Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Đuổi Bóng Hoàng Hôn - Tuyển Tập Tiểu Luận Của Trương Vũ

05/03/202119:09:00(Xem: 1605)
Dao Nhu

                                                 

Hôm cuối tháng Giêng vừa rồi tôi nhận được tuyển tập tiểu luận- ĐUỔI BÓNG HOÀNG HÔN-xuất bản năm 2019, do chính tác giả Trương Vũ gửi tặng.

Thoạt tiên, tên Trương Vũ thật lạ lẫm với tôi. Nhưng khi đọc vào trang trong tôi mới biết Trương Vũ là bút hiệu của Trương Hồng Sơn, người bạn đồng môn của tôi vào những năm 1953-1955, thuở chúng tôi học chung với nhau từ lớp đệ Lục đến đệ Tứ tại trường trung hoc tư thục Kim Yến Nha Trang. Nhìn ảnh của Sơn với hai màu tóc, khiến tôi bồi hồi cảm động. Chúng tôi xa nhau đã hơn 65 năm, biết bao nước chảy qua cầu. Sáu mươi lăm năm của khói lửa, chiến tranh, của ý thức hệ, phân ly, chia cắt, chúng tôi trôi giạt thành người lưu vong bất đắc chí.

Trong suốt hơn 65 năm qua, thời gian dài đăng đẳng, tôi theo nghiệp Y, hành nghề bác sĩ phẫu thuật của thời chiến. Sau khi về hưu tôi ngả ra viết lách. Trong khi đó Trương Vũ, tốt nghiệp Cử Nhân Giáo Khoa toán đại học Sàigòn; Thạc sỹ (MS) Vật Lý Hạt Nhân, University of Pennsylvania; Thạc Sỹ Kỹ Sư Điện (MSEE) và Tiến sỹ Khoa Học (D.Sc.) về Điện trong kỹ thuật Không Gian, The George Washington University. Trước 1975, anh dạy toán và đặc trách Sinh Viên Vụ tại đại học Duyên Hải-Nha Trang. Vượt biển và định cư tai Hoa Ký từ 1976. Chuyên Viên nghiên cúu cho NASA tại Trung Tâm Không Gian Goddard từ năm 1980 cho đến khi nghỉ hưu, 2005. Đóng góp quan trọng nhất thuộc lãnh vực nghiên cứu và phát triển kỹ thuật  xác định quỹ đạo (Orbit Determination) và phi hành tự động cho phi thuyền (Autonomous Spacecraft  Navigation). Đăng tải nhiều công trình nghiên cứu với tư cách tác giả chính về vật lý và kỹ thuật không gian. (1996-1998)

Ngoài công tác chính ở NASA, Trương Vũ còn đóng góp vào một số sinh hoạt văn học nghệ thuật ở hải ngoại. Đồng Chủ biên tuyển tâp văn chương chiến tranh- The Other Side Of Heaven (do Curbstone Press xuất bản năm 1995). Nguyên đồng chủ tịch Tập san Việt Học-The Vietnam Review của đại học Yale (1996-1998). Nguyên Chủ tịch tap chí Đối Thoại, California (1993-1994). Hơp tác đóng góp bài vỡ cho các tạp chí giấy và mạng  như Văn Học, Hợp Lưu, Văn, Tiền Vệ, Da Màu, Tương Tri, hay các diễn đàn internet như Talawas, Trang VHNT Phạm Cao Dương, Phố Văn,  Trần Thị Nguyệt Mai...Về hội họa, ngoài các lớp học rãi rác tại các Đại học và tư nhân, phần chính là tự học. Trương Vũ đã từng tham dự một số triển lãm tranh tại Hoa Kỳ.

Cùng với gia đình, Trương Vũ hiện cư ngụ tại tiểu bang Maryland, chú tâm vào chuyện vẽ và viết.

ĐUỔI BÓNG HOÀNG HÔN, Trương Vũ cho biết lấy từ nguồn cảm hứng hai câu cổ thi Trung Quốc: Hoàng Hạc Lâu-của Thôi Hiệu: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị-Yên ba giang thượng sử nhân sầu// Quê Hương khuất bóng hoàng hôn/Trên Sông khói sóng cho buồn lòng ai”. Ý chừng hai mươi bài trong tâp tiểu luận này đều mang không ít thì nhiều hoài vọng tư cố hương của tác giả.

