Hôm nay,  

Bài Thơ Trên “Đảo Thiên-Thần”

11/02/202200:00:00(Xem: 5436)

 

hinh-phai-1
 Angel Island vào cuối thế kỷ 19, nhìn từ Sausalito. Nguồn: Marin IJ

 
 
Du khách đến Vùng Vịnh Bay Area thường hỏi thăm về đảo Alcatraz — tuy nhỏ nhưng nổi tiếng nhờ có nhà tù khét tiếng đã được làm phim với Clint Eastwood thủ vai chính. Thế nhưng ít ai biết đến, hoặc tò mò muốn ghé thăm, Angel Island (Đảo Thiên-Thần) mặc dù nó từng đóng một vai trò khá đáng kể trong vở kịch di dân của nước Mỹ.
 
Angel Island là hòn đảo lớn thứ nhì trong Vịnh San Francisco, với diện tích hơn 3km vuông. Cách đây mười ngàn năm chỏm đất này còn dính với đất liền, nhưng sau thời kỳ Băng-Hà mực nước biển lên cao biến nó thành hòn đảo. Khoảng hai nghìn năm trước, nơi đây là vùng săn bắn và đánh cá của thổ dân da Đỏ Miwok. Sau khi người Âu-Châu khám phá ra tân-thế-giới, người Tây-Ban-Nha đã dùng nơi này để nuôi bò.
 
Ngày nay Angel Island là một khu lâm viên của tiểu bang California, đồng thời là một di tích lịch sử cấp quốc gia. Điểm cao nhất trên đảo là ngọn núi cao 240 mét mang tên Mount Livermore. Từ bờ Bắc của đảo có thể nhìn thấy vùng trồng nho Sonoma và Napa xanh ngát. Vào những ngày nắng đẹp, đứng ở bờ Nam có thể thấy thành phố San Jose và San Francisco xa xa.
 
hinh phai 6
Thuyền nhân vừa đổ bộ lên Angel Island. Nguồn: National Archives
 
Mệnh danh “Ellis Island của Miền Tây”, Angel Island là trạm dừng đầu tiên của thuyền nhân vượt Thái-Bình-Dương đến Mỹ — tương tự như Ellis Island ở New York, nơi có tượng Nữ-Thần chào đón “đoàn người lam lũ, thèm hít thở không khí Tự-Do” (the huddled masses yearning to breathe free). Nhưng khác với Ellis Island là nơi đón tiếp dân da trắng đến từ Âu-Châu, những người được Angel Island đón nhận đa phần là dân da vàng và da nâu từ Trung-Mỹ, Nam-Mỹ và Á-Châu (có cả người Việt). Đông nhất là người Hoa.
 
Câu chuyện về Đảo Thiên-Thần bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 19 và kéo dài đến năm 1940. Không chỉ là một trại tạm trú bình thường, nó còn mang dấu tích của  và biểu tượng của nạn kỳ thị dân da vàng mà cho đến nay vẫn ít được ai nhắc đến.
 
Vào những năm giữa thế kỷ 19, khi vàng được khám phá ở California, người Hoa đã ồ ạt di cư sang Mỹ. Lúc bấy giờ thời gian của chuyến hải hành từ Trung-Hoa lục địa hay Hồng-Kông sang Cali cũng ngang ngửa từ Boston hay New York bằng đường bộ. Người Hoa không chỉ sang Mỹ để đào mỏ mà còn làm những công việc tay chân khác. Họ cung cấp một nguồn lao động rẻ tiền và kiếm sống bằng đủ nghề phục vụ người da trắng. Dẫu vậy, họ không có nhiều quyền lợi cũng như không được phép trở thành công dân. Người da trắng gọi họ là “coolies” (cu-li) hoặc miệt thị hơn nữa thì là “chink”. Như nhiều cộng đồng di dân khác, người Hoa sống túm tụm với nhau trong các khu xóm gọi là Chinatown, lớn nhất là ở San Francisco.
 
