, là một huyền thoại trong khu làng âm nhạc, văn nghệ Việt Nam. Hiếm ai trong chúng ta không cảm thấy lòng dạt dào yêu quê Mẹ Việt Nam hơn khi nghe nhạc và ca từ của Ông. Cả một cuộc đời dài sáng tác, Ông đã để lại cho đời sau một gia sản tinh thần khổng lồ với “ngàn lời ca” mà có lẽ trước và sau Ông khó ai bì kịp. Đúng ngày này 10 năm trước, ngày 27 tháng 1 năm 2013, người nhạc sĩ nổi trôi cùng mệnh nước 93 năm đã kết thúc cuộc hành trình “trên đường về nơi cõi hết”. Nhân ngày giỗ Ông năm thứ 10, Việt Báo hân hạnh đăng tải dưới đây loạt bài của nhà văn Cung Tích Biền. Loạt bài gồm 4 phần, mỗi phần là cái nhìn ở mỗi chặng đường soi giọi bước chân của người nhạc sĩ.
Edgar Poe là người lập thuyết nghệ thuật vị nghệ thuật, khai sinh trào lưu tượng trưng trong văn học nghệ thuật thế giới. Ông cũng được coi là cha đẻ của tiểu thuyết trinh thám, truyện kinh dị. Nhiều truyện ngắn của ông dự báo sự ra đời của tiểu thuyết khoa học giả tưởng, kinh dị và huyễn hoặc rất phổ biến ngày nay.
Tôi vốn ăn nói vụng về nên rất sợ những người đa ngôn, hay lý luận. Nhưng ghét của nào trời trao của ấy. Lúc đã lâm hoàn cảnh tù tội, dun dủi sao tôi lại bị sắp xếp ở cạnh một ông già lắm chuyện: ông Roan. Vừa mới biết nhau ông đã tự giới thiệu ông là một cựu Trưởng Chi Thông Tin Chiêu Hồi. Ông cũng nói ông từng là một nhà thơ có chút tiếng tăm. Thỉnh thoảng ông lại ọ ẹ ngâm vài câu thơ, phần nhiều là thơ Kiều. Hình như cái miệng ông không biết mệt mỏi. Ông cứ kể cho tôi nghe chuyện này, chuyện nọ lung tung...
Thưa ngài thi sĩ, yêu là yêu, là vướng mắc, yêu là yêu không bờ bến rồi, là cho đi tình cảm, cho đi những xúc động nồng nàn, nào ai có thì giờ so bì phút đầu tiên ấy, là có được hay không được đền bù hay không? Lãng mạn là sóng tràn bờ và không so đo tính toán...
Trong bài thơ “Không Đề” của cố thi sĩ Quang Dũng, có hai câu của chàng nói với nàng sau hai mươi năm xa cách, Em mãi là hai mươi tuổi/ Ta mãi là mùa xanh xưa… Điều gì khiến Quang Dũng vô hiệu hóa được sự tàn phai của thời gian? Mùa xanh ấy có phải là điểm nhấn rực rỡ của mùa xuân trên dòng trôi bốn mùa, và phải chăng tuổi hai mươi là nơi mà nhịp bổi hổi bồi hồi của đôi trái tim để lại dấu ấn? Nó mạnh mẽ tới mức người ta thấy thời gian ngừng lại. Ngang đó. Không trôi. Cứ là mùa xuân, cứ là hai mươi tuổi...
Vốn là một sản phẩm của nền Hán học nhưng khi nền Hán học cáo chung thì chơi câu đối vẫn là một thú chơi tao nhã. Ngày xưa mỗi độ xuân về, nhà nhà trưng câu đối. Bậc thức giả thì câu đối đầy ý nghĩa thâm sâu, điển cố xa xưa. Người bình dân thì câu đối giản dị hơn, gần gũi đời sống hằng ngày hơn; chung quy cũng là nói lên chí hướng, chúc phúc, cầu may mắn, gởi gắm tâm tư…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.