Qua gần hai mươi bài ký trong tập tiểu luận ĐUỔI BÓNG HOÀNG HÔN, Trương Vũ đề cập tới nhiều vấn đề khác nhau. Từ Giáo duc đào tạo của Việt Nam hôm nay, cho đến Chiến tranh Hòa Bình, các  vấn đề chính trị, các phong trào Văn Hoc Nghệ Thuât ở Viêt Nam, con người và quê hương, Chiến Tranh Việt Nam và VĂn Học Viêt Nam Ở Hải Ngoại-The Other side of Heaven... Vốn dĩ là nhà toán học, khoa học kỹ thuật, Trương Vũ thường dùng ánh sáng của khoa học để soi sáng những trang viết của anh.

  Khi Trương Vũ viết về tình người và quê hương bạn bè, đó là lúc trái tim trở nên chủ động ngòi bút của anh. Thể hiện đậm nét về xu thế này của Trương Vũ là bài viết “VỀ LẠI SORRENTO”,-bài viết dựa trên niềm cảm xúc khi tác giả Truong Vũ nghe lại ca khúc  Trở Về Mái Nhà Xua-Torna a Surriento của Ernest De Curtis nhac sỹ Ý, cuối thế kỷ XIX, Bản nhạc này đã làm mê hoặc anh. Anh nhớ Nha Trang, giông như Surriento, nơi có biển xanh cát trắng, tình người. Nơi đó Nhạc sỹ Phạm Duy đã hơn một lần dừng chân lại: “Nha Trang Ngày Về mình tôi trên biển khuya/ Đêm nay còn cát trắng-Đêm nay còn tiền sóng- Đêm nay còn trăng soi...nhưng rồi chỉ còn mình tôi/Trên bãi đêm khóc người tình”. Trương Vũ trong suốt hơn 65 năm qua  đôi lần cũng nhớ về Nha Trang, quê hương của tuổi thơ, của những ngày học trò. Nơi đó, khi về già ta thường nhớ lại như nhớ một thiên đường đã mất. Ôi có gi đáng yêu hơn khi nhớ lại quê hương qua hình ảnh những người bạn gái cùng lớp cùng trường ta chưa hề cầm được tay nhau để nói rằng ta yêu người...Hoàng Thị Ngọc Táo, Trương Thúy Trúc, Trần Thị Hảo...mãi mãi  là những mối tình câm nín đầu đời trong sân trường Võ Tánh Nha Trang....

Trương Vũ có cái nhìn tinh vi và sâu sắc khi ông NHÌN LẠI PHONG TRÀO VẮN NGHỆ PHẢN KHÁNG TẠI VIẸT NAM TỪ NĂM 1986 DẾN NĂM 1989. Sau khi lược qua một vòng về nguyên nhân đưa đến phong trào Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956-58 và phong trao Văn học Phản Kháng 1986-89, Trương Vũ nhìn nhận mọi phong trào văn học hầu hết đều là sự phản kháng của Ngòi Bút chống Bạo Lực. Theo Trương Vũ “Ngòi Bút và Bạo Lực là hai thứ không thể cùng sống chung với nhau mà không làm biến thái hoặc triệt tiêu nhau... chỉ riêng một sự kiện: Trong số mười người cầm bút bị sát hại trên nước Mỹ, thì đã có năm người thuộc công đồng người Việt ở hải ngoại.( Dương Trọng Lâm-1981, Nguyễn Đạm Phong-1982, Phạm Văn Tập-1987, Đỗ Trọng Nhân-1989, Lê Triết-1990) Cũng phải khiến cho chúng ta suy nghĩ về cái tương quan giữa Ngòi Bút và Bạo Lực ở chính nơi đây... chúng ta giết lẫn nhau, chúng ta hành hạ lẫn nhau  chúng ta chụp nón cối cho nhạu...” Và tác giả đặt ngay những câu hỏi: “ Sức mạnh của ngòi bút chúng ta ở hải ngoại như thế nào? Về lượng chắc nhiều lắm. Về phẩm, văn chương của chúng ta có mới không? Nội dung của nó có chứa đựng được những bức xúc, những trăn trở, những khúc mắc, những suy tư thời đại của chúng ta, có khai mở cái thẩm mỹ, cái tầm nhìn về tương lai của chính chúng ta và những thế hệ sau này....Nghĩ đến Văn học nghệ thuật chúng ta buộc phải nghĩ đến những giá trị lớn...Trước khi dứt lời, tôi xin nói đôi điều liên quan đến người đọc: Ở hải ngoại sống hết lòng với văn chương khó lắm.”...Theo tôi nghĩ (lời người viết) chẳng những khó lắm mà còn nguy hiểm lắm, Nguy hiểm cho chính mình mà con gia đình vợ con...Văn chương Viêt Nam ở hải ngoại thật đa diện: Văn chương đặc công, Văn Chuong Việt cộng, Văn Chương Việt gian, Văn chương biệt kích, Văn chương Nha kỹ thuật, văn chương tình báo. Văn chương phe nhóm, công thần ngoại bang chia nhau độc quyền chiếm đoạt các báo Việt ngữ ở hải ngoại; điều quan trọng là chia nhau phần quảng cáo một lợi nhuận kết sù, Văn chương phục vụ quảng cáo cho các mặt hàng, mới là điều quan trọng. Tranh nhau quảng cáo, chụp nón cối cho nhau. Nhưng nghĩ cho cùng, câu nói để đời của nguyên đại sứ Mỹ tại miền nam Viêt Nam, Maxwell Taylor, từng tuyên bố “Who disburses, dictates”. Kẻ cầm súng giết hại các nhà báo Viêt Nam không thật sự quan trọng bắng kẻ đã ra lệnh cho họ giết chết những nhà báo yêu nước của ta, họ thủ tiêu sức mạnh của cộng đồng Viêt Nam ở hải ngoại từ đó họ và bọn tay sai chi phối và thao túng cộng đồng người Việt ở hải ngoại một cách dễ dàng.  