Khi chính phủ liên bang cần xây đường xe lửa xuyên lục địa — Transcontinental Railroad, vào những năm sau Nội-Chiến, họ đã phải mướn nhân công Hoa-kiều mặc dù bị các nhóm tư bản da trắng phản đối dữ dội. Nhiều người Mỹ viện cớ dân Á-Châu nhỏ con, yếu đuối, không thể nào kham nổi công việc cực nhọc này. Thế nhưng sau nhiều tuần lễ đăng báo tuyển mộ, chỉ có vài trăm người da trắng ghi danh. Năm 1865 ông Leland Stanford — cựu thống đốc California và giám đốc công ty hoả xa Central Pacific (sau này sáng lập đại học Stanford) — điều trần trước Quốc-Hội rằng nếu không có nhân công Hoa-kiều thì đường sắt Transcontinental Railroad sẽ không thể nào hoàn tất kịp theo yêu cầu của nhà nước. Nhờ vậy mà số người Hoa được Quốc-Hội cho phép nhập cư tăng mạnh.
 
hinh-phai-2
Lao động Hoa-kiều xây đường sắt ở Utah. Nguồn: Canyonlands Natural History Association
 
Khởi đầu với một đội ngũ chỉ 21 người, hơn 20 ngàn công nhân Hoa-kiều đã góp công xây dựng đường hoả xa xuyên bang, thay đổi bộ mặt và lịch sử Hoa-Kỳ. Hàng ngàn người Hoa đã bỏ mạng trên các vùng rừng núi và sa mạc, nhất là khu vực hiểm trở gần Reno, Nevada. Sau khi tuyến đường sắt tại các tiểu bang miền Tây hoàn tất năm 1969, lao động Hoa-kiều phải tìm việc khác để làm. Cùng lúc đó, kinh tế nước Mỹ bước vào một giai đoạn thoái trào — The Long Depression, khởi đầu từ các thành phố lớn ở bờ Đông. Dân da trắng từ các thành phố miền Đông tràn sang California tìm việc, đa số quy tụ ở San Francisco. Hiềm khích bắt đầu xảy ra.
 
Công nhân Hoa-kiều nhờ chịu lãnh lương rẻ hơn nên lấy được job của người da trắng, đã vậy họ lại không buôn bán, xài tiền với doanh nghiệp da trắng nên càng bị ganh ghét. Thập niên 1870 là lúc các cuộc xung đột giữa người da trắng và da vàng xảy ra thường xuyên. Năm 1871, một cuộc tàn sát thảm khốc đã diễn ra tại Chinatown ở Los Angeles, khi ấy mới chỉ có khoảng 170 người Hoa trú ngụ. Hơn 500 người da trắng và Mễ đã giết hại và treo cổ gần 20 người Hoa. Không kẻ phạm pháp nào bị kết án. Năm 1877 đến phiên Chinatown ở San Francisco bị tấn công trong ba ngày liền. Lúc bấy giờ dân số San Francisco đã lên đến 200,000 người — 10% là Hoa kiều, và tỉ lệ thất nghiệp đang ở mức 20%. Bộ phim “Warrior” trên HBO, với Dustin Nguyễn và Diana Đoàn, cũng dùng bối cảnh San Francisco vào thời điểm này với nhiều màn đâm chém khá gay cấn (ai chưa xem nên xem cho biết).

hinh-phai-3

Chinatown, San Francisco đầu thập niên 1900. Ảnh: Arnold Genthe

 
Tình hình ngày càng căng thẳng. Đến năm 1882 thì Quốc-Hội thông qua đạo luật “Chinese Exclusion Act”, cấm hầu hết người Hoa nhập cư vào Mỹ trừ một vài thành phần đặc biệt như ngoại giao, nhà giáo, các nhà chuyên môn v.v. Đây là đạo luật đầu tiên — và duy nhất, trong lịch sử Hoa-Kỳ nhắm vào một sắc dân hay chủng tộc. Sau khi đạo luật có hiệu lực, di dân đến từ Á-Châu bị đưa lên các nhà tù nổi của sở di trú đậu trong Vịnh San Francisco để được thanh lọc. Với những điều kiện khắt khe của đạo luật “Chinese Exclusion”, số người Hoa bị từ chối và trục xuất khá cao. Nhưng vì lý do kinh tế và chiến tranh nha phiến ở Trung-Quốc vào cuối thế kỷ 19, người Hoa vẫn tiếp tục tìm cách bỏ nước ra đi.
 
