Hôm nay,  

19/12/202011:25:00(Xem: 3348)


 Đi làm về, giày chưa kịp tháo, túi ăn vứt ngoài sân, y khệ nệ bê thùng sách vào nhà rồi vội vàng mở bung ra. Những quyển sách xếp ngay ngắn trong thùng, mùi giấy mới thơm thơm, y lấy một quyển nâng niu tựa như người ta nâng hoa. Đoạn y hít hít mùi giấy và hôn lên bià sách. Y lật ngược lật xuôi, lật xem lướt qua bên trong rồi ôm lấy quyển sách như thể một báu vật của trần gian.   Đây chẳng phải là lần đầu y in sách, nhưng cái cảm giác hồi hộp, háo hức vẫn như thuở ban đầu.

Y còn đang sung sướng lâng lâng thì nghe tiếng vợ càm ràm:

- Vậy là chuẩn bị thêm tiền để gởi sách đi, sách vở chữ nghĩa vô tích sự, chỉ tổ tốn tiền, tốn thời gian mà chả được gì! Thi sĩ, văn sĩ là cái giống gì  hổng biết? người ta làm bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ tiền ròng bạc chảy. Bạn bè đồng trang lứa có đứa vào hàng tướng sĩ, nghị sĩ gia thế lớn, quyền lực mạnh, vợ con sung sướng nở mặt nở mày. Ông thì lẹt đẹt hậu đậu với cái mớ chữ nghĩa văn chương ấm ớ, thà rằng làm quân sĩ còn có lương lậu, làm tu sĩ được cúng dường, thậm chí làm liệt sĩ cũng còn có tiền tử tuất.

Đằng này ông làm thi sĩ, thấy mà phát rầu! 

 Cơn hưng phấn của y tự nhiên tụt xuống, mặc dù từ lâu y không tranh cãi với đàn bà, nhất là với vợ. Chuyện nhà cửa tiền nong y để mặc cho vợ làm gì thì làm, tiền lương vợ quản lý, y chỉ mỗi đi cày, cày về rồi rị mọ viết. Nhiều lần vợ bảo dẹp ba cái chuyện văn chương chữ nghĩa đi, nhưng y chẳng thể nghe theo:

 - Em bảo gì cũng được, riêng việc này thì tôi không thể chìu em được, viết lách chẳng phải là công việc, càng không phải để kiếm tiền. Nó là sự đam mê, nó là cái nghiệp, đã là nghiệp thì muốn hay không muốn cũng không được. Con chim bay được là nhờ đôi cánh, con cá lội được là nhờ vây, anh sống được là nhờ chữ nghĩa, nếu bỏ chữ nghĩa đi thì đời này vô vị lắm! Em muốn làm gì cũng được nhưng đừng can thiệp cái thú vui này của anh! 

 Vợ y lầu bầu:

 - Bọn gái lầu xanh bán thân cho khách mua vui còn có tiền, mấy ông thi sĩ vắt sức vắt hồn ra viết làm vui cho thiên hạ, chẳng những chẳng có xu nào mà còn phải bỏ tiền túi in sách, gởi tặng thiên hạ. Đời sao có thú vui lạ lùng, đem cái vui đến cho thiên hạ mà mình laị hao tài tốn của? trong muôn người may ra có vài người kiếm được chút cháo từ những giải thưởng nọ kia.

Y bảo vợ:

 - Người ta viết không phải mong đợi giải thưởng, cái được của những kẻ viết, người ngoại đạo không thể hiểu được đâu! Tỷ như đàn bà mang thai, cái mệt nhọc khổ sở ấy đàn ông không sao cảm nhận nổi. Rồi khi sanh con ra, tình thương của người mẹ dành cho hài nhi đó lớn như thế nào bọn đàn ông cũng vô phương thấu hiểu! 

 Vợ quày quả bỏ đi xuống bếp lo bữa cơm chiều, y vẫn ngồi bên thùng sách mới, mân mê, ve vuốt những quyển sách. Đoạn y lật một trang sách mà không có chủ ý lựa chọn rồi đọc:”… Chữ nghĩa muôn đời vẫn ảo diệu lắm, nó có sức hút đầy ma lực, dính vào khó mà bỏ được. Có kẻ vì chữ nghĩa mà danh nổi như cồn, cũng có kẻ vì chữ nghĩa mà vướng họa. Người đẻ ra chữ nghĩa, chữ nghĩa vận vào người, đừng lấy làm chơi! Mà rõ ràng chữ nghĩa là một cuộc chơi, cuộc chơi nhọc nhằn nhưng nhiều hứng thú. Cuộc chơi này có kẻ thanh cao nhưng cũng có không ít kẻ làm ô uế chữ nghĩa, xấu cả người chơi. Những kẻ nhân cuộc chơi chữ nghĩa để xu phụ quyền thế, uốn gối khom lưng trước thế lực chính trị, viết lời xu nịnh để kiếm rượu thịt, hoặc giả đổi trắng thay đen, ngậm máu phun người, đánh phá kẻ sĩ để kiếm lộc từ chốn quan trường, đem thân dựa quan quyền hòng được chiếu cố…” y đọc say sưa mấy trang liền, còn đang sung sướng với những con chữ trên trang giấy, tâm tư như hoà vào những dòng chữ ấy thì giật mình nghe tiếng vợ.