Những bài tiểu luận khác cũng được Trương Vũ đề câp đến với một văn phong đầy  nhân bản như Mưa Ướt Vị Thành-Người Đọc Sách Với Cái Thật cái giả trong Văn, Nói Với Chàng Siêu, Vài Suy Nghĩ Tuyển Tập Mây Chó của Võ Đình, Lời Bạt Cho Chủ Đề Yêu Của Hợp Lưu, Lá Mùa Thu, Phùng, Huy...Nhưng có một tiểu luận Chinh Tri MÙA ĐÔNG PRAGUE đã nắm bắt sự chú ý của tôi mãnh liệt. Qua bài viết này tác giả Trương Vũ nghiên cứu và phân tích về sự thành lập Tân Cộng Hòa Czechoslovakia- Tiêp Khắc ở Đông Âu, nhờ sự đấu tranh kiên cường của các nhà lãnh đạo và nhân dân Tiệp. Đó là sự thật không chối cãi được.

Tuy nhiên sự thành lập Tân Cộng hòa Czechoslovakia-Tiệp Khắc-có chung một lịch sử với sự thành lập các Tân Cộng Hòa ở Đông Âu. Năm 1988 trong một buổi họp tại Điện Kremlin, Mac Tư Khoa, với các lãnh đạo các nước Đông Âu, Chủ Tịch-Tổng Bí Thư cuối cùng của LBXV, Mikhail S. Gorbachev đã long trong tuyên bố: LBXV sẽ không bao giờ can thiệp vào nội tình của các quốc gia Đông Âu. Quyết đinh này của Gorbachev được coi như là khai màu cho sự thành lập các Tân Cộng Hòa Đông Âu, độc lập với Moscova, và chấm dứt Chiến Tranh Lạnh trên toàn cầu...    
   

Thật cảm động khi tôi đọc những trang ký ức của Sơn: “ĐÊM ĐẠI DƯƠNG”- “NHỮNG CƠN MƯA NGÀY CŨ”, và nhất là bài ký ức của Sơn về  Thầy “CUNG GIŨ NGUYÊN-TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM.”. Cả khung trời kỷ niệm trở về trong trí tưởng tôi, trường Trung hoc tư thục Kim Yến, đường Đôc Lâp và Thành Phố Nha Trang, vịnh Nha Trang, cầu Hà Ra, và Xóm Bóng, quê hương thần thoại của “Kẻ Thừa Tự Ông Nam Hải”- Le Fils De La Baleine - tác phẩm thời danh của GS Cung Giũ Nguyên