Sang đầu thế kỷ 20, bệnh dịch hạch nổi lên khắp nơi. Cùng vào thời điểm đó, một trào lưu khoa học nửa mùa mang tên Eugenics lan tràn trong giới trí thức Âu-Mỹ. Xuất phát từ Anh, phong trào Eugenics xâm nhập vào chính trường Mỹ và có ảnh hưởng sâu rộng đến chính sách di dân. Nó dựa trên giả thuyết con người ta có thể chọn lọc gen để đẻ ra những đứa con có giống tốt và loại trừ những giống xấu. Tất nhiên tốt xấu ở đây được nhìn qua lăng kính của màu da và sắc tộc. Và từ góc nhìn của người Caucasian da trắng thì các giống da màu đều xấu hơn, không thể pha trộn với genes của họ. Eugenics chính là hạt mầm dẫn đến Holocaust của Hitler, tiêu diệt hàng triệu người Do-Thái và gypsies sau này.

hinh phai 7

Nơi tiếp đón người di dân trên Đảo Thiên-Thần. Nguồn: National Archives

 
Do hai lý do nói trên, năm 1910 chính quyền cho xây một khu tạm giam trên Đảo Thiên-Thần để thanh lọc và xử lý người nhập cư, tương tự như Ellis Island ở New York. Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu và sổ sách còn được lưu trữ, có sự khác biệt rõ rệt giữa hai trạm tạm trú. Ở Ellis Island, đa số di dân là da trắng đến từ Âu-Châu; trong số đó chỉ có khoảng 20% là bị giữ lại trong trại tạm trú. Thời gian họ ở trong trại cũng không lâu; trung bình chỉ độ một hai ngày để kiểm tra lý lịch, giấy tờ v.v. Hầu hết (98%) được cho phép vào nước Mỹ. Trong khi đó thì gần hai phần ba người nhập cư qua cảng San Francisco bị đưa vô trại tạm giam trên đảo Angel Island. Đa số bị giữ lại nhiều ngày, có khi nhiều tuần, nhiều tháng. Một người bị giam đến 756 ngày!
 
Phần lớn những người bị nhốt trên đảo Angel Island đến từ Á Châu — Đại Hàn, Phi Luật Tân, Ấn Độ v.v. Nhưng đông nhất là từ vùng Quảng Đông bên Tàu. Để làm khó dễ những người không biết nói tiếng Anh này, nhân viên di trú đặt ra những câu hỏi thật khúc mắc nhằm đánh rớt họ. Có nhiều câu hỏi thật ngớ ngẩn, như nhà anh cách nhà kế bên cạnh bao nhiêu feet? Mục đích chính của sở di trú thật ra chỉ để trục xuất càng nhiều người càng tốt. Chỉ những người lanh lẹ, giỏi tiếng Anh và có tiền mới có thể kiện cáo và có cơ hội thắng kiện để được vào Mỹ. Nó là một hình thức thanh lọc và kỳ thị có hệ thống, được luật hoá hết sức bất công nhưng cực kỳ tinh vi. Kết quả là nó đã dẫn đến nhiều trường hợp thương tâm, mà câu chuyện sau đây chỉ là một ví dụ.
 
hinh phai 8
Giường cho người bị tạm giam trên Đảo Thiên-Thần. Nguồn: National Archives
  