 - Đi tắm rửa thay đồ để ăn cơm, đọc sách không làm no bụng được đâu! 

 Lần này thì y không phân bua  gì cả, gấp trang sách laị và lặng lẽ đi vào nhà tắm.

 Nửa đêm y mơ màng, những quyển sách lung ling chấp chới như muôn ngàn cánh bướm lớn và đầy màu sác. Những quyển sách lung linh vây quanh y, ánh sáng diệu kỳ từ những trang sách tỏa ra làm cho gương mặt y rạng rỡ. Y với tay toan chạm vào những quyển sách ấy, ngón tay vừa chạm vào thì lập tức luồng ánh sáng truyền thẳng vào người y, cả thân y sáng như điện, từng tế bào loé lên, nhấp nháy liên lỉ, những tế bào sanh diệt cứ sáng tắt thay nhau. Thân thể y ảo diệu như con sứa dưới ánh đèn phản quang ở thuỷ cung. Tâm thần y sảng khoái cực độ, y như hoàng tử lạc giữa vườn địa đàng, mặc dù đang ngủ nhưng y thoáng nụ cười hạnh phúc trên môi. Khi y với tay chạm vào hình ảnh những quyển sách lung linh và ánh sáng xuyên qua người y, cứ ngỡ như cảnh tượng ngón tay của chuá chạm ngón tay Adam để tạo linh hồn cho con người, cái phút giây ảo diệu siêu thực tràn đầy hoan hỷ. Y còn ngất ngây trong cơn mơ thì nghe tiếng thì thầm.

 - Cậu chủ đã thổi hồn vào những trang giấy, cậu chủ cho ta sự sống. Mỗi cuốn sách có một sinh mệnh riêng, nếu con người thiên sai vạn biệt thì bọn sách chúng mình cũng thế, có cuốn nào giống cuốn nào đâu, đó là sự phong phú của thế giới chữ nghĩa. 

 Một quyển sách có bìa màu xanh da trời với hình minh họa của một họa sĩ nổi tiếng vẽ hình một chàng trai nằm dài trên thảo nguyên, miệng ngậm cộng cỏ, xa xa cô gái tết hoa dại đội đầu. Quyển sách thì thầm.

 - Gần đây cậu chủ làm thơ rất ít, thậm chí không muốn làm thơ nữa. Cậu chủ bảo bây giờ thơ nhiều quá, nhiều như lá thu đổ nhưng nhạt, phần nhiều tả tình vu vơ nhăng nhít, tả cảnh rất xoàng…Bọn dựa hơi chính trị thì không đáng để nói, chỉ viết ca tụng tâng bốc chứ chẳng có giá trị nghệ thuật. Cậu chủ phàn nàn bọn làm thơ tân hình thức, hậu hiện đại, siêu tưởng, trừu tượng  là những kẻ phá hoại thơ. Những loại thơ ấy đọc nghe lôm côm, chữ nghĩa lởm chởm nhưng bánh xe bị xì hết hơi mà chạy trên mặt đường sỏi đá. Bọn họ phá bỏ quy tắc ngữ pháp tối thiểu, viết tùy tiện, ngắt câu, xuống hàng lộn xộn, tên riêng cũng chẳng cần viết hoa…Bọn họ cho những cái sai ấy là sáng tạo, là hiện đaị. Hình thức là thế, nội dung thì vô nghĩa, ngô nghê, dung tục thậm chí rất bẩn thỉu… Ấy thế mà bọn họ đắc ý cho là xuất chúng, là phát minh mới…Có lẽ từ đây mà cậu chủ không muốn làm thơ nữa, khi có cảm hứng cũng viết nhưng cậu chủ giấu đi chứ không phô bày ra như trước đây.