Đọc “Đêm Đại Dương” của Trương Vũ nhắc lại những cảnh hãi hùng vượt biên của hàng triệu người Việt, nạn nhân của Chuyên Chính Vô Sản, sau ngày 30-4-75! Có những người may mắn đến được bến bờ tự do. Một số người phần số hẩm hiu đã bỏ mình ở rừng sâu, hoặc bị chôn vùi ở dưới đáy Biển Đông. “ Hồi tưởng lại thảm kịch đó... và cũng là lúc để người Viêt Nam tự chiêm nghiệm chính mình, về những gì đã làm, những gì đã không làm, những gì lẽ ra không nên làm...Để xã hội nhân bản hơn, tôn trọng quyền căn bản của con người, và để người dân có tự do, có cơ hội sống một đời sống có phẩm cách, như trong bao nhiêu quốc gia tiến bộ khác. Chỉ có như thế, cái thảm kịch như từng xảy ra trên Biển Đông sau 1975, sẽ không còn xảy ra cho dân tộc Viêt Nam trong tương lai nữa...” Đó là ước vọng hòa hợp hòa giải dân tộc của Trương Vũ, đậm chất nhân văn, tình người, vượt lên trên ý thức hệ Chuyên Chính Vô Sản.  
   

“NHỮNG CƠN MƯA NGÀY CŨ” của Trương Vũ, nhắc ta nhớ lại những cơn mưa Thu lạnh, ở miền Đông nước Mỹ, những cơn mưa dầm trên thành phố Nha Trang những chiều mùa Đông, những cơn mưa vội vã, chợt đến chợt đi của trời tháng Sáu Sàigòn, đẩm ướt mái tóc người em gái, đủ làm ủ dột lòng người tha hương. Những cơn mưa ngày cũ ở bất cứ đâu cũng là những hoài niệm, những bâng khuâng về một cố nhân, về một quê hương đã khuất, về một nơi mà ta dã dừng chân trong những năm tháng khốn khó. Với Trương Vũ, “rất khó để nói rằng nước Mỹ không là một quê hương mới. Mỗi lần đi xa, sau vài ngày là tôi bắt đầu nhớ đến căn nhà ở đó, nhớ màu sắc của cỏ cây khi trời vào Thu, nhớ những con người, nhớ cả thức ăn ...” và chắc chắn Trương Vũ  cũng nhớ đến những cơn mưa ngày cũ và câu thơ cổ thi Trung Quốc của nhà thơ Giả Đảo:

“ Vô đoan cánh độ Tang Càng thủy  

Khước vọng Tinh Châu thị cố hương”

Qua sông Tang Càng, nhớ về Tinh Châu-một quê hương mới...

Đọc CUNG GIŨ NGUYÊN-TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM  của Trương Vũ, lòng tôi xao xuyến lạ thường- Không hiểu Sơn sẽ viết gì đây về vị Thầy của chúng tôi. GS Cung Giũ Nguyên sanh tại làng Minh Hương, Huế năm 1909. Cựu học sinh trường Quốc Học, Huế. Năm 1928  được bổ làm Trợ giáo Tâp sự  tại Trường Nam Tiểu học Nha Trang. Nhưng đến đầu năm 1930 ông bị bãi chức vì lý do chánh trị. Từ năm 1947 ông dạy Pháp văn Trung học  sau đó làm hiệu trưởng trường trung học bán công Lê Quí Đôn Nha Trang. Từ năm 1972-75, giáo sư và chủ nhiệm ban Pháp văn tại Đại Học Duyên Hải Nha Trang. Từ năm 1989 đến năm 1999, ông là giáo sư ngôn ngữ văn chương Pháp tại truòng Cao Đẳng Sư Phạm Nha Trang. Gs Cung Giũ Nguyên  là thầy của rất nhiều thế hệ học sinh và sinh viên Nha Trang, kể cả thế hệ đầu tiên, bước chân vào trường trung học Võ Tánh năm 1947 lúc đó còn mang tên Collège de Nha Trang.  

Cung Giũ Nguyên viết văn thuần thục 3 ngôn ngữ: Việt, Anh, Pháp. Và cộng tác với nhiều báo chí trong và ngoài nước. Ông đã sáng tác, và dịch hơn 50 tác phẩm. Những tác phẩm đầu tay bằng tiếng Việt: Tinh Ái Mỹ-1928, Nợ Văn Chương, Một Người Vô Dụng...Ông viết rất nhiều sách bằng tiếng Pháp: Volontée d’Existence (essai), Le Fils De La Baleine-1956, Le Domaine Maudit-1961, Le Serpent et la Couronne (roman) và tác phẩm chủ lực của ông Le Boujoum-1976-1980.