Năm 1924, vài tuần trước khi một đạo luật mới mang tên “Immigration Act” có hiệu lực, Soto Shee cùng chồng là Lim Lee và đứa con trai đầu lòng mới 7 tháng rời Hồng-Kông sang Mỹ để đoàn tụ với bố của Lim Lee là một công dân Mỹ sống ở San Francisco. Lúc bấy giờ Soto đang mang thai đứa con thứ nhì trong bụng. Khi họ cập bến San Francisco, chiếu theo luật di trú mới, chỉ mỗi một mình Lim Lee là được lên bờ. Soto và đứa con trai bị đưa sang Angel Island. Tại đây con trai cô mắc bệnh viêm ruột và qua đời, phải đưa xác cho bố đứa bé là Lim Lee ở San Francisco để chôn. Luật sư của Soto xin phép cho cô rời trại để dự đám tang nhưng bị từ chối. Không những vậy, sở di trú còn ra lệnh trục xuất Soto trở về Tàu. Quá tuyệt vọng, Soto treo cổ tự tử. May sao cô được cứu sống kịp thời. Đến lúc đó nhân viên di trú mới chịu cho Soto ở lại để đi đám tang con mình.
 
Ít lâu sau khi xuất trại Angel Island, Soto cho ra đời một bé gái; hai vợ chồng đặt tên con là Mỹ Hảo, tiếng Anh là Mabel, để đánh dấu cuộc sống mới ở Mỹ-quốc. Tuy nhiên, họ vẫn phải tiếp tục tranh đấu để Soto không bị trục xuất. Phải mất nhiều năm trời họ mới hoàn tất mọi thủ tục giấy tờ. Cuối cùng thì Soto Shee cũng được định cư hợp pháp. Bà sinh cả thảy tám người con và sống cho đến năm 96 tuổi.
 
hinh-phai-5
Một căn trại trên Đảo Thiên-Thần. Nguồn: National Archives
  
Angel Island được dùng làm trại tạm trú cho người nhập cư gần 30 năm. Năm 1940 nó bị đóng cửa sau một trận hoả hoạn. Trong khoảng thời gian 30 năm ấy Angel Island đã đón nhận gần nửa triệu người đến từ 80 quốc gia khác nhau, hơn phân nửa đến từ Trung-Quốc. Đến năm 1943 thì luật “Chinese Exclusion” bị Quốc-Hội dẹp bỏ. Sang thập niên 1950-60 các điều kiện di trú được nới lỏng dần. Người di dân từ Á-Châu được quyền trở thành công dân như xưa.
 
Thời Đệ-Nhị Thế-Chiến, Angel Island được dùng làm nơi thanh lọc và xử lý tù binh chiến tranh và trại tập trung người Mỹ gốc Nhật. Sau năm 1946 trại bị bỏ hoang cho tới năm 1963 thì được sáp nhập vào hệ thống State Park của California. Năm 1970 Sở Lâm-Viên Tiểu-Bang ra quyết định đập bỏ các trại tạm giam và xây một khu State Park mới với các trò chơi dã ngoại như cưỡi ngựa, cước du, cắm trại v.v.
  
hinh phai 9
Một căn trại trên Đảo Thiên-Thần. Nguồn: Angel Island Immigration Station Foundation
 
Lúc bấy giờ, một nhân viên của State Park tên Alexander Weiss khám phá trên các bức tường của các lán trại có rất nhiều bài thơ chữ Hán và Nhật, một số bài còn được khắc vào gỗ. Bản thân Weiss cũng là một di dân từ Áo quốc. Hồi còn trẻ, Weiss từng phiêu dạt từ miền Đông nước Mỹ sang San Francisco, làm đủ thứ nghề để kiếm sống kể cả thuỷ thủ trong Hải Quân Mỹ.  Là một nhạc sĩ và thi sĩ, đồng thời là nhà hoạt động dân quyền từng tham dự các cuộc biểu tình bằng xe bus của nhóm Mississippi Freedom Riders vào thập niên 1960, Weiss đã bỏ ra 20 năm trời để lấy được mảnh bằng đại học tại San Francisco State University. Hơn ai hết, Weiss nhận ra Angel Island là một mảng lịch sử hiếm quý cần được lưu giữ và bảo vệ.
 