 Một quyển sách khác với bià màu vàng tươi, những bông hoa li ti lấp lánh như hoa nắng, những đoá hoa nhỏ xíu nhưng đủ màu sắc góp lời:

 - Cậu chủ thường viết bài với khí vị thời gian và phong thái vô cùng lãng đãng, man mác tình sầu, nước non u mặc… nên không được nhiều người thích. Thời đại hôm nay người ta thích sắt đá máu lửa, mãnh lực quyền tiền, tình thù bá đạo… không chạy theo thị hiếu thị trường, cậu chủ đi con đường riêng của mình, dẫu có vắng vẻ độc hành nhưng cậu chủ quyết không đổi thay.

 Cứ thế, các quyển sách lần lượt nêu tâm sự, giấc mơ hồng cứ kéo dài cho đến khi đồng hồ báo thức reo vang. Sáng chủ nhật trời thật đẹp, quán cà phê đầy nhóc khách. Y cùng với nhóm bạn thân ngồi nhâm nhi ly cà phê và tán gẫu, một người trong nhóm nói.

 - Nghe nói văn sĩ in sách mới, có bán được quyển nào chưa vậy? thời đaị công nghệ thông tin bùng nổ, mạng Internet phủ sóng khắp mọi nơi, thế mà các ông văn sĩ, thi sĩ còn in sách làm chi hổng biết nữa? quả là gan như chiến sĩ. Nếu bọn họ viết chuyện cười, chuyện hài hước, tiếu lâm, chuyện cà kê dê ngỗng thì là tếu sĩ. Còn giả như bọn họ dám viết về dân oan nước loạn, quan quyền nhũng nhiễu, côn đồ kết cấu với các thế lực chính trị, triều đình khi dân, đạo đức suy đồi, văn hoá lai căng… thì bọn họ quả là có tấm lòng nghĩa sĩ, can đảm như dũng sĩ, chí khí tựa tráng sĩ, sử sẽ nhìn nhận họ là kẻ sĩ. 

 Một người bạn khác thêm vào

 - Trong số các thi sĩ, văn sĩ ấy cũng có một số ít trở thành tử sĩ vì ngòi bút của họ 

Có một người bạn xưa nay vốn ít nói, kiệm lời, phần nhiều bạn bè gặp nhau ai cũng nói tràng giang đại hải mà anh ta chỉ lắng nghe, đôi khi tủm tỉm cười chứ anh ta chẳng bao giờ phân trần hay nói năng chi. Mấy người bạn kia lắm lúc bực mình, quát

 - Ai cũng góp lời cho vui, sao mày chỉ biết nghe mà không chịu nói? Mày có phải con cò đâu mà chỉ biết lắng cổ nghe.

 Bị chửi mà anh ta vẫn cười chứ chẳng cãi, vậy mà hôm nay bất thình lình lên tiếng:

 - Bọn họ đa phần chỉ viết chuyện tình, chú trọng nghệ thuật, ca ngợi cái đẹp, tạo tác cái đẹp để dâng cho đời kể cũng là nghệ sĩ. Tôi biết trong số họ có một số người sáng tác để thể hiện cái tâm, nói lên cái chí của mình. Những người ấy xem nhẹ cuộc đời này, tự coi mình như kẻ lãng du, đến ở tạm rồi đi. Họ chẳng tranh đua giành giật gì với người đời, có những thứ người đời cho là quý thì những tay du sĩ ấy cười khẩy. Bọn họ là những tay du sĩ trong cõi đời nhiễu nhương ô trọc này. 

 Một người bạn khác vốn là đaị gia mới nổi, anh ta thành công trên thương trường. Hôm nay bạn bè gặp mặt, anh ta cũng tranh thủ đến tham gia và cái chính là để khoe sự giàu có của mình, nghe mọi người bàn về sĩ, anh ta hợm mình:

 - Sĩ gì thì sĩ, nhưng có thực mới vực được đạo. Đời cũng thế, phải có tiền, không tiền thì đời khi dễ mình. Văn sĩ, thi sĩ là cái danh hão, hữu danh vô thực, chi bằng anh theo tôi chơi chứng khoán, làm đại lý buôn sỉ thì may ra mới ngóc đầu dậy được, lúc đó thì anh tha hồ in sách, cầm bằng cứ rị mọ viết lách thì suốt đời chỉ là anh hàn sĩ mà thôi! 