Các nhà văn hóa Pháp và Đúc, nhất là giới cầm bút của châu Âu, đã vinh danh ông là Tiếng Sấm Phương Đông-La Tonnerre de l’Orient-qua tác phẩm thời danh của ông viết bằng tiếng Pháp “Le Fils De La Baleine”do nhà xuất bản Arthène Fayard-Paris ấn hành năm 1956.  Và sau đó tái bản đến 10 lần. Năm 1957 “Le Fils De La Baleine” được dich sang tiếng Đức dưới nhan đề “Der Sohn Des Walfischs”. Mãi đến năm 1995 “Le Fils De Baleine” mới quay đầu về cố hương, được nhà ngôn ngữ học Viêt Nam, Nguyễn Thành Thống chuyển sang tiếng Việt  dưới tưa đề  “ Kẻ Thừa Tự Ông Nam Hải”. ”Với một bút pháp gọn gàng, thanh thoát, linh động mà uyển chuyển ”Kẻ Thừa Tự Ông Nam Hải” kể về đời sống chất phác, dịu hiền rất đáng mến của một gia đình chài lưới ở một làng duyên hải thuộc Trung Bộ Việt Nam với tất cả đặc điểm phong tục của người dân chài đất Việt sống chết với nghề truyền thống của mình. Tác phẩm không những được độc giả trong nước hoan nghênh, mà nhiều người nước ngoài (trong đó có công đồng sử dụng tiếng Pháp-Francophonore) qua đó cũng hiểu thêm đân tộc Viêt Nam với những đức tính tốt đẹp truyền thống.” (Nguyễn Q, Thắng-Tự Diển Văn Hoc -Bộ Mới Năm 2003-Hà Nội-Việt Nam)

Năm 1961 GS Cung Giũ Nguyên cho ra đời  một tiểu thuyết viết bằng tiếng Pháp Le Domaine Maudit-Đất Dữ- cũng do Arthène Fayard-Paris ấn hành. Le Domaine Maudit  kể  lại câu chuyện  của một gia đình thượng lưu Việt Nam bị đổ vỡ vì sự xâu xé giữa ý thúc hệ cũ và mới vào khoảng những năm 40-60 của thế kỷ XX. Le Domaine Maudit cũng đánh dấu một giai đoạn tác giả của nó phản tỉnh về những va chạm ý thức hệ giữa cũ và mới....    
   

Tôi rất băn khoăn khi thấy Trương Vũ vạm vỡ bước vào chủ đề “CUNG GIŨ NGUYÊN-TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM”, một chủ đề chưa từng được ai dám đề cập đến với một chiều sâu như Trương Vũ đang là nhà giải phẫu Le Boujoum, tác phẩm chủ lực của gs Cung Giũ Nguyên, một tác phẩm rất khó đọc. Chính Trương Vũ cũng phải thú nhân: ” Trong bài viết này tôi không nhằm làm công tác của một nhà phê bình văn học (tất nhiên là vậy). Tôi chỉ muốn đóng góp một ít thông tin về con người của tác giả và về bối cảnh để tác giả xây dựng nên tác phẩm (Le Boujoum).Cuốn tiểu thuyết được xây dựng trên một cấu trúc rất kỳ lạ...Mở những trang đầu của sách, người đọc có thể cảm nhận được điều đó ngay, khi đọc những câu rất đặc biệt mà ông trích dẫn từ cuốn The Hunting Of Snark của Lewiss Caroll

...Car le Snark bel et bien était un boujoum

figurez vous- Je ne sus pas  ce qu’il signifiait

alors: je ne suis pas ce qu’il signifie..        

Rằng Snark là đẹp và toàn hảo như một boujoum

Các bạn hãy hình dung đi

Trước đây tôi chẳng hiểu nó là gì

Bây giờ tôi chẳng phải là tôi hiểu nó là gì nữa...

Câu văn mở đầu Le Boujoum: “...Một vật lơ lửng trên vực thẩm được những sọi tơ mành giữ lại/...objet retenu au-dessus d’une gouffre par les fils abstraits- cũng là câu kết thúc của truyện Le Boujoum. Tác giả Cung Giũ Nguyên muốn nói gì qua ẩn dụ này? Phải chăng điểm khởi đầu về điểm kết thúc chỉ là một?