Nhờ sự vận động không mỏi mệt của Weiss, cùng với sự hậu thuẫn từ cộng đồng Á Châu, giới sinh viên, văn nghệ sĩ và các nhóm bảo tồn di sản văn hoá trong Vùng Vịnh, năm 1976 thống đốc Jerry Brown ban hành một đạo luật biến các khu trại trên Angel Island thành một khu di tích lịch sử. Các căn nhà được trùng tu lại, và các bài thơ trên tường được phục hồi và bảo quản cẩn thận. Năm 1983, trại di dân Angel Island được mở cửa cho công chúng vào xem. Angel Island trở thành một địa điểm tham quan cho những ai muốn tìm hiểu thêm về cuộc hành trình đầy máu và nước mắt của những thế hệ di dân da vàng cách đây một thế kỷ.
 
Hơn hai trăm bài thơ chữ Hán đã được phát hiện tại đây, đa số làm theo thể thơ Đường cổ điển. Thêm vào đó là hàng trăm những hàng chữ rải rác đó đây bằng tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Nga, tiếng Ấn và nhiều thứ tiếng khác… Nó là chứng tích của bao thế hệ di dân đã bị nhốt tại đây với tương lai mờ mịt, bất định. Nó là những tiếng thở dài và tiếng kêu trong tuyệt vọng của những con người đang lây lất trong cảnh tù đày bất đắc dĩ. Nó là nỗi nhớ nhà, nhớ cha mẹ, nhớ anh chị em; nhớ người yêu bên kia bờ Thái Bình Dương xa tắp.
 
 
hinh-phai-4
Một bài thơ khắc trên tường. Nguồn: Angel Island ISF
 
Là người Việt, có lẽ chúng ta dễ dàng cảm thông và thấu hiểu tâm trạng của những thuyền nhân và tù nhân này. Người viết tuy chưa bước chân lên Angel Island bao giờ, nhưng lần tới có dịp ghé Vùng Vịnh chắc chắn sẽ tìm cách đến thăm Đảo Thiên-Thần để nhìn tận mắt những bài thơ và nét chữ của những người di dân thuở trước. Trong khi chờ đợi, xin mời các bạn thưởng thức một bài thơ của một tác giả vô danh, vừa mới được dịch sang tiếng Việt.
 
Bài 43
 
囚困木屋天復天
自由束縛豈堪言
舉目誰歡惟靜坐
關心自悶不成眠
日永樽空愁莫解
夜長枕冷倩誰憐
參透箇中孤苦味
何如歸去學耕田
 
Tù khốn mộc ốc thiên phục thiên
Tự do thúc phược khởi kham nghiên
Cử mục thuỳ hoan duy tĩnh toạ
Quan tâm tự muộn bất thành miên
Nhật vĩnh tôn không sầu mạc giải
Dạ trường chấm lãnh thính thuỳ liên
Tham thấu cá trung cô khổ vị
Hà như quy khứ học canh điền
 
oOo
 
Trong gian nhà gỗ giữa trại giam
Ta ngồi thúc thủ đếm thời gian
Nhìn quanh chẳng thấy ai vui cả
Ngủ không tròn giấc chả buồn than
Môi khô chén rượu vơi ngày ngục
Gối lạnh đêm tù rối ruột gan
Biết tỏ cùng ai niềm cô khổ—
Hay ta về lại với ruộng làng?
 
-ianbui
2022.01.01

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người họa sĩ ấy đã đi xa mười năm. Nhưng qua cuốn sách này với những tranh ảnh cùng phụ chú, cho tôi cảm giác như anh vẫn đâu đây, bên bạn bè và người thân, ấm áp.
Trong thế giới nhiễu động hôm nay, khi nhịp tiện nghi càng tăng thì khoảng cách giữa con người và thiên nhiên dường như càng xa, tranh của Ann Phong như một nốt lặng giữa biến tấu thời đại, đưa người xem tìm lại chính mình giữa cơn quay cuồng của văn minh. Mời tham dự cuộc triển lãm: Ann Phong: Làm Hòa Với Trái Đất - Triển lãm: Making Peace with the Earth, 415 Avenida Granada, San Clemente, CA 92672, Thời gian: 15 tháng Giêng – 8 tháng Ba, 2026, Địa điểm: Casa Romantica Cultural Center and Gardens
Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.