 Y chiêu một ngụm nhỏ cà phê, cái đắng thấm đầu lưỡi lan toả vào từng tế bào, may nhờ cái vị ngọt của sữa đặc dung hoà bớt cái đắng, mùi thơm của cà phê quả thật khó cưỡng, dù đắng, dù cồn cào trong bụng nhưng y vẫn thích uống cà phê mỗi sáng. Cứ như thế, y cầm ly cà phê trên tay, thỉnh thoảng laị hớp ngụm nhỏ và lắng nghe đám bạn bàn luận, góp ý. Lâu lâu y cũng thốt lên:” thế à” để mọi người biết là y còn uống cà phê chứ chưa ngủ gục. Y tuyệt nhiên không bàn luận dù là đồng tình hay phản đối, những lời góp ý dù nghịch tai hay thuận tai y cũng cười khì mà thôi. Kể cũng lạ, đám bạn thao thao bất tuyệt, người nào cũng cho là mình phải, nói lời thật, mà hình như bọn họ cứ nói chứ không hề quan tâm có ai nghe hay không nghe. Những bàn bên cạnh khách khứa cũng oang oang không kém, tiếng nói, tiếng cười hoà với tiếng nhạc xập xình, màn hình ti vi loang loáng cảnh ca sĩ 8x, 9x nhảy múa uốn éo loạn xà ngầu. Nhóm ca sĩ nhuộn tóc vàng, đeo kính áp tròng mắt xanh, quần áo te tua, giọng lớ lớ, ngọng nghịu, ca từ ngô nghê… y cố nghe để hiểu nhưng không biết bài hát muốn nói gì. Những ca sĩ, kịch sĩ, vũ sĩ cứ như hình nhân nhân bản hàng loạt, tất cả  na ná như nhau cả. Y không tài nào phân biệt được ai với ai, nghe giọng hát thì càng chịu thôi, cứ ngỡ từ một họng mà ra. Những nhạc sĩ bây giờ vốn sống không có, vốn từ nghèo nàn, ngôn ngữ lệch lạc hiểu biết ít ỏi… cho nên sáng tác ra những ca khúc dú ép chín non. Người nghe đôi khi cũng ư ử hát theo chứ thực tình cũng chẳng để ý ca từ hay nội dung. Người nghe ở quán này hay quán khác, ở thành phố này hay thành phố khác của xứ sở này cũng đều như thế cả! Nghe có mà nghe, miễn có âm thanh xập xình, tưng tưng là đủ rồi. Đôi lúc y cũng lẩm nhẩm theo lời nhạc, cũng gật gật như thẩm thấu nhưng thực tình y cũng mù âm nhạc, có biết gì nhạc lý đâu, chẳng qua y lắng nghe ca từ thôi. Y còn miên man nghĩ vẩn vơ, đời bây giờ nhiễu nhương lắm, đòi hỏi chất lượng là việc không thể có. Những bậc nhân sĩ, chí sĩ như sao buổi sáng, người liêm sỉ càng hiếm, duy có bọn bệnh sĩ ( diện) thì nhiều vô số. Bạn bè của y đa số cũng là những tay bệnh sĩ nặng nề, nào khoe nhà to xe lớn, làm ăn phát đạt, con cái thành tài, du hí đông tây…cái bọn bạn bệnh sĩ ấy nhìn y cũng khác, có kẻ còn tế nhị giữ cái sĩ cho người khác, nhưng cũng có đứa thô lỗ lắm.

 - Sách của anh có nấu chín nổi nồi chè không? tiền của tôi thì có thể đấy! 

 Y không trách gì kẻ ấy nhưng y biết anh ta cũng có chút thật, quả thật anh ta có thể lấy tiền nấu chín nồi chè như chơi, anh rất giàu. giàu kinh khủng lắm, bao nhiêu rừng cây cạo sạch, núi đồi san xẻ để bán, sản vật tự nhiên biến thành biệt phủ, thành tài khoản lớn trong nhà băng…Việc anh ta đem tiền nấu chè quả thật dễ như chơi. Thói đời càng giàu bệnh sĩ càng cao, càng mạnh vì gạo bạo vì tiền, biết thế nên y chẳng thèm trách chi. Khi mới viết lách, y những tưởng sách mình sẽ được bạn bè ủng hộ, sẽ được thiên hạ trân qúy nào ngờ sự thật phũ phàng quá, từ đó y không còn dám khoe sách nữa, có in thì cũng chỉ in chút chút để giải toả cái tình mê sách mà thôi! 

 Một đêm nọ, khi còn mơ màng trong cơn ngái ngủ, y nghe tiếng vợ cảnh báo:

 - Tiền lương tháng rồi anh giấu ở đâu? có phải đem in sách mới? em xin ông văn sĩ tha cho em, đừng lấy tiền lương in sách nhé! Em không muốn bọn chủ nhà băng thâu hồi nhà, xe đâu! đời em lỡ lấy anh rồi, không chừng sẽ thành khất sĩ thì tội thân em.

 

TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 12/2020

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.