Thât lý thú khi khám phá tác giả Cung Giũ Nguyên cho đăng lại vài dòng trên bức hí họa ở bìa sau Le Boujoum, câu nói của một đệ tử thiền học Trung Quốc:

“ Trước khi theo Thầy lên núi học đạo, thấy núi là núi, thấy sông là sông. Khi học đạo thấy núi không phải là núi, thấy sông không phải là sông. Sau khi học đạo thấy núi cũng chỉ là núi, thấy sông cũng chỉ là sông...”.

Lúc sinh thời GS Cung Giũ Nguyên hiển thị hai cưc âm(-) và Cực dương (+) bằng một vòng tròn khác với đường thẳng của Tây phương. Theo mô hình của Cung Giũ Nguyên (vòng Tròn) Hai điểm cực dương và cực âm đứng sát vào nhau. Thật khó mà phân biệt đâu là cực dương, đâu là cực âm. Trong cõi vô cùng ấy, khó mà nhân được đâu là sự thật..Trong khi học đạo, người đệ tử Thiền nhìn sông núi qua lăng kính học đạo. Nhưng sau khi đắc đạo người học đạo trở lại chính mình, nhận chân được sự thật: sông trước sau gì cũng chỉ là sông, núi trước sau gì cũng chỉ là núi...

Trương Vũ đã tóm lược rất nhiều nội dung của Le Boujoum, phần còn lại độc giả sẽ tự tìm ra một con đường mới đi xuyên qua tác phẩm vĩ đại này, luôn luôn là một khu rừng thiêng còn cần nhiều khai thác và khám phá của nền văn học Việt và thế giới.

 Sau khi đọc ĐUỔI BÓNG HOÀNG HÔN của Trương Vũ, người đọc ghi nhớ mãi vết hằn chiến tranh khắc sâu vào tâm tư của mọi người, nó là nguòn cội chia rẽ dân tộc hôm nay: ”Hồi tưởng lại thảm kịch đó và cũng là lúc để người Việt Nam tự chiêm nghiệm chính mình về những gì đã làm, những gì đã không làm, những gì lẽ ra không nên làm...để xã hội được nhân bản hơn, tôn trọng quyền căn bản của con người và để người dân có tự do, có cơ hội sống một đời sống có phẩm cách...Chỉ có như thế cái thảm kịch như từng xảy ra tại Biển Đông sau năm 1975 sẽ không còn xảy ra cho đất nước Việt Nam trong tương lai nữa...”  

Với tư cách người cầm bút ở hải ngoại, tôi trân trọng ghi ơn tác giả Trương Vũ khi ông dám lên tiếng tố cáo sự va chạm giữa Ngòi Bút và Bạo Lực trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại và ông đã can đảm thú nhận “ở hải ngoại sống hết lòng với văn chương khó lắm”./.

Đào Như

Bác Sĩ Đào Trọng Thể

Chicago- Friday March 5- 2021

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Như thế, tựa sách không thôi, chúng ta đã hiểu là tác giả đang dùng một hình thức nghệ thuật ngôn ngữ để chuyển tải những gì mình muốn chia sẻ và truyền đạt bằng sự hiểu biết, kinh nghiệm sống và hạnh nguyện của người. Mà ở đó là những triết lý mang âm hưởng Phật giáo nhằm giải quyết vấn đề nhân sinh quan và vũ trụ quan của nhân loại.
Để kết luận bài điểm sách và điểm về Tác giả của quyển sách nầy, tôi xin dùng câu tục ngữ của người Nga để giới thiệu đến quý vị như sau: “Hạnh Phúc là những gì người ta đang có chứ không phải là những gì người ta đi tìm”. Vậy quý vị, nếu ai đó muốn có hạnh phúc thì cũng nên đọc sách nầy để tâm mình được an và thân được như ý.
Tóm lại, Tập thơ Âm Tuyết Đỏ Thời Gian của Nguyễn Lương Vỵ miêu tả hầu như trọn vẹn bao xúc cảm ký ức quy về một thực tại trường cửu trong 360 câu thơ, cùng 15 bài thơ ngắn như một dòng sống luân lưu tuôn trào tiếng kêu bi thiết vang vọng, và màu sắc biểu tượng trong suốt hành trình cuộc đời. Tập thơ Âm Tuyết Đỏ Thời Gian cũng là di sản cuối của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ.
Thật là ấm cúng, trong cại lạnh tháng Tư Chicago, trong không gian của dịch bịnh COVID-19, tôi vừa nhận được một sáng tác mới của Phạm Xuân Tích, một bạn văn từ Paris gửi đến. Mở ra thấy đó là tâp thơ “CÒN ĐÓ”, gồm những bài thơ với niềm tin yêu sâu sắc về đời.
Bằng những lời thơ bình dị, không làm dáng và ý thơ đậm đà cùng lối gieo vần nhẹ nhàng, nhà thơ Hoàng-Phong-Linh Võ Đại Tôn đã trải rộng nỗi lòng của Ông với Quê Hương, với đồng đội, với bằng hữu. Ông cũng dành cho vợ trái tim nồng ấm và truyền cho con ý chí bất khuất. Và trên tất cả, Hoàng-Phong-Linh cho người đọc thấy rõ sự vi diệu của niềm tin.
Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm chuyển tải nội dung những mẫu chuyện về chân thiện mỹ trong đời sống xã hội. Khi “Gõ Cửa, Cửa Sẽ Mở”, như khi “Mở lòng, lòng thanh thản”; Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm đề cao tiếng cười, bởi vì “Hãy Cho Nhau Tiếng Cười”, cũng bởi vì tiếng cười là nhu cầu, là niềm tin yêu của đời sống
Nội dung Tuyển Tập HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG rất đa dạng, phong phú. Ngoài việc những nhân vật có tiếng tăm viết giới thiệu tác giả Kiều Mỹ Duyên, như nhà văn Huy Phương, văn thi sĩ Chinh Nguyên, nhà báo Mặc Lâm, và nhà báo Nguyễn Lệ Uyên, tuyển tập thể hiện một sự bao gồm rộng lớn, sự quan tâm đối với xã hội về mọi mặt, mọi vấn đề,
Khi đọc bản thảo Giọt Nước Nghiêng Mình của Nguyễn Văn Sâm tôi thấy mình bồi hồi cảm động như đang được tắm lại trong một dòng sông cũ, nơi phát nguyên dòng văn chương hiện đại của Việt Nam. Chính từ chỗ phát nguyên này, trong thế kỷ 20 tôi đã đọc Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên…, họ cùng nhiều bậc tiền bối nữa đã làm thành nền văn học miền Nam với tính chất riêng của nó.
“Vòng Đai Xanh” là cuốn sách thứ hai mà tôi nhận được từ nhà văn Ngô Thế Vinh gửi tặng, cuốn kia là “Mặt Trận Ở Sài Gòn,” cả hai đều được xuất bản vào năm 2020 tại Hoa Kỳ bởi NXB Văn Học Press và Việt Ecology Press. Tất nhiên, nhà văn Ngô Thế Vinh không chỉ có chừng ấy sách mà theo danh sách liệt kê trong “Vòng Đai Xanh” thì ông có tới ít nhất 17 cuốn sách bằng tiếng Anh, tiếng Việt hoặc song ngữ Việt-Anh được xuất bản từ năm 1964 ở trong nước và tại hải ngoại cho đến năm 2020. “Vòng Đai Xanh” là cuốn tiểu thuyết đã đoạt giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc vào năm 1971 tại Sài Gòn. Theo nhà văn Ngô Thế Vinh trả lời phỏng vấn của tạp chí Bách Khoa số 370 vào ngày 1 tháng 6 năm 1972, thì lúc đầu ông muốn “viết một cuốn sách, không phải tiểu thuyết, sưu khảo về vấn đề cao nguyên,” nhưng vì để tránh rắc rối kiểm duyệt nên ông phải chuyển sang viết tiểu thuyết để có thể được phép xuất bản. Và có lẽ vì vậy mà trong cuốn tiểu thuyết này tên của các nhân vật cũng không phải là tên thật
Cảm động nhất và bùi ngùi nhất là phóng sự của Kiều Mỹ Duyên về người trung đội trưởng nghĩa quân quận Chương Mỹ tỉnh Chương Thiện năm 1971. Sự việc được trung tướng Ngô Quang Trưởng lúc ấy là Tư Lệnh Quân Đoàn IV kể lại cho người nữ ký giả biết